Tải bản đầy đủ
Chương 1: Tổng quan về thống kê dữ liệu và điều tra xã hội học

Chương 1: Tổng quan về thống kê dữ liệu và điều tra xã hội học

Tải bản đầy đủ

http://www.ictu.edu.vn

4

- Thống kê mô tả : bao gồm các phương pháp thu thập số liệu, mô tả và trình
bày số liệu, tính toán các đặc trưng đo lường.
- Thống kê suy diễn : Bao gồm các phương pháp như ước lượng, kiểm định,
phân tích mối liên hệ, dự đoán ... trên cơ sở các thông tin thu thập từ mẫu.
b. Đối tượng nghiên cứu của thống kê
Đối tượng nghiên cứu của thống kê là mặt lượng trong mối quan hệ chặt chẽ
với mặt chất của hiện tượng kinh tế - xã hội, tự nhiên trong một không gian và thời
gian cụ thể, như biến động cơ học của dân số, hiện tượng về quá trình tái sản xuất
sản phẩm, về đời sống vật chất văn hoá…. Cũng như mọi vật tồn tại trong xã hội,
hiện tượng kinh tế xã hội cũng tồn tại trên hai mặt: chất và lượng có liên quan mật
thiết với nhau. Trong hiện tượng kinh tế - xã hội mặt chất biểu hiện ở: đặc điểm,
tính chất, đặc trưng, tính qui luật phát triển của hiện tượng nghiên cứu. Mặt lượng là
những biểu hiện được biểu hiện bằng những con số cụ thể nói lên: qui mô, tốc độ
phát triển, kết cấu…. Thống kê không nghiên cứu trực tiếp mặt chất của hiện tượng
kinh tế - xã hội mà chỉ nghiên cứu mặt số lượng cụ thể của hiện tượng kinh tế xã
hội. Thông qua phân tích hệ thống chỉ tiêu thống kê của những con số cụ thể, chúng
ta rút ra được những đặc điểm, tính chất, đặc trưng và tính qui luật phát triển kinh tế
xã hội qua từng thời gian và địa điểm cụ thể, thống kê nghiên cứu các hiện tượng
kinh tế xã hội là xuất phát từ qui luật số lớn trong lý thuyết xác suất và tính qui luật
thống kê. Thông qua nghiên cứu số lớn các hiện tượng cá biệt nhằm loại bỏ tác
động ngẫu nhiên, riêng lẻ cá biệt, nhằm bộc lộ rõ tính tất nhiên, tính phổ biến, điển
hình chung của số lớn hiện tượng nghiên cứu [7].
1.1.3. Một số khái niệm thường dùng của thống kê
1.1.3.1. Tổng thể thống kê, đơn vị tổng thể thống kê
Tổng thể thống kê là tập hợp các đơn vị (hay phần tử) thuộc hiện tượng
nghiên cứu, cần quan sát, thu thập và phân tích về mặt lượng của chúng theo một
hay một số tiêu thức nào đó. Các đơn vị (hay phần tử) cấu thành tổng thể thống kê
gọi là đơn vị tổng thể [7].

http://www.ictu.edu.vn

5

Như vậy thực chất của việc xác định tổng thể thống kê là việc xác định các
đơn vị tổng thể. Đơn vị tổng thể là xuất phát điểm của quá trình nghiên cứu thống
kê vì nó chứa đựng những thông tin ban đầu cho qua trình nghiên cứu.
Tổng thể đồng chất: Là tổng thể bao gồm các đơn vị giống nhau hay một số
đặc điểm chủ yếu có liên quan trực tiếp đến mục đích nghiên cứu [7].
1.1.3.2. Các loại tổng thể
-

Tổng thể chung: Bao gồm các đơn vị thuộc phạm vi hiện tượng nghiên cứu
đã được xác định.

-

Tổng thể bộ phận: Bao gồm nột số đơn vị thuộc phạm vi hiện tượng nghiên
cứu đã xác định.

-

Tổng thể đồng chất: Bao gồm các đơn vị giống nhau ở một số đặc điểm chủ
yếu có liên quan với mục đích nghiên cứu.

