Tải bản đầy đủ
d. Liệu pháp thực tế:

d. Liệu pháp thực tế:

Tải bản đầy đủ

e. Tổng kết:
Các chuyên gia trường phái Hiện sinh /Nhân văn tin tưởng rằng mỗi con người đều có
bản chất tốt đẹp và khả năng tích cực để dẫn dắt cuộc đời mình, do đó, ai rồi cũng có thể
nhận biết những điều đúng đắn và có khả năng để chuyển đổi cuộc sống của họ trở nên
tích cực và có ý nghĩa hơn nếu họ được sự hướng dẫn và khích lệ của một nhà trị liệu có
đầy đủ kiến thức chuyên môn, sự quan tâm, tính trung thực, cởi mở và cảm thông. Tuy
nhiên, nhìn chung về mặt lý thuyết, dù cho mỗi liệu pháp khác nhau của trường phái Hiện
sinh/Nhân bản đã có những nhận định có tính thuyết phục trên một số góc cạnh về bản
chất tổng thể của con người, về mặt thực hành các liệu pháp này cũng đã không hoạch
định được những phương thức và kỹ thuật trị liệu mang tính tích cực, súc tích và chặt chẽ
trên phương diện thời gian và mục tiêu trong hợp đồng trị liệu.
2. Ca trị liệu điển hình
Như đã nói trên, trường phái Hiện sinh/Nhân văn có những liệu pháp tiếp cận khác
nhau; do đó, tuỳ theo mỗi vấn đề và tình huống cụ thể của thân chủ mà nhà trị liệu sẽ
quyết định áp dụng liệu pháp nào trong số đó cho phù hợp. Dưới đây là một câu chuyện
hư cấu, được lựa chọn để trong đó những tình tiết tương đối phù hợp với cách tiếp cận
vấn đề theo phương thức của liệu pháp hiện sinh. Trong cuộc tiếp xúc ban đầu, nhà trị
liệu đã tóm lượt một số vấn đề qua những lời kể của thân chủ như sau:
Ông Đạm, 62 tuổi, là một công chức hưu trí, hiện sống độc thân trong khu nhà
tập thê tại một thành phố lớn. Ông có quá trình công việc lâu dài trong ngành giáo
dục. Xuất thân là một nhà giáo có bằng cao đẳng sư phạm, ông từng được bổ nhiệm
đi dạy tại nhiều trường trung học trong nhiều năm trước khi được tuyên vào làm phó
phòng nhân sự tại sở giáo dục thành phố. Năm 26 tuổi ông Đạm lấy vợ và sau đó có
hai người con. Khoảng 10 năm sau người vợ mất vì một bạo bệnh. Đến 5 năm sau thì
ông lấy người vợ thứ và cho đến cách đây 3 năm thì người vợ thứ này cũng mất vì
một bạo bệnh. Từ 3 năm nay ông sống đơn độc trong căn hộ được nhà nước cấp,
không tiếp xúc thân thiết với ai. Con cái ông đã có gia đình riêng và ở xa nên cũng ít
có dịp được đoàn tụ.
Ông Đạm thừa nhận cuộc đời của ông tạm gọi là bình thường và có phần may
mắn về mặt công ăn việc làm so với những bạn đồng liêu. Nhưng vì bản tính ít thích
giao du, chuyện trò nên hầu như ông không có ai là bạn tâm giao trong đời. Ông tự
cho rằng mình thuộc loại người nội tâm, thường có những nỗi băn khoăn và ưu tư về
cuộc đời con người và sự sống nói chung. Nhiều khi ông cảm thấy những ý nghĩ của
ông thật là vô ích và thừa thải đối với cuộc sống thực tại bàng quan và vội vã đang
347

