Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH TRIỂN KHAI MẠNG MAN-E TẠI VNPT

CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH TRIỂN KHAI MẠNG MAN-E TẠI VNPT

Tải bản đầy đủ

56

Hình 3.1: Cấu trúc phân lớp mạng MAN-E
3.2 MẠNG MAN-E DỰA TRÊN CÔNG NGHỆ MPLS
Không như cách thức định tuyến truyền thống, MPLS sử dụng các nhãn để di
chuyển lưu lượng qua các miền (domain) MPLS. Khi các gói đi vào domain MPLS, các
nhãn được gán vào các gói tín, và mỗi nhãn (không phải header IP) xác định chặng tiếp
theo. Các nhãn sẽ được loại bỏ tại lối ra của mỗi domain MPLS. Khi một gói tin có gán
nhãn đến một bộ phận định tuyến chuyển mạch nhãn LSR (Label Switching Router), nhãn
đến sẽ xác định đường dẫn của gói tin này trong mạng MPLS. Việc hướng tiếp đi theo
nhãn MPLS sẽ thay thế nhãn này bằng một nhãn ra thích hợp và gửi gói tin đến chặng tiếp
theo.
Các nhãn được gán vào các gói tin dựa trên việc phân nhóm hoặc theo các lớp
tương đương chuyển hướng đi FEC (Forwarding Equivalence Classes). Các gói tin thuộc
về cùng một lớp FEC sẽ được xử lý như nhau. Hệ thống hướng đi và tra cứu MPLS cho
phép phương thức định tuyến điều khiển xác định (Explicit Control Routing), dựa trên cơ
sở địa chỉ nguồn và đích, cho phép triển khai các dịch vụ IP mới trên mạng. Chuyển mạch
nhãn đã từng được sử dụng cho kỹ thuật chuyển đi. ATM sử dụng cùng một kỹ thuật để
hướng gói tin đi thông qua trường nhân dạng kênh ảo/ đường dẫn ảo VPI/ VCI mà không
cần quan tâm đến tải (payload) IP.

Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

57

Hình 3.2: Chèn header trong MPLS
Tiêu chuẩn MPLS được IETF phát hành, phát triển từ chuyển mạch nhãn Cisco
(Cisco Tag Switching). IETF khuyến nghị sử dụng chuyển mạch nhãn dựa trên header
chèn 32 bit bao gồm nhãn kích thước 20 bit, trường Exp 3 bit, trường Stack 1 bit, trường
TTL 8 bit như trên hình 3.2.

Hình 3.3: Gói tin gán nhãn MPLS
Trường stack 1 bit sử dụng để chỉ thị rằng đã đến đáy của stack sử dụng trong
trường hợp các nhãn được tổ chức theo ngăn xếp (tức là MPLS – VPN hoặc bảo vệ tuyến
kết nối). Các bit Exp sử dụng để Mang thông tin liên quan đến chất lượng dịch vụ. Các
nhãn được chèn thêm vào giữa header lớp 2 vào lớp 3 hoặc trong trường VCI/VPI trên
các mạng ZTM như hình 3.3.
3.2.1 Thiết kế lưu lượng MPLS
Mặc dù chuyển mạch nhãn cung cấp các công nghệ nền cho việc hướng đi gói tin
thông qua các mạng MPLS, thì cũng không thể cung cấp tất cả các thành phần để hỗ trợ
thiết kế lưu lượng như là chính sách thiết kế lưu lượng. Thiết kế lưu lượng TE (Traffic
Engineering) nhằm đến quá trình lựa chọn các đường dẫn được chọn bởi lưu lượng dữ
Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