-

Tổng thể không đồng chất: Bao gồm các đơn vị không giống nhau ở một số
đặc điểm chủ yếu có liên quan với mục đích nghiên cứu

-

Tổng thể bộc lộ: Bao gồm các đơn vị mà trực tiếp quan sát, nhận biết được.

-

Tổng thể tiềm ẩn: Bao gồm các đơn vị mà không trực tiếp quan sát, nhận biết
được.

1.1.3.3. Tiêu thức thống kê
Nghiên cứu thống kê phải dựa vào những đặc điểm của đơn vị tổng thể. Đơn
vị tổng thể có nhiều đặc điểm, tuỳ theo mục đích nghiên cứu một số đặc điểm được
chọn ra để nghiên cứu [7].
Ví dụ: Nghiên cứu nhân khẩu, mỗi nhân khẩu có các tiêu thức như giới tính,
độ tuổi…., nghiên cứu doanh nghiệp như số lượng công nhân, vốn, giá trị sản xuất.
Tiêu thức thống kê được phân làm hai loại:
Tiêu thức thuộc tính: là tiêu thức phản ánh tính chất hay loại hình của đơn
vị tổng thể, không có biểu hiện trực tiếp bằng con số [7].
Ví dụ: Các tiêu thức như: giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo…
Tiêu thức số lượng: là tiêu thức có biểu hiện trực tiếp bằng con số [7].

http://www.ictu.edu.vn

6

Ví dụ: các tiêu thức như: tiền lương của công nhân, chiều cao, cân nặng trung
bình của con người.
Các trị số khác nhau của tiêu thức số lượng là gọi là lượng biến. Lượng biến
được phân làm hai loại:
• Lượng biến rời rạc: là lượng biến mà các giá trị có thể là hữu hạn hay vô hạn
và có thể đếm được, như số công nhân, số sản phẩm.
• Lượng biến liên tục: các giá trị của nó có thể lấp kín cả một khoảng trên trục
số, như trọng lượng, chiều cao của sinh viên, năng suất của cây trồng [7].
1.1.3.4. Chỉ tiêu thống kê
Chỉ tiêu thống kê là các trị số phản ánh các đặc điểm, tính chất cơ bản của
tổng thể thống kê trong điều kiện thời gian và không gian xác định. Chỉ tiêu thống
kê được chia làm hai loại [7]:
• Chỉ tiêu khối lượng: Các chỉ tiêu biểu hiện quy mô, khối lượng của tổng thể
nghiên cứu, như số nhân khẩu, số doanh nghiệp, số vốn, vốn lưu động…
• Chỉ tiêu chất lượng: là chỉ tiêu biểu hiện tính chất trình độ phổ biến, quan hệ
so sánh của hiện tượng nghiên cứu, như giá thành.
1.1.4. Khái quát quá trình nghiên cứu thống kê
Quá trình nghiên cứu thống kê hay bất kỳ quá trình nghiên cứu nào, cũng đều
trải qua các bước, được khái quát bằng mô hình sau [7]:

http://www.ictu.edu.vn

7

Xác định vấn đề nghiên cứu, mục đích, nội dung, đối
tượng nghiên cứu

Xây dựng hệ thống các khái niệm, chỉ tiêu thống kê

Điều tra thống kê

Xử lý số liệu:
Tập hợp, sắp xếp số liệu
Chọn các phần mềm xử lý số liệu
Phân tích thống kê sơ bộ
Lựa chọn các phương pháp phân tích thống kê thích
hợp

Phân tích và giải thích kết quả.
Dự đoán xu hướng phát triển.

Báo cáo và truyền đạt kết quả nghiên cứu.

1.2. Giới thiệu các phương pháp tiến hành điều tra xã hội học.
1.2.1. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học
Xã hội học là khoa học về sự hình thành, phát triển và sự vận hành của các
cộng đồng xã hội, các tổ chức xã hội và các quá trình xã hội với tính cách là các
hình thức tồn tại của chúng; là khoa học về các quan hệ xã hội với tính cách là các
cơ chế liên hệ và tác động qua lại giữa các cá nhân và cộng đồng; là khoa học về
quy luật của các hành động xã hội và các hành vi của quần chúng [6].
Xã hội học là một khoa học lý thuyết cũng như các khoa học xã hội học
khác. Trong một hệ thống những sự trừu tượng hóa (như các khái niệm, phạm trù,