diễn ra chung quanh, nhưng du như thế, trí óc ông vẫn bị giày vò với những điều ông
đã cho là vô ích đó.
Ông Đạm cho biết quá trình tuổi tre của ông cũng không có gì sôi nổi và quá
ấn tượng. Cha mẹ ông đều là công chức nhà nước nên du đời sống đạm bạc nhưng
cũng êm ả. Ông là con thứ hai trong gia đình có 3 anh chị em. Tuổi tre của ông được
đi học và nuôi dạy chu đáo, chỉ có những năm cao điêm của chiến tranh là cuộc sống
của gia đình khá vất vả và trở ngại. Ông thừa nhận có buồn phiền về chuyện gia đình
riêng của mình. Ông tự cho mình thiếu may mắn về đường tình duyên vì cả hai người
vợ, nay đã khuất núi, đều đã không phải là người ông thật sự yêu, ngoài sự gắn bó
của tình nghĩa vợ chồng. Ông cũng phàn nàn về cả hai đứa con trai mà ông cho rằng
chúng khác hẳn ông về tánh khí và tư tưởng.
Qua câu chuyện tổng quát về cuộc đời của thân chủ, nhà trị liệu vẫn chưa thấy có
những điểm nào thật sự gọi là mấu chốt để thân chủ khẩn thiết muốn tìm kiếm sự giúp đỡ
của tâm lý trị liệu. Nếu cuộc sống diễn ra đúng như trường hợp của thân chủ đã kể thì
trên thế gian này còn có hằng triệu cuộc sống khác đã bị khổ đau, trôi nổi và vùi dập biết
bao lần hơn thế? Vào lúc này nhà trị liệu cần đặt thêm những câu hỏi để thăm dò:
NTL: Tôi nhận thấy câu chuyện cuộc đời của ông cũng có nhiều điêm đặc biệt
đáng ghi chú, nhưng tôi muốn biết lý do nào là chính thức khiến ông cần đến đây gặp
tôi?
TC: Tôi cũng không rõ lắm. Nhưng tôi đọc báo thấy nói đến những cá nhân
sống cô độc và có những nỗi buồn phiền day dứt hay tuyệt vọng thì nên tìm đến
những nhà tâm lý đê được trò chuyện và giải tỏa.
NTL: Đúng như thế, nhưng như vậy thì hiện tại ông thấy có điều gì khẩn thiết
đê cần đến tôi?
TC: (Ngập ngừng giây lác) Ba năm nay tôi sống một mình, không muốn gặp ai
và cũng chẳng có ai thăm hỏi gì, kê cả hai đứa con. Tôi buồn quá lại hay lấy bia rượu
đê giải sầu. Đôi khi say ngất và liên tục bỏ ăn uống mấy ngày. Những lúc ra phố mua
ít thực phẩm cũng chỉ lủi thủi một mình, thấy mình xa lạ hẳn với cảnh tấp nập vội
vàng của mọi người chung quanh. Tôi nghĩ mình đang có cuộc sống thừa thải, như bị
bỏ rơi bên lề xã hội. Đôi khi tôi muốn nằm hoài ở nhà du không còn thực phẩm gì đê
ăn. Tôi thấy hay bị choáng ván, khó thở, tim thường đập nhanh, buồn bực và đau
nhức mình mẩy.
348

Được biết thân chủ đã có mấy cuộc khám nghiệm y khoa nhưng không tìm thấy
những dấu hiệu sai hỏng nào về mặt thể chất, nhà trị liệu phỏng đoán rằng những vấn đề
dai dẳng liên quan đến sự buồn chán, ý tưởng tiêu cực về cuộc sống, thói quen dùng rượu
giải sầu, cảm giác xa lạ với mọi người và đau nhức mình mẩy rất có thể có nguyên nhân
từ một trạng thái khủng hoảng tinh thần mang tính hiện sinh. Quá trình cuộc sống tổng
quát theo lời kể của thân chủ thì không thấy có những biến cố hay chấn thương gì ở mức
quá trầm trọng khiến giờ đây tinh thần thân chủ phải bị suy sụp toàn bộ. Hơn nữa, bản
tính trầm tư, sống nội tâm và không thích quan hệ bè bạn của thân chủ cũng có thể là
nguyên nhân gây ra những triệu chứng buồn bã vừa không nổi bật vừa trải dài suốt nhiều
thời gian. Nếu đúng như phỏng đoán của nhà trị liệu thì việc tiếp cận bằng liệu pháp hiện
sinh vào lúc này sẽ mang lại nhiều hiệu quả cho trường hợp của thân chủ. Tuy nhiên
trong tiến trình tham vấn, nhà trị liệu vẫn luôn lưu ý đến những sự kiện trong đó có thể có
những chỉ dấu cho thấy các triệu chứng trầm trọng khác; nói cách khác, nhà trị liệu vẫn
phải tiếp tục đánh giá các vấn đề của thân chủ, theo đó, phương thức trị liệu về sau cũng
có thể thay đổi nếu như sự đánh giá ban đầu vẫn chưa đầy đủ và trọn vẹn.
Phương hướng và mục tiêu của liệu pháp hiện sinh là giúp cho thân chủ tiến tới một
cuộc sống thực chất, một cuộc sống hài hoà, phù hợp với khả năng và ước muốn hiện tại
của thân chủ. Công việc của nhà trị liệu là hỗ trợ thân chủ trên bước đường tiến đến mục
tiêu đó. Nhà trị liệu sẽ áp dụng sự khôn khéo nghề nghiệp để lắng nghe và cảm thông
những sự kiện và trải nghiệm trong đời mà thân chủ đã thổ lộ, nên sử dụng lối phản ảnh,
diễn nghĩa và tái định nghĩa chứ không phải đối chất hay phán xét trong mọi cuộc thảo
luận. Như thế, trong liệu pháp hiện sinh, chính thân chủ là người chủ động lựa chọn mục
tiêu chứ không phải nhà trị liệu. Nhưng điều chính yếu mà nhà trị liệu hiện sinh phải làm
được là thiết lập một mối quan hệ thật bền vững, trong đó thể hiện tính trung thực, đồng
cảm, và tin tưởng của cả đôi bên.
Trong tiến trình đánh giá liên tục những vấn đề của thân chủ, trong các cuộc gặp ban
đầu nhà trị liệu đã hỏi đi hỏi lại nhiều lần những câu hỏi về quan điểm của thân chủ về
cuộc sống, những trải nghiệm và biến cố của bản thân, gia đình, công việc, và các mối
quan hệ. Những lần chuyện trò về sau thân chủ bắt đầu kể những câu chuyện về đời mình
với những sự kiện và cảm xúc khác hơn trước. Chẳng hạn, một đoạn đàm thoại dưới đây
cho thấy rõ hơn về con người thực chất của thân chủ:
NTL: Tôi đã nghe ông nói khá đầy đủ về quá trình nghề nghiệp của ông,
nhưng lại không nói gì thêm về chuyện tình cảm và gia đình?