58
liệu để thuận tiên cho các quá trình khai thác mạng tin cậy và hiệu quả, trong khi tối ưu
đồng thời việc sử dụng có hiện quả tài nguyên và hiệu suất thực hiện lưu lượng. Mục đích
của TE đó là tính toán đường dẫn từ nút này đến nút kia sao cho đường dẫn đó không vi
phạm các ràng buộc như các yêu cầu về quản trị/ băng thông và là tối ưu theo một số
thước đo vô hướng. Một khi đường dẫn đã được tính, TE có trách nhiệm cho việc thiết lập
và duy trì trạng thái hướng đi kèm theo đường dẫn đó.
Các thành phần thiết kế lưu lượng
Bộ định tuyến có khả năng hỗ trợ MPLS được gọi là bộ định tuyến chuyển mạch
nhãn LSR. Bộ định tuyến LSR đứng trước bộ định tuyến LSR cuối cùng trong một mạng
MPLS được gọi là chặng áp chót. Mỗi đường dẫn MPLS đầu cuối – đầu cuối được gọi là
đường dẫn chuyển mạch nhãn LSP (Label Switching Path). Mỗi đường dẫn LSP bắt đầu
tại bộ định tuyến LSR và kết thúc tại bộ định tuyến cuối.
Các giao thức định tuyến gateway bên trong IGP (Interior Gateway Protocol)
không đủ khả năng cho việc thiết kế lưu lượng. Quyết định định tuyến hầu hết là dựa trên
các thuật toán đường dẫn ngắn nhất mà nói chung sử dụng các thước đo thêm vào nhưng
không tính đễn mức độ còn dư băng thông hoặc đặc tính lưu lượng. Cách dễ nhất để cung
cấp các tính năng này đó là sử dụng mô hình xếp chồng (overlay) cho phép các topology
ảo trên mạng vật lý. Mỗi topology ảo được xây dựng từ các đường kết nối ảo hiện ra như
là các đường kết nối vật lý theo giao thức định tuyến. Hơn nữa, mô hình xếp chồng còn
có khả năng cung cấp:




Định tuyến trên cơ sở ràng buộc.
Chức năng lập chính sách lưu lượng và tái lưu lượng.
Khả năng tồn tại của các đường kết nối vật lý…

Các khả năng này cho phép di chuyển dễ dàng lưu lượng từ đường kết nối bị nghẽn
sang đường kết nối ít nghẽn hơn. MPLS là một mô hình xếp chồng sử dụng bởi TE, nó
cung cấp:


Các đường dẫn chuyển mạch nhãn xác định không bị ràng buộc như các giao



thức định tuyến IGP truyền thống.
Các đường dẫn chuyển mạch nhãn LSP có thể được duy trì có hiệu quả.
Các đường trục lưu lượng có thể được khởi tạo, và ánh xạ vào các đường dẫn



LSP.
Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

59



Một tập các thuộc tính có thể liên quan đến các đường trục lưu lượng.
Tập các thuộc tính có thể liên quan đến các tài nguyên mà ràng buộc việc sắp
đặt các đường dẫn LSP và các đường trục lưu lượng đi qua chúng.

MPLS cho phép cả việc tập hợp và phân tán lưu lượng khi mà việc hướng đi gói
tin IP, dựa trên cơ sở đích, chỉ cho phép tập hợp. “Định tuyến trên cơ sở ràng buộc” và
bảo vệ đường trục có thể tích hợp dễ dàng qua MPLS, Các thành phần sau có tác động
đến việc hỗ trợ quá trình TE:


Phân tán thông tin – gửi thông tin về topology mạng và các ràng buộc gắn liền



với các tuyến kết nối (tức băng thông).
Thuật toán lựa chọn đường dẫn – tính toán và lựa chọn các đường tốt nhất thỏa



mãn các ràng buộc.
Khởi tạo tuyến – sử dụng giao thức RSVP – TE mở rộng để báo hiệu khởi tạo



các đường dẫn chuyển mạch LSP.
Điều khiển chấp nhận đường kết nối - quyết định đường hầm nào có thể có tài




nguyên.
Điều khiển TE – thiết lập và duy trì các đường trục.
Hướng dữ liệu dọc theo đường dẫn.