http://www.ictu.edu.vn

8

quy luật, giả thuyết xã hội học …), nhà xã hội học luôn tìm cách tái thể hiện trong
quá trình tư duy, đối tượng xã hội, mô tả trạng thái của nó thâm nhập vào các quy
luật hoạt động và phát triển của nó, hiểu được và dự báo xu hướng phát triển tất yếu
của nó. Đồng thời, xã hội học là một trong các khoa học thực nghiệm. Nó rút ra các
kết luận xã hội từ các trắc nghiệm, các quan sát thực nghiệm xã hội, từ các tài liệu
thực nghiệm thu được về các đối tượng xã hội [6].
Như vậy, xã hội học là một khoa học vừa có tính chất thực nghiệm lại vừa có
tính chất lý thuyết, nghĩa là một khoa học không chỉ mô tả các sự kiện thực nghiệm
mà còn rút ra những quy luật và khái niệm từ sự phân tích lý thuyết các dữ liệu thực
nghiệm. Do bản chất của xã hội học với tính cách là một khoa học thực nghiệm – lý
thuyết, cho nên nhận thức xã hội học có hai cấp độ: thực nghiệm và lý thuyết. Cấp
độ xã hội học thực nghiệm bao gồm việc thu thập thông tin xã hội thông qua quan
sát, thí nghiệm và xử lý các thông tin xã hội đó.
1.2.2. Những phương pháp nghiên cứu xã hội học
Để nghiên cứu các hiện tượng xã hội, cần sử dụng nhiều phương pháp nghiên
cứu khác nhau. Việc sử dụng phương pháp nghiên cứu hay công cụ thu thập thông
tin nào, hoặc phối hợp chúng như thế nào, hoàn toàn tùy thuộc vào mục tiêu của
cuộc nghiên cứu.
1.2.1.1. Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có
Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có bao gồm phương pháp phân tích thứ
cấp, phân tích tư liệu thống kê hiện có, phương pháp lịch sử và phân tích nội dung.
Trong những nghiên cứu về các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, người ta
cũng thường hay sử dụng một trong những phương pháp phân tích tư liệu sẵn có.
Khi tìm kiếm dữ liệu, chúng ta phải vạch sẵn các yêu cầu cốt yếu trong cuộc
nghiên cứu để tránh tình thu thập nhiều thông tin thừa. Khi đã có đủ dữ liệu, chúng
ta phải làm cho nó đáp ứng được mục đích nghiên cứu của mình bằng cách xác định
những biến số cần thiết, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của cuộc nghiên cứu. Tính hiệu lực
và độ tin cậy của dữ liệu là tiêu chuẩn đầu tiên khi lựa chọn một nhóm dữ liệu cho

http://www.ictu.edu.vn

9

phân tích thứ cấp. Phương pháp phân tích số liệu thống kê hiện có được áp dụng rất
nhiều trong các công trình nghiên cứu về xã hội.
Phân tích những số liệu thống kê hiện có là việc phân tích lại các số liệu
thống kê đã được chuẩn bị và báo cáo từ trước. Người ta cũng có thể sử dụng những
số liệu thống kê để tạo ra những dữ liệu mới [6].
1.2.1.2. Phương pháp điều tra
Điều tra là phương pháp thu thập thông tin sơ cấp bằng lời dựa trên sự tác
động qua lại về mặt tâm lý mang tính trực tiếp (phỏng vấn) hoặc gián tiếp giữa nhà
nghiên cứu và người được hỏi. Bảng hỏi là một trong những yếu tố quan trọng của
phương pháp điều tra.
Trong các cuộc nghiên cứu, không thể nghiên cứu toàn bộ số dân cứu của
công đồng được kháo sát, vì vậy cần phải chọn ra một mẫu để nghiên cứu.
Chọn người trả lời:
Những người rơi vào mẫu nghiên cứu là những ai, số lượng bao nhiêu, cách
thức chọn họ như thế nào… hoàn toàn phụ thuộc vào mục tiêu, nội dung kế hoạch
cũng như kinh phí của cuộc nghiên cứu.
Xây dựng bảng hỏi:
Bảng hỏi là công cụ đo lường những nhân tố có liên quan đến cá nhân của
người trả lời. Tính đặc thù của bảng hỏi là ở chỗ nhờ nó, người ta có thể đo được
các biến số nhất định có quan hệ với đối tượng nghiên cứu.
Trong phương pháp điều tra, các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm đến chất
lượng của thông tin. Vì vậy, khi lập kế hoạch nghiên cứu họ cố gắng tính đến những
điều kiện có thể ảnh hưởng đến chất lượng của thông tin, sao cho có thể đảm bảo
được độ tin cậy của thông tin và tính xác thực của thông tin [6].
Những câu hỏi thăm dò các quan niệm, thái độ có thể đưa ra những lựa chọn
như hoàn toàn đồng ý, đồng ý, tương đối đồng ý, không đồng ý lắm, hoàn toàn
không đồng ý...
Những câu hỏi đóng làm cho các câu trả lời dễ đo lường, dễ so sánh đồng
thời cũng dễ khái quát hoá cho tổng thể dân cư, tuy nhiên vì những người tham gia