349

TC: Chuyện tình cảm của tôi không có gì phức tạp và rắc rối, nhưng dẫu sao
tôi cũng có nhiều mối ưu tư và trăn trở. Thật ra hai người vợ của tôi không phải là
người tôi đã yêu thương trong đời. Tôi đã lấy vợ qua sự mai mối và dàn xếp, mà tôi
đã cảm thấy như là “bị thúc ép”, của cả gia đình và tập thê trong ngành. Tất nhiên
khi đã sống với nhau thì phải có trách nhiệm và tình nghĩa vợ chồng, nhưng bảo là
người yêu tôi từng mơ ước được sống chung thì không phải.
NTL: Vậy người ông thật sự yêu là ai? Tôi muốn nghe lại đầy đủ về một câu
chuyện tình mà ông cho là hấp dẫn, ly ky và không bao giờ quên được của ông có
được không?
TC: Được chứ! Hồi còn ở cấp trung học phổ thông tôi có quen cô bạn cạnh
nhà. Cô ấy học cung trường và sau tôi 2 lớp. Du ít khi được gặp nhau, nhưng qua
những lần trò chuyện ngắn ngủi lúc gặp nhau tại trường học và những khi trên đường
đi học về chúng tôi đã bắt đầu cảm mến và yêu thương nhau. Không nói thành lời
nhưng trong thâm tâm chúng tôi hầu như đã có sự hứa hẹn, cam kết sau này sẽ sống
mãi bên nhau. Nhưng 3 năm sau gia đình nàng đột nhiên chuyên đi nơi khác và cũng
do trong thời gian ấy là cao điêm của ly tán và chiến tranh nên chúng tôi mất hẳn
mọi liên lạc với nhau. Tôi đã thất vọng và nhớ mãi người yêu. Mối tình đầu đó đã cho
tôi những cảm giác say mê ngây ngất và những cơn mơ ước mộng mị diệu ky.
NTL: (diễn dịch và tái định nghĩa) Đúng như thế! Những mối tình trong thời
trai tráng son tre nào cũng đẹp và thần tiên, nhất là mối tình đầu lại càng làm cho ta
day dứt và luyến tiếc. Tôi hoàn toàn chia se với những cảm nhận của ông. (gợi ý)
Nhưng cuộc sống hiện thực lại thường không diễn ra êm ả như cuốn tiêu thuyết được
viết với những lý tưởng tuyệt đối. Sống thực bên nhau rồi lại thấy rằng những va
chạm hằng ngày trong đời thường không giống như những gì ta thường mơ ước cho
một tình yêu lý tưởng. Vậy ông có cảm tưởng gì về hai người vợ đã qua đời?
TC: Nói chung cả hai bà đều là phụ nữ cần mẫn, siêng năng và biết chăm lo
gia đình, nhưng mỗi bà đều có tánh tình không giống tôi chút nào. Bà trước thì rất
nóng nảy, có chuyện gì không vừa ý là nhảy cẩn lên và la hét ầm ĩ. Tôi thường phải
cố nhịn thua vì có tranh cãi cũng không đến đâu mà chỉ tổ bực mình thêm. Bà vợ sau
thì nhẹ nhàng hơn, nhưng lại có tật nói không dứt. Mỗi khi có nhà là tôi chỉ nghe
những tiếng phàn nàn, kê lê hết chuyện này chuyện nọ như có ý muốn tôi phải tham
gia, hoà đồng với ý kiến của bà. Nói chung tôi không thích những người có cá tánh
nóng nảy, hung hăng, chuyện gì cũng đổ lỗi cho người khác mà không hề biết về
350