Việc phân tán thông tin trong TE phụ thuộc vào các giao thức IGP để phân tán/
tràn ngập dữ liệu liên quan đến tài nguyên còn dôi dư của các tuyến kết nối bao gồm băng
thông (phân cấp từ 0 đến 7), các thuộc tính đường kết nối,… Việc phân tán thông tin thực
hiện trên mối SLR theo chu kỳ hoặc theo sự kiện nào đó như thay đổi băng thông, cấu
hình đường kết nối, hỏng hóc.
Thuật toán trên cơ sở ràng buộc sử dụng để tìm đường dẫn tốt nhất cho mối đường
hầm LSP. Nó là được sắp đặt bở bộ định tuyến phía đầu của đường hầm chỉ khi cần một
đường hầm mới hoặc đường dãn chuyển mạch nhãn của đường trục hiện có bị hỏng hoặc
cần tối ưu lại đường trục hiện có.
Bộ định tuyến phía đầu sẽ bắt đầu quá trình báo hiệu khởi tạo đường dẫn ngắn nhất
có ràng buộc – tức là một LSP. Thiết lập đường dẫn dựa trên các bản tin RSVP – TE. Một
giao thức khác đó là CR – LDP cũng được sử dụng cho việc báo hiệu khởi tạo đường.
Tuy nhiên LDP hoạt động theo kiểu connectionless, do vậy trong nhiều trường hợp để
đảm bảo chất lượng dịch vụ, giao thức RSVP được sử dụng thay thế
Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

60
3.2.2 Hồi phục đường hầm
Độ tin cậy của mạng là phần bắt buộc đối với mạng tốc độ cao, đảm bảo chất
lượng dịch vụ. Sự gián đoạn có thể xảy ra vì những lý do như tắc nghẽn trên đường LSP
nào đó, đường kết nối hỏng, nút mạng hỏng hoặc thay đổi quản trị trên một LSP nào đó.
Một trong những tính năng phổ biến nhất của MPLS – TE là khả năng cung cấp lưu
lượng không bị gián đoạn qua một LSP. Bảo vệ đường dẫn (path protection) có thể đạt
được tại nhiều lớp khác nhau trong ngăn xếp giao thức:


Lớp vật lý (như SONET với chiến lược APS – Automatic Protection Switch).
IP (như giao thức định tuyến IGP, BGP thay đổi chặng kế tiếp nếu như có thay



đổi về topology).
MPLS (thực hiện bởi bộ định tuyến phía đầu phụ thuộc vào sự thay đổi



topology).
Trong ngữ cảnh đang xét là MPLS – TE, có một số lựa chọn cho việc hồi phục





đường dẫn.
Định tuyến lại từ bộ định tuyến phía đầu (head – end reroute).
Định tuyến nhanh lại trên cơ sở bảo vệ tuyến kết nối – Fast reroute (link



protection).
Định tuyến nhanh lại trên cơ sở bảo vệ nút – Fast reroute (node protection).



3.2.2.1 Đinh tuyến lại từ bộ định tuyến phía đầu
Quá trình này được tính đến khi có một trong hai sự kiện: thông báo từ RSVP – TE
rằng đường dẫn không còn duy trì được (tức là nghẽn) hoặc thông báo bởi IGP về sự thay
đổi topology mạng. Phụ thuộc vào từng sự kiện, bộ định tuyến phía đầu sẽ xây dựng lại
cơ sở dữ liệu TE mới sau khi cắt bỏ các tuyến kết nối hoặc các vùng hỏng, nghẽn, báo
hiệu lại một đường dẫn mới với kiểu “shared – explicit”. Kiểu này cho phép đường dẫn
mới được lập nên trên cơ sở có thể sử dụng một số tuyến kết nối cũ.
Do quá trình thực hiện định tuyến lại liên quan đến nhiều quá trình xử lý khác nhau
nên thông thường thời gian cho việc định tuyến lại theo phương án này có thể lên đến vài
giây. Thời gian tiêu tốn này không thích hợp cho một số ứng dụng. Trong khi đó MPLS
FRR cung cấp cơ cấu bảo vệ nhanh hơn nhiều (dưới 50msm tuy rằng thời gian tổng cộng
có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn 50ms còn tùy thuộc vào phần cứng, số lượng đường hầm và
số lượng mạng trong đó).
Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