http://www.ictu.edu.vn

10

phải chọn từ những câu trả lời một cách chặt chẽ, những câu hỏi đóng đôi khi không
làm rõ tâm thế và những ý kiến thực sự của họ.
Những câu hỏi mở là câu hỏi để cho người trả lời tự viết hay trả lời theo ý và
bằng ngôn ngữ riêng của mình. Nó cho phép những người phỏng vấn kiểm tra sâu
sắc hơn tâm thế, cảm xúc, lòng tin và ý kiến của người trả lời. Điều này rất có ý
nghĩa vì nó tạo khả năng cho các nhóm yếu thế có cơ hội trình bày những ý kiến
theo hoàn cảnh riêng của mình. Tuy vậy, những câu trả lời đối với các câu hỏi mở
không dễ dàng đo lường và người nghiên cứu gặp khó khăn hơn trong khi so sánh
các câu trả lời.
Ngoài ra các câu hỏi mở rộng được kết hợp từ những câu hỏi đóng và những
câu hỏi mở cũng thường được sử dụng để có thể dễ dàng khai thác sâu hơn những
thông tin cần thiết.
Độ tin cậy và tính xác thực của thông tin.
Tính ổn định của thông tin trước những sự tác động của những yếu tố ngẫu
nhiên, được gọi là độ tin cậy của thông tin. Độ tin cậy phụ thuộc vào khả năng chủ
thể trả lời câu hỏi như nhau đối với những câu hỏi như nhau. Như vậy, để đảm bảo
độ tin cậy của thông tin chúng ta phải cố gắng ổn định những điều kiện để thu thập
thông tin.
Tính xác thực của thông tin là thuộc tính của phương pháp đem lại loại thông
tin sao cho những khác biệt của họ về những đặc điểm phù hợp với những khác biệt
thực. Tức là nếu như chúng ta có tổ chức nghiên cứu lặp lại bao nhiêu lần đi chăng
nữa cũng vẫn thu được những kết quả tương tự.
Điều tra thử. Trước khi in bảng hỏi cho cuộc nghiên cứu đại trà, cần thực
hiện cuộc điều tra thử để kiểm định lần cuối cùng các chi tiết.
Chúng ta cần chắc chắn rằng các câu hỏi của chúng ta đã được trình bày theo
những ngôn từ và cách nghĩ của ngưới địa phương.
1.2.1.3. Phương pháp phỏng vấn
Phỏng vấn là một phương pháp thu thập số liệu trong đó người được phỏng
vấn sẽ trả lời một số câu hỏi do người phỏng vấn đặt ra. Phỏng vấn sâu giúp người