mình. Bản tánh của tôi thích sự yên lặng và trầm tỉnh nên qua nhiều năm, du sống
trong tình nghĩa vợ chồng tôi vẫn thấy mình như ke cô đơn, lạc loài trong gia đình.
NTL: (hiểu thêm được tánh tình của thân chủ và đáp lại theo lối phản ảnh) Như
thế thì tôi đoán cảm giác cô đơn của ông đã có từ lâu, có thê nói nó như là bản tánh
của ông, chứ không phải nó chỉ xảy ra từ ba năm nay khi ông phải sống một mình?
TC: Bác sĩ nói vậy cũng không sai. Tôi thấy cuộc sống nhân sinh du xô bồ, náo
động nhưng có mấy ai hiêu thấu được nhau. Mỗi người là một ốc đảo của tâm trạng
và những ý nghĩ của riêng mình.
NTL: Vậy cái chết của hai người vợ có đê lại trong ông những suy nghĩ và
cảm nhận gì không?
TC: Hai bà đã qua đời vì bệnh. Tôi cho rằng chẳng qua là do số mệnh của
mỗi con người. Dẫu sao, cái chết của hai người vợ đều làm cho tôi buồn rầu và
thương tiếc, và cũng khiến tôi có những cảm nhận về sự ngắn ngủi của một đời người.
Nói chung những cuộc thảo luận tương tự như đoạn đối chất ở trên trong thời gian
qua đã cho thấy được một số góc cạnh về quan niệm và những ưu tư của thân chủ về cuộc
sống, tình yêu, cái chết, sự ràng buộc và trách nhiệm đối với các mối quan hệ giữa người
với người, và những gì thuộc về thế giới riêng tư của thân chủ.
Trong những cuộc thảo luận kế tiếp, nhà trị liệu sẽ tiếp tục tìm hiểu sâu hơn các quan
niệm của thân chủ về những vấn đề đã từng được bàn thảo, đồng thời sẽ tìm hiểu quan
điểm của thân chủ về ý nghĩa của các vấn đề thuộc về luân lý, đạo đức và ý kiến của thân
chủ về những tiêu chuẩn giá trị tiêu biểu đòi hỏi cá nhân và cộng đồng xã hội phải tôn
trọng. Sau đó nhà trị liệu sẽ sắp xếp những cuộc bàn thảo để giúp thân chủ tìm lấy một lối
sống trung thực và đúng nghĩa cho riêng mình để giảm thiểu các triệu chứng được đánh
giá là có nguyên nhân từ sự trăn trở, buồn rầu và những ý nghĩ tiêu cực, hoài nghi về
cuộc sống; nói khác hơn, đó là những triệu chứng tâm thể (psychosomatic) dai dẳng có
hại cho sức khỏe thể chất và tinh thần của thân chủ. Đoạn đàm thoại sau đây đã thể hiện
thêm vài quan điểm tiêu cực với cuộc sống hiện tại của thân chủ:
NTL: Tôi nhận thấy ông là người có khuynh hướng nội tâm mà lại nhiều kiến
thức về con người và xã hội. Những cuộc đối thoại trước đây đều cho thấy, theo ý của
tôi, quan niệm của ông về con người và cuộc sống có những lúc mang tính chất lý

