Tải bản đầy đủ
b. Mối quan hệ trị liệu và cách tiếp cận:

b. Mối quan hệ trị liệu và cách tiếp cận:

Tải bản đầy đủ

CBT là loại liệu pháp có thể áp dụng cho một dãi rộng lớn các thành phần, bao gồm
trẻ em và người lớn thuộc mọi lứa tuổi, cũng như áp dụng để trị liệu cho nhiều vấn đề hay
triệu chứng tâm lý tâm thần khác nhau. Nếu thân chủ là trẻ em hay những cá nhân không
có đủ khả năng nhận thức và quyết đoán thì cần có cha mẹ hay người giám hộ đi kèm để
hỗ trợ trong các phiên trị liệu.
2. Ca trị liệu điển hình
Ca trị liệu dưới đây là một câu chuyện hư cấu được phát họa để phản ảnh một số kinh
nghiệm làm việc theo liệu pháp hành vi/nhận thức trong hiện trường thực tế.
Đối với CBT, trong cuộc tiếp xúc đầu tiên nhà trị liệu cần thực hiện một cuộc phỏng
vấn sâu rộng, thông thường kéo dài từ 1 tiếng đến 1:30 phút, để có đầy đủ thông tin về
tiểu sử cá nhân và những vấn đề tâm-sinh lý-xã hội có liên hệ đến nhận thức, lòng tin,
cảm xúc, hành động và những triệu chứng bất thường, rối loạn hiện tại của thân chủ.
Những thông tin này sẽ là nguồn tài liệu để đánh giá và chẩn đoán tình trạng và mức độ
các triệu chứng tâm lý tâm thần của thân chủ trước khi đề ra những mục tiêu cho hợp
đồng trị liệu. Kết quả cuộc phỏng vấn cho thấy một bảng tóm lượt các chi tiết của thân
chủ như sau:
Nhung là một thiếu phụ 45 tuổi, đang sống với chồng và hai đứa con trong một
khu đông dân cư tại một thành phố lớn. Nhung làm chủ một tiệm tạp hoá thường có
đông khách hàng nên có lợi tức khá, và chồng cô, Khánh, là nhân viên hoá chất cho
một công ty sản xuất thuốc nhuộm. Hai đứa con, Thủy là cô gái 19 tuổi, sinh viên
năm thứ nhất tại đại học khoa học xã hội, và Khoa là cậu trai 16 tuổi, đang học tại
một trường trung học cơ sở. Cha mẹ Nhung ở xa, nhưng cha mẹ chồng thì đang ở
trong khu phố chỉ cách gia đình Nhung khoảng 10 phút lái xe.
Nhung đến gặp nhà trị liệu với những triệu chứng mất ngủ và buồn khổ vì
những lý do liên quan đến chuyện gia đình. Trong lần gặp đầu tiên, cô cho biết tinh
thần cô bị suy sụp, luôn cảm thấy đời sống tiêu cực và khó khăn, nhiều khi không
muốn sống, mấy lần có ý tưởng muốn chấm dứt đời mình, nhưng rồi những ý nghĩ về
bổn phận và trách nhiệm với gia đình và cha mẹ đã khiến cô đã nhiều lần do dự. Cô
kê lê không có thứ lớp về những vấn đề rắc