61
3.2.2.2 Bảo vệ tuyến kết nối FRR
FRR (Fast ReRoute) thiết lập thủ tục cho phép định tuyến lại xung quanh tuyến kết
nối bị hỏng. Đường dẫn LSP được đinh tuyến đến chặng tiêp theo sử dụng đường hầm dự
phòng đã được xác lập trước. Đường hầm dự phòng phải được cấu hình sao cho LSP có
thể đến được bộ định tuyến phía dưới ở chặng tiếp theo mà không đi qua tuyến kết nối
đang hỏng. FRR cho việc bảo vệ tuyến kết nối chỉ phục vụ cho việc bảo vệ tuyến kết nối
xác định.

Hình 3.4: Luồng gói tin/nhãn khi thực hiện FRR cho bảo vệ tuyến kết nối
Như hình 3.4 ở trên có thể thấy tuyến kết nối từ R2 sang R3 được dự phòng FRR.
Khi xuất hiện sự cố trên tuyến kết nối R2 và R3, các gói tinh đi từ R1 đến R6 sẽ được
chuyển sang đường dự phòng theo tuần tự R1, R2, R4, R3, R5, R6. Khi đó nhãn cho các
gói tin từ R2 đến R3 được gán là 2001 trong trường hợp bình thường sẽ được bảo toàn và
được bao bởi nhãn 1200 khi chuyển đến R4. Tại R4 nhãn 40 sẽ được loại bỏ và gói tin lại
có nhãn 2001 chuyển đến R3.
3.2.2.3 Bảo vệ nút FRR

Hình 3.5: Luồng gói tin/nhãn khi thực hiện FRR cho bao vệ nút
Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

62
Như hình 3.5 cho thấy đường dẫn dịch vụ LSP là R1, R2, R3, R5, R6. Nếu kế
hoạch bảo vệ nút R3 thực hiện thì có thể có các đường dự phòng cùng qua nút R3 như
sau: 1) R2, R4, R5, R3 hoặc 2) R2, R4, R5. Trong trường hợp đầu, đường dẫn LSP dự
phòng sẽ là R1, R2, R4, R5, R5, R5, R6. Tuy nhiên trong trường hợp này đường kết nối
R3 và R5 lưu lượng trên đó đã bị nhân đôi, vì vậy không phải là phương án tối ưu.
Trường hợp sau khi đường dẫn dự phòng là R1, R2, R4, R5, R6 là tối ưu và được gọi là
“dự phòng theo chặng tiếp – tiếp theo” hay bảo vệ nút. Bảo vệ nút thực sự là phức tạp hơn
bảo vệ khi R2 cần phải biết về nhãn được sử dụng trên tuyến kết nối là R3 và R5, khi R5
mong muốn nhân được nhãn chính xác dù thông qua đường dự phòng. Việc sử dụng một
đối tượng mở rộng Route Record sẽ cho phép R2 học được nhãn này.
3.2.3 Hỗ trợ chất lượng dịch vụ trong mạng MPLS
Có hai loại kiến trúc để bổ sung cho khả năng chất lượng dịch vụ QoS đó là các
dịch vụ tích hợp (IntServ) và các dịch vụ phân biệt (DiffServ). Các dịch vụ IntServ duy trì
chất lượng dịch vụ QoS đầu cuối – đầu cuối cho mỗi một hoặc một nhóm luồng (flow)
với sự trợ giúp của giao thức RSVP. Trong mô hình DiffServ, mỗi gói tin khi vào mạng
hỗ trợ DiffServ sẽ được nhóm lại thành một số các lớp nhỏ. Mối lớp có màu hoặc được
đánh dấu liên quan (sử dụng các bit DSCP). Đây chính là việc phân loại gói tin có khả
năng mở rộng và đảm bảo băng thông cũng như đỗ trễ xác định mạng lõi. Mỗi nút mạng
trong mạng lõi sẽ được áp đặt các chính sách bỏ bớt hoăch xếp hàng khác nhau cho mọi
gói tin, dựa trên dấu mà gói tin mang (xử lý theo từng chặng – PHB Per Hop Behavior).
3.2.3.1 MPLS kết hợp DiffServ
Trong kiến trúc MPLS và DiffServ, các gói tin được đánh dấu với DSCP sẽ đi vào
mạng MPLS và phương thức PHB là áp đặt bởi mọi LSR dọc theo đường dẫn gói tin. Khi
các LSR không biết chút nào về header IP, phương thức PHB đạt được bằng cách xem xét
các thông tin khác. Có hai cách tiếp cận thường được sử dụng để đánh dấu lưu lượng qua
mạng MPLS trong vấn đề xử lý QoS. Trong phương thức thứ nhất, thông tin màu
DiffServ được ánh xạ vào trường EXP của header chèn MPLS. Trường này cho phép
đánh dấu lên đến 8 loại chất lượng dịch vụ so với 64 đối với trường DSCP trong gói tin
IP. Việc quản lý các gói tin (PHB) tại mỗi chặng trong mạng MPLS được làm dựa trên
Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