351

tưởng và thực tế, nhưng cũng có đôi lúc hàm chứa những tính chất hoài nghi và yếm
thế. Ông có những trải nghiệm nào sâu đậm đáng ghi nhớ trong đời không?
TC: Hồi còn tre thì anh chị em tôi sống trong sự che chở bao bọc của cha me.
Du cuộc sống gia đình luôn gặp những khó khăn, nhưng cha mẹ tôi dạy dỗ con cái
chu đáo với những điều tốt đẹp về con người. Tuổi tre của tôi thật sự là tràn đầy ước
vọng và sự phấn chấn. Nhưng khi va chạm với cuộc sống thực tế thì mới nhận ra bao
nhiêu điều trái ngược với lòng mình. Hình như tôi đã không gặp những điều gì gọi là
quá sức xấu xa và tai họa cho mình và đời tôi cũng không có ai gọi là thu địch nên
cũng không có gì đê oán trách, nhưng phải nói chỉ trong phạm vi nghề nghiệp của tôi
thôi thì cũng đã có bao nhiêu sự va chạm, cạnh tranh mang lại nhiều rắc rối và khó
khăn cho mình rồi.
NTL: Tôi chia se ý kiến của ông, nhưng nghĩ rằng ở đâu và lúc nào lại không
phải như vậy? Người đời thường nói cuộc sống luôn là một chuỗi cạnh tranh giữa
người với người mà?
TC: Đúng vậy! Nhưng ý tôi muốn nói là những tiêu chuẩn về giá trị, luân lý và
đạo đức người đời thường nêu lên thật ra chỉ có trong sách vở, có tính cách lý thuyết
suôn chứ có gì liên hệ với thực tế đâu?
NTL: (diễn nghĩa) Tôi nhận thấy ông có nhận xét hơi khắt khe về vấn đề này.
Có lẽ vì ông là mẫu người yêu thích lý tưởng lại có thêm bản chất suy tư và đăm
chiêu về cuộc đời, chính vì thế mà khi va chạm với những sự cố trái ý mình thì lại dễ
bị rơi vào tâm trạng bất mãn và thất vọng. Trong quá trình hành nghề tôi đã chứng
kiến nhiều trường hợp trong đó có những cá nhân từng bị cuộc đời hành hạ, vui dập,
tạm gọi là “tận đáy hố sâu”, vậy mà rốt cuộc nhờ những nhận thức mới me họ đã
đứng dậy được đê làm nên cuộc sống mới cho họ.
TC: Có thê nhận xét của bác sĩ là có lý. Hy vọng tôi sẽ còn nhiều buổi thảo
luận bổ ích với ông về nhiều vấn đề khác.
Qua những lần thảo luận quanh các sự kiện về cuộc đời của ông Đạm, nhà trị liệu đi
đến kết luận rằng các triệu chứng buồn bực, chán chường với mọi sinh hoạt thường nhật,
dùng rượu để giải sầu, và cảm thấy khó thở, uể oải, đau nhức mình mẩy của ông ta chính
là hậu quả của một mối ưu tư và khắc khoải dai dẳng có tính hiện sinh. Thân chủ đã có
những sự nhận hiểu và định nghĩa về con người, sự sống và các mối quan hệ trong cộng
đồng xã hội theo cái nhìn thiếu khách quan và hoài nghi khiến cho ông ta phải khổ sở với
352