http://www.ictu.edu.vn

11

nghiên cứu đi sâu vào một số khía cạnh của những cảm nhận, động cơ, thái độ hoặc
lịch sử cuộc đời của người cung cấp thông tin (người được hỏi) [6].
Phỏng vấn có thể chuyển tiếp thông tin về số liệu thực tế như cấu trúc hộ gia
đình, phân công lao động và cách làm ăn sinh sống. Phỏng vấn cũng có thể sử dụng
để tìm hiểu về quan niệm, giá trị và cách ứng xử của con người.
1.2.1.4. Phương pháp quan sát
Quan sát và vai trò của nó trong nghiên cứu thực nghiệm.
Quan sát là một trong những phương pháp thu thập thông xã hội sơ cấp về
đối tượng nghiên cứu bằng cách tri giác trực tiếp và ghi chép tỉ mỉ mọi nhân tố có
liên quan đến đối tượng nghiên cứu và có ý nghĩa đối với mục tiêu của cuộc nghiên
cứu. Những đặc trưng cơ bản của việc quan sát là: tính có hệ thống, tính kế hoạch
và tính mục đích. Phương pháp quan sát có thể thực hiện một cách độc lập nhưng
cũng có thể thực hiện một cách kết hợp với những phương pháp khác [6].
Trong nghiên cứu thực nghiệm xã hội, quan sát ít khi được sử dụng một cách
độc lập mà thường được kết hợp với các phương pháp thu thập thông tin khác như
phỏng vấn sâu, phỏng vấn sâu cá nhân và phỏng vấn nhóm.

1.3. Các phương pháp và kỹ thuật đó phân tích thống kê dữ liệu.
1.3.1. Ước lượng
Khi nghiên cứu điều tra chọn mẫu, cái chính không phải nhằm nghiên cứu
tổng thể mẫu đại diện được chọn ra từ tổng thể chung, mà chính là qua tổng thể mẫu
đó để nghiên cứu được tính quy luật và trạng thái của tổng thể chung chứa nó. Ước
lượng là sử dụng các thông tin của mẫu để đi tới một suy luận về giá trị thật của một
tham số quần thể, hoặc sự khác nhau giữa hai tham số quần thể.
1.3.2. Tương quan và hồi quy
Mặc dù có nhiều tình huống trong thực tế chỉ liên quan đến một biến, song lại
có rất nhiều trường hợp khác những nhà quyết định lại cần sự quan tâm, xem xét đến
mối quan hệ giữa hai hay nhiều biến với nhau. Tương quan và hồi quy là những kỹ

http://www.ictu.edu.vn

12

thuật thống kê rất cần thiết trong phân tích và đánh giá dữ liệu và rất quan trọng đối
với người ra quyết định trong việc xác định mối liên quan giữa các biến [7].
- Tương quan: là phương pháp dùng để nghiên cứu mối quan hệ giữa hai hay
nhiều biến ngẫu nhiên. Mục tiêu của phương pháp này là để đo cường độ của mối
quan hệ giữa hai biến X và Y, hai biến này được xem là hai biến ngẫu nhiên ngang
nhau - không phân biệt biến độc lập hay biến phụ thuộc. Phân tích tương quan khảo
sát khuynh hướng và mức độ của sự liên quan, được dùng để đo lường tính bền vững
của mối liên hệ giữa các biến, đặc biệt là các biến định lượng [7].
- Hồi quy được dùng để xem xét mối liên hệ tuyến tính giữa hai biến X và Y,
trong đó X được xem là biến độc lâp (ảnh hưởng đến biến Y) còn Y là biến phụ
thuộc (chịu ảnh hưởng của biến X). Mục tiêu của phân tích hồi quy là mô hình hóa
mối liên hệ, nghĩa là từ dữ liệu thu thập được ta cố gắng xây dựng một mô hình toán
học nhằm thể hiện một cách tốt nhất mối liên hệ giữa hai biến X và Y. Phân tích hồi
quy xác định sự liên quan định lượng giữa hai biến ngẫu nhiên X và Y, kết quả của
phân tích hồi quy được dùng cho dự đoán [7].
1.3.3. Kiểm định giả thuyết
Kiểm định giả thuyết là một phương pháp suy luận khác thường dùng trong
phân tích thống kê dữ liệu. Các qui trình mà ta sẽ xét đến không phải là ước lượng
giá trị của một tham số mà là tiến hành một kết luận về nó. Thông thường, trong
thực tế người ta rất muốn biết liệu một đặc tính nào đó của một quần thể có lớn hơn
một giá trị nhất định nào không, hoặc liệu một giá trị của một tham số nào đó mà ta
nhận được có bé hơn một giá trị giả định hay không. Chẳng hạn như, chúng ta rất
muốn biết độ bền trung bình của một sản phẩm do hãng A sản xuất ra có lớn hơn độ
bền trung bình của một sản phẩm cùng loại do hãng B sản xuất không [2].