63
trường EXP. Các đường dẫn chuyển mạch nhãn LSP mà sử dụng cách tiếp cận này được
gọi là E-LSP, ở đó thông tin QoS được lấy ra từ các bit EXP. Một cách khác, mỗi nhãn
liên quan với một gói tin MPLS Mang một phần của dấu DiffServ mà xác định gói tin sẽ
được xếp hàng như thế nào. Phần ưu tiên bỏ bớt của dấu DiffServ được Mang các bit
EXP (nếu header chèn MPLS được dùng) hoặc trên trường nào đó dùng cho mục đích này
của công nghệ lớp dưới (bit CLP mạng ATM hay bit DE trên mạng Frame Relay). Bộ
định tuyến LSR đầu vào sẽ xem xét các bit DSCP trong header IP (tương tự như các bit
CLP/DE trong mạng ATM/Frame Relay) và lựa chọn một đường dẫn LSP mà đã được
cung cấp cho mức chất lượng dịch vụ QoS đó. Tại bộ định tuyến đầu ra, nhãn là được bỏ
đi gói tin với các bit DSCP như ban đầu được gửi đến chặng IP tiếp theo. Các đường dẫn
chuyển mạch nhãn LSP sử dụng các tiếp cận này gọi là các đường dẫn L-LSP, ở đó thông
tin về chất lượng dịch vụ được suy ra một phần từ nhãn MPLS.
TE không phân biệt các loại lưu lượng. Để mang lưu lượng dữ liệu và thoại trên
cùng một mạng, có thể cần phải tính riêng mức độ lưu lượng thoại được truyền trên mạng
để dung cấp những đảm bảo khắt khe hơn về chất lượng dịch vụ.
3.2.3.2 Thiết kế lưu lượng TE nhận biết về DiffServ (DS-TE)
DS-TE không chỉ cho phép việc cấu hình trên vùng global cho việc tính đến băng
thông mà còn cho phép cấu hình trên vùng phụ (sub-pool) hạn chế mà có thể sử dụng cho
lưu lượng mạng có mức độ phân cấp cao hơn như thoại hoặc các ứng dụng khác. Băng
thông còn dư cả trên vùng global và vùng phụ hạn chế là được quảng cáo bởi IGP LSA
hoặc TLV, đảm bảo rằng bộ định tuyến LSR có được thông tin về băng thông còn dư khi
chấp nhận các đường dẫn LSP mới cho thoại hoặc các lưu lượng phân cấp cao. Với cách
thức này, các nhà cung cấp dịch vụ, phụ thuộc và mức độ SLA có thể lựa chọn để đặt
trước nhỉnh hơn chút các lớp phân cấp thấp hoặc thâm chí đặt trước thấp hơn lưu lượng
có độ ưu tiên cao hơn để tương thích với các yêu cầu về chất lượng dịch vụ.
DiffServ-TE tăng cường cho MPLS thực hiện định tuyến có ràng buộc (tính toán
đường dẫn) trên một tập xác định (hạn chế) các vùng phụ mà ở đó băng thông được dành
riêng cho lưu lượng có độ phân cấp cao. Khả năng này thỏa mãn nhiều hơn ràng buộc về
băng thông hạn chế sẽ chuyển thành khả năng đạt được chất lượng dịch vụ cao hơn (về
khía cạnh đỗ trễ, jitter hoặc mất gói tin) cho lưu lượng sử dụng vùng phụ.
Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7
Luận văn thạc sĩ