chúng. Ngoài những yếu tố đó ra, không có những chấn thương trầm trọng hay trải
nghiệm gì quá nổi bật đã được ông cho biết để có thể xem là bằng chứng cho sự đánh giá
và chẩn đoán khác biệt về trường hợp của ông.
Theo kết quả đó, để chuẩn bị cho một tiến trình hướng dẫn và khích lệ thân chủ trở về với
con người thật với tiềm năng phấn đấu trong sự sống của mình, không còn những định
kiến thiếu khách quan, trước tiên nhà trị liệu cần thăm dò và tái đánh giá các nguồn động
lực, sức mạnh cá nhân, ý muốn sẵn sàng tự kiểm lại những gì thuộc về cá nhân mình, các
nguồn hỗ trợ có thể dựa vào từ cộng đồng xã hội bên ngoài… Mục đích của phần này là
để hiểu rõ các nguồn hỗ trợ và khả năng tự phát triển và thay đổi cho những ngày sinh
sống sắp tới của thân chủ.
Trong tinh thần chân thực và bình đẳng qua các hình thức hỏi đáp, giải thích, và
tái định nghĩa, cũng như để gợi ý và khuyến khích thân chủ có cái nhìn thực tế có tính
hiện sinh về cuộc sống, giai đoạn cuối cũng tiếp tục thảo luận về các vấn đề đã từng nêu
ra trong những lần thảo luận trước đây, liên quan đến các ý niệm về thân phận con người,
tình yêu, cái chết, những mục đích và trách nhiệm của một đời người, ý thức về sự lựa
chọn, quan niệm về sự tự do và các tiêu chuẩn giá trị về luân lý, đạo đức, những qui ước
chung trong cộng đồng xã hội…Thân chủ là người có học vấn và kiến thức, cũng như
nhiều kinh nghiệm từng trải, dù đó là những kinh nghiệm có tính yếm thế và hận đời, thế
nhưng loại người như thân chủ vẫn có thể rất thích hợp cho những cuộc đàm đạo về các
vấn đề trên. Để cho những cuộc mạn đàm có tính chất trị liệu có thể gây nhiều thích thú
và thư giãn cho thân chủ, nhà trị liệu cần phải luôn có thái độ khách quan đối với những
lãnh vực thuộc về triết lý nhân sinh; đồng thời trong những cuộc nói chuyện nhà trị liệu
cũng cần uyển chuyển, linh động thay đổi đề tài, và ngay cả đôi lúc cũng cần có những
mẫu đối thoại pha trò hay những câu chuyện khôi hài để giảm thiểu những giây phút căng
thẳng.
Một đoạn dưới đây nói lên cuộc đàm đạo về một số ý niệm liên quan đến đạo đức
và niềm tin tôn giáo với mục đích giúp thân chủ suy nghiệm lại những quan niệm có tính
thành kiến một chiều và tâm trạng hoài nghi yếm thế của mình:
NTL: Trước đây chúng ta có nói qua về nhận xét của ông đối với các vấn đề
luân lý và đạo đức. Tôi nhớ ông nói rằng chẳng qua chúng chỉ là lý thuyết trong sách
vở chứ không có được trong đời thường. Tôi không phản bác cách nhìn vấn đề của
ông, nhưng ông có đồng ý rằng tất cả những vấn đề đó cũng xuất phát từ tư tưởng
của con người chứ không từ ở đâu cả phải không? Tôi nghĩ rằng những gì xuất phát
353

từ con người, du đó chỉ là thứ lý thuyết khó áp dụng đi nữa cũng đều rất cần thiết, tuy
vào lúc này hay lúc khác, cho cuộc sống của con người nói chung.
TC: Đúng như thế! Nhưng người ta thường lợi dụng những ý niệm tốt đẹp đó
đê che giấu những hành vi xấu xa của họ chứ mấy ai thật sự áp dụng đê hoàn thiện
cuộc sống của mình?
NTL: Vâng! Nhưng không phải ai cũng như vậy. Xã hội này vẫn có những con
người tốt đẹp, lương thiện và từ tâm. Nhưng ta thường nhìn vấn đề qua định kiến hay
ý nghĩ riêng của mình chứ không phải với tính cách khách quan, bao quát và toàn bộ;
do đó, rất dễ có sự lầm lẫn khi ta phán xét hành vi của một người mà không căn cứ
trên những bằng chứng cụ thê của sự kiện.
TC: Tôi không nhận xét người ta bằng ý nghĩ riêng của mình đâu, nhưng tôi
thấy rõ ràng những người hay nói chuyện đạo đức và đi lễ chua thường lại là những
cá nhân không lương thiện. Thật nực cười! Có phải chính vì thế mà họ lại luôn tìm
cách trang bị cho mình lớp vỏ đạo đức bên ngoài?
NTL: Nhận xét của ông cũng có thê đúng, nhưng chỉ cho một số người thôi.
Theo tôi thì bản chất của con người là tốt, nhưng vì cuộc sống khó khăn trong thực tế
đôi khi buộc họ phải làm những việc xấu đê sinh tồn. Làm sao con người xây dựng
được những tiêu chuẩn giá trị về luân lý, đạo đức và cả những ý niệm về tôn giáo như
là những mục tiêu cần theo đuổi cho mọi người nếu tự trong bản chất của nhân loại
nói chung đã không có những ý tưởng hướng đến chân-thiện-mĩ? Vậy ông có thường
tìm hiêu hay theo một tôn giáo nào không?
TC: Cha mẹ tôi rất sung đạo Phật. Người vợ hai của tôi trước đây thường
muốn tôi đi chua cung bà, nhưng tôi không mấy thích vì nghĩ rằng trên thế gian này
có cả hằng trăm hằng ngàn tôn giáo khác nhau; thế thì biết có tôn giáo nào là đúng
đắn và cứu độ được con người đê noi theo. Hình như tôi nghe bác sĩ cũng vừa nói với
cái ý rằng tôn giáo là cái gì do con người nghĩ ra đó.
NTL: Tất nhiên ông có toàn quyền suy nghĩ và lựa chọn về những việc đó. Du
cho ông không theo một tôn giáo nào vẫn không có nghĩa rằng ông là người xấu, hẳn
phải có nhiều tội lỗi và sẽ không được cứu rỗi. Nhưng về điêm này tôi có ý kiến như
vầy: giả sử như chúng ta cung thừa nhận rằng tôn giáo, hay nói chung là mọi hình
thức tôn giáo khác nhau, đều do các cộng đồng xã hội con người trên hành tinh này
sáng tạo ra chứ chẳng có hình tượng linh thiêng nào thật sự áp đặt cho thế gian này
354