http://www.ictu.edu.vn

13

1.4. Giới thiệu về các phần mềm ứng dụng phân tích thống kê dữ liệu
1.4.1. Phần mềm SPSS
SPSS là một phần mềm chuyên ngành thống kê khởi đầu được lập cho các
máy tính lớn vào những năm 1960, sau này được lập cho các máy tính cá nhân
trong môi trường DOS và gần đây là môi trường Windows. SPSS là một hệ thống
phần mềm thống kê toàn diện được thiết kế để thực hiện tất cả các bước trong bất
kỳ phân tích thống kê nào từ thống kê mô tả đến các thống kê suy luận. SPSS được
thiết kế rất tốt trên môi trường Windows và rất dễ dàng cho chúng ta – những người
sử dụng – vì chúng ta hầu như không phải lập trình để giải quyết những nhiệm vụ
phức tạp, làm cho quá trình phân tích dữ liệu trở nên dễ hơn và ngắn gọn hơn [4].
1.4.2. Phần mềm Epidata
EpiData là phần mềm hỗ trợ nhập và quản lý số liệu, được lập trình bởi Bác
sĩ Jens M.Lauritsen, người Đan Mạch. Phần mềm này đã được sử dụng lần đầu tiên
cho một nghiên cứu dịch tễ học “Phòng chống tai nạn”. Ý tưởng của người
phát triển phần mềm EpiData là việc tạo ra một phần mềm nhập
liệu miễn phí, giao diện người dùng thân thiện, dễ sử dụng. Với
Epidata, người sử dụng có thể nhập số liệu dưới dạng văn bản đơn
giản và sau đó chuyển đổi số liệu sang các dạng khác nhau để
phục vụ cho việc phân tích thống kê số liệu bằng các phần mềm
khác nhau. Epidata có giao diện người dùng thân thiện và tạo ra
tiến trình làm việc đơn giản. Những người sử dụng có trình độ Tin
học khác nhau đều có thể dễ dàng học tập và sử dụng được phần
mềm này trong một thời gian rất ngắn. Epidata có thể xuất số liệu
sang nhiều dạng khác nhau để sử dụng cho phân tích số liệu bằng
các phần mềm như Stata, Spss, .v.v.

http://www.ictu.edu.vn

14

Chương 2: Một số vấn đề trong phân tích dữ liệu thống kê
2.1. Thống kê mô tả
Nghiên cứu mô tả là loại hình nghiên cứu mà nhà nghiên cứu
tiến hành, thực hiện nhằm xác định rõ bản chất các sự vật và hiện
tượng trong những điều kiện đặc thù về không gian cũng như thời
gian. Nghiên cứu mô tả thông thường bao gồm việc thu thập và
trình bày số liệu một cách có hệ thống nhằm đưa ra một bức tranh
rõ nét, đầy đủ về một tình hình, vấn đề sức khoẻ cụ thể. Mô tả một
hiện tượng chính xác mới hình thành được giả thuyết nhân - quả
đúng, mới đề xuất được các biện pháp phòng ngừa có hiệu quả [3].
2.1.1 Mục tiêu của các nghiên cứu mô tả
Nghiên cứu mô tả cần phải đáp ứng ít nhất 2 mục tiêu sau đây
[3]:
-

Mô tả được một hiện tượng và các yếu tố nguy cơ có liên
quan đến hiện tượng đó.

-

Phác thảo được giả thuyết nhân quả giữa các yếu tố nguy cơ
và hiện tượng nghiên cứu.

2.1.2. Những nội dung chính của các nghiên cứu mô tả
Nội dung cơ bản của nghiên cứu mô tả là xác định được thực
trạng các yếu tố con người và các yếu tố không gian, thời gian cụ
thể ở một thời điểm nhất định.
2.1.2.1. Yếu tố nguy cơ, căn nguyên
Yếu tố nguy cơ ở đây được hiểu một cách rộng rãi đó là tất cả
những yếu tố nào thuộc về bản chất như: yếu tố vật lý, hoá học,
sinh lý, tâm lý, di truyền, khí tượng, các yếu tố kinh tế văn hoá xã
hội... mà sự tác động của chúng có thể tạo nên cho cơ thể con