64
DS-TE liên quan đến việc mở rộng OSPF và IS-IS để băng thông còn dư trên vùng
phụ tại mỗi mức độ ưu tiên là được quảng cáo kèm thêm với băng thông vùng global tại
mỗi mức độ ưu tiên. Hơn nữa, DS-TE thay đổi việc định tuyến có ràng buộc để tính đến
các thông tin cần quảng cáo phức tạp hơn, trong quá trình tính toán đường dẫn. Việc sử
dụng đặc trưng với DS-TE là cho các dịch vụ mô phỏng đường kênh thuê riêng hoặc
đường trục cho toll bypass/thoại, khi mà kết nối điểm – điểm đảm bảo thỏa mãn các điều
kiện biên của jitter và trễ/băng thông.
3.3 PHƯƠNG ÁN KẾT NỐI, QUẢN LÝ
3.3.1 Phương án kết nối
Mạng truy nhập của Metro Ethernet có thể xây dựng với topology hình cây, vòng, lưới
hoặc lai ghép hỗn hợp. Mạng có khả năng hồi phục trong trường hợp có sự cố về tuyến
cáp, nút chuyển mạch nhằm đảm bảo chất lượng dịch vụ. Mỗi mạng truy nhập được xây
dựng có thể trải rộng trên địa bàn một số huyện hoặc một số quận tại trung tâm, một số
khu công nghiệp… phụ thuộc vào các số liệu dự báo về tốc độ phát triển thuê bao.
Mạng lõi của Metro Ethernet có thể thiết kế trên cơ sở mạng vòng ring hoặc mạng lưới
nhằm đảm bảo khả năng dự phòng của mạng lõi trong trường hợp có sự cố. Tốc độ
chuyển mạch tại các nút mạng lõi lên đến hàng chục Gbps và lưu lương chuyển trên các
tuyến kết nối của mạng lõi có thể đạt đến hàng chục Gbps. Các nút mạng lõi được đặt tại
các điểm trung tâm lưu lượng, thường ở các địa điểm tập trung dân cư và khu công nghiệp

Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

65
Hình 3.6: Mô hình kết nội mạng MAN-E với mạng đường trục
Hình 3.6 minh họa về phương án kết nối giữa các mạng Metro Ethernet của mỗi
tỉnh với hệ thống mạng trục trên cả nước. Phần phải trên của màn hình – “IP/MPLS
backbone”, thể hiện mạng trục có vai trò cho việc kết nối giữa các mạng Metro Ethernet
tại mỗi Viễn thông tỉnh. Phần phía dưới của hình mô tả mô hình mạng Metro Ethernet của
mỗi tỉnh.
Đối với các loại dịch vụ như truy câp Internet, mạng Metro Ethernet tại mỗi tỉnh sẽ
cung cấp một số tuyến kết nối BRAS để phục vụ việc truy cập.
Đối với các loại dịch vụ như VLAN phục vụ trao đổi dữ liệu mà các khách hàng
nằm phân tán trên các tỉnh khác nhau, hoặc các dịch vụ VoD, IPTV, mạng Metro Ethernet
cung cấp các kết nối đến thiết bị PE (Provider Edge).
3.3.2 Phương án quản lý mạng
Mỗi tỉnh sẽ được trang bị một hệ thống quản lý và có một bộ phận kỹ thuật quản lý
với vai trò quản lý cấu hình thiết bị, lỗi cho các hệ thống thiết bị mà tỉnh được đầu tư.
Việc thiết lập các dịch vụ chung như IPTV, VoD hoặc các dịch vụ như VLAN liên quan
đến các khách hàng thuộc tỉnh sẽ do bộ phận quản lý của tỉnh đảm nhiệm.
Toàn bộ mạng cần đến một bộ phận quản lý chung trên toàn mạng. Bộ phận này có
nhiệm vụ giải quyết các vấn đề kỹ thuật chung cho toàn mạng hoặc cụ thẻ hỗ trợ cho các
bộ phận kỹ thuật dưới viễn thông tỉnh. Đối với các dịch vụ phân bố trải rộng trên toàn
quốc cần có sự phối hợp giữa bộ phận kỹ thuật trung tâm và các bộ phận kỹ thuật tại các
đơn vị tỉnh.
Giải pháp quản lý mạng đáp ứng được các tính năng cơ bản sau:
− Layer 2 Provisioning: cho phép nhà khai thác dễ dàng tạo các kết nối lớp 2, VPN
lớp 2 bằng các giao diện đồ họa thuận tiện. Chức năng này cũng cho phép tạo các
chính sách bảo mật hay chất lượng dịch vụ QoS.
− Layer 3 Provisioning: cho phép nhà khai thác dễ dàng tạo các kết nối lớp 3, VPN
lớp 3 bằng các giao diện đồ họa thuận tiện. Chức năng này cũng cho phép tạo các
chính sách bảo mật hay chất lượng dịch vụ QoS.

Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ

66
− Traffic Engineering: cho phép hệ thống trao đổi với các thiệt bị mạng tạo và thay
đổi các tuyến TE với các tính năng cao cấp. Thông thường các tính toán phức tạp
này phải làm bởi các nhà thiết kế tuyến, sau đó nạp dữ liệu và cấu hình thiết bị.
Module này có các thuật toán rất phức tạp hỗ trợ nhà khai thác tạo kết nối, có bảo
vệ, chất lượng dịch vụ.
− MPLS Diagnostic: cho phép thực hiện các công việc tìm lỗi khi có sự cố trên VPN,
TE…
3.4 HỆ THỐNG QUẢN LÝ ĐIỀU KHIỂN MẠNG MAN-E
Hệ thống MAN-E của VNPT được xây dựng trên công nghệ của hai nhà cung cấp
đó là Cisco và Huawei trong khuận khổ của luận văn tôi xin trình bày hệ thống quản lý
điều khiển mạng MAN-E EMS N2000 của Huawei. Hệ thống bao gồm các chức năng sau
3.4.1 Quản lý topo mạng
Chức năng này của hệ thống cho phép xây dựng và quản lý topo mạng. Người
dùng có thể xem được quan hệ giữa các thiết bị trên mạng và có một giao diện trực quan
để cấu hình thiết bị.
Hệ thống có khả năng thống kê số lượng và thông tin trạng thái thiết bị bằng màu
sắc hiển thị trên sơ đồ.
Hệ thống có thể tự động phát hiện thiết bị mới được thêm vào 1 node mạng.

Nguyễn Quang Huy lớp – Cao học K7

Luận văn thạc sĩ