cả, thì điều đó cũng không có nghĩa rằng các dịch vụ tôn giáo chỉ là những hành vi
vô bổ, giả tạo và không hiệu quả thiết yếu cho cuộc sống nhân loại. Nói cho thật
đúng, tôn giáo là nhu cầu tối cần thiết cho con người. Nói cách khác, nó là cái nhu
cầu tâm lý tự nhiên có từ trong bản chất con người, được con người sáng tạo ra đê
trở thành những khuôn mẫu có quyền lực phán xét, thưởng phạt những hành vi tốt
xấu của con người. Phải chăng tôn giáo là cái mục đích tối cần thiết đê dẫn dắt, soi
đường chỉ lối và tạo sự an tâm tĩnh lặng cho cuộc sống của chúng ta? Nói khác nữa,
cá nhân mình có thê theo hay không theo một tôn giáo, nhưng du như thế nào thì tôn
giáo vẫn là nhu cầu không thê nào vắng thiếu đối với cuộc sống nhân loại trên cõi
đời này.
TC: Bây giờ tôi thấy các phân tích của bác sĩ thật là có lý.
Ca trị liệu của ông Đạm sẽ được tiếp nối bằng những cuộc bàn thảo lui tới quanh các
vấn đề về nhân sinh và xã hội cho đến khi nào giúp thay đổi được những ưu tư yếm thế
của ông, đưa đến những ứng xử tích cực hơn trong sinh hoạt hằng ngày, chẳng hạn, ông
Đạm sẽ thường xuyên hơn trong việc tìm những nguồn giải trí lành mạnh để khuây khoả
tinh thần, thường xuyên đi đây đó để gia tăng nối kết lại với các mối quan hệ bên ngoài
và với những người thân thuộc, chú ý chăm lo sức khỏe và ăn uống điều độ hơn, và giảm
thiểu tật uống rượu, v, v… Đối với liệu pháp hiện sinh, thời gian và những mục tiêu cần
đạt được là do ý kiến chủ động của thân chủ. Mỗi thân chủ đều khác nhau trong khả năng
chuyển biến của tư duy và động cơ thay đổi; do đó, mối quan hệ trị liệu thông thường
được chấm dứt theo ý nguyện của thân chủ hơn là quyết định của nhà trị liệu.

355

CHƯƠNG 21

CA TRỊ LIỆU HỆ THỐNG GIA ĐÌNH
1. Tóm lượt lý thuyết
Các chuyên gia xem bối cảnh gia đình như là một hệ thống có tổ chức, một đơn vị xã
hội thu hẹp, trong đó các thành viên cùng chịu sự tác động của những nề nếp và qui luật
sinh hoạt quen thuộc của gia đình, và theo đó sự tương tác giữa môi trường gia đình và
mỗi cá nhân thành viên cũng luôn mang tính cách hỗ tương, nghĩa là điều gì xảy ra cho
phía này cũng đều có tác động đến phía kia. Ví dụ, bối cảnh của một gia đình truyền
thống trọng Nho thì vai trò người anh cả rất quan trọng, phải có trách nhiệm và bổn phận
đối với em út, nhất là khi vắng thiếu vai trò của người cha trong gia đình.
Gia đình là bối cảnh đầu đời cho sự lớn lên và phát triển của mọi con người, trong đó
cha mẹ có tầm ảnh hưởng vô cùng to lớn lên sự nuôi dưỡng, giáo dục, uốn nắn, tập tành
cho mỗi đứa trẻ. Nhân cách của đứa trẻ, ngoài những gì thuộc về sự đặt định của tính di
truyền và bẩm sinh, sẽ được un đúc và hình thành từ những điều kiện đặc thù của bối
cảnh gia đình về ngôn ngữ, tập quán, thói quen, lòng tin, các quan niệm về luân lý, văn
hoá, đạo đức, và những tiêu chuẩn giá trị chung…Nói ngắn gọn, nhân cách của một cá
nhân tốt hay xấu, bình thường hay bất thường, khỏe mạnh hay bệnh lý đều chịu một phần
ảnh hưởng của không khí sinh hoạt trong gia đình. Ví dụ, một gia đình trong đó cha mẹ
nghiện ngập và bỏ bê con cái thì dễ tạo những điều kiện để những đứa con sau này có thể
lớn lên trong sự hư hỏng.
Do cách tiếp cận trị liệu đặc biệt có tính hệ thống mà vì vậy trường phái Hệ thống gia
đình được xem “là lực thứ 4” trong lãnh vực tâm lý trị liệu. Có những phương pháp tiếp
cận trị liệu khác nhau đối với các nhóm chuyên gia trường phái Hệ thống gia đình, và
dưới đây là một số phương pháp tiêu biểu:
a. Liệu pháp hệ thống gia đình xuyên thế hệ
Murray Bowen quan niệm rằng lề lối sinh hoạt và ứng xử, những ước mơ, lòng tin,
các tiêu chuẩn về giá trị, luân lý và đạo đức, và ngay cả các thói quen, sự nghiện ngập
hay bệnh tật cũng thường có mầm mống sâu xa, được truyền đi xuyên qua nhiều thế hệ.
Do đó, khi tiếp cận với gia đình, nhà trị liệu cần thực hiện một sơ đồ phả hệ (genogram),
ít nhất là 3 đời, để hiểu rõ những khuôn mẫu sinh hoạt của gia đình thân chủ. Bowen cho

356

rằng để có nhiều hiệu quả khi làm việc với gia đình của thân chủ, nhà trị liệu cần nắm
vững những ý niệm liên quan đến bối cảnh sinh hoạt của một gia đình sau đây:
- Xu hướng truyền đạt xuyên thế hệ: Một tình trạng sai lầm hay bất thường
nào đó trong bối cảnh gia đình hiện tại thường có xu hướng trầm trọng hơn nếu nó đã
có những mầm mống được tiếp tục truyền xuống từ các thế hệ trước.
- Xu hướng phóng chiếu trong gia đình: Các thành viên trong gia đình thường
gán cho hay đổ lỗi nhau những lầm lẫn, sai trái mà không tự nhận đó là của chính
mình. Ví dụ, người chồng ham chơi, bỏ bê gia đình thường ngụy biện rằng ông buồn
và chán nản với cảnh người vợ không biết dạy dỗ con cái để chúng trở nên hư hỏng.
- Tính tự cá biệt hoá: Bowen đề nghị rằng mỗi cá nhân trong gia đình nên có
đủ khả năng độc lập về lý trí và cảm xúc. Khả năng này càng thấp thì cá nhân càng dễ
bị hoà nhập, vướng viú, lệ thuộc với những vấn đề rắc rối, sai quấy của các thành viên
khác.
- Nhóm tay ba: Những sự tranh chấp hay bất hòa giữa hai thành viên thường
xảy ra là vì có sự dính líu đến đệ tam nhân nào đó trong gia đình. Ví dụ, cha mẹ cãi
nhau vì chuyện của đứa con, hoặc người cha hay người mẹ dùng đứa con làm đồng
minh để tấn công đối thủ của mình.
b. Liệu pháp cấu trúc gia đình
Salvador Minuchin xem gia đình như là một cơ cấu, một hệ thống tổ chức tự điều
hành theo những qui luật và thói tục có tính cách riêng biệt. Thông thường trong mỗi gia
đình hay có xảy ra hai hình thức sinh hoạt ngấm ngầm là:
- Vùng ranh giới: Bao gồm các nguyên tắc, thói quen, tập quán và mức độ
nhiều ít về giao tiếp và tương tác giữa các thành viên trong gia đình. Bản chất sinh
hoạt của vùng ranh giới, nếu không được tốt đẹp và lành mạnh, sẽ phát sinh tình trạng
gọi là “vướng víu” và/hay là “thiếu giao ước”. Sự vướng víu có nghĩa là các sinh hoạt
và quan hệ giữa các thành viên thường lệ thuộc, dựa dẫm, mù mờ, lẫn lộn, thiếu rõ
ràng minh bạch, không có tính cách độc lập về cảm xúc và tư duy. Ngược lại, sự thiếu
giao ước là khuynh hướng cô lập, đóng cõi, xa lánh và không hề có sự chia sẻ, cảm
thông về tình cảm, ý nghĩ cho nhau giữa các thành viên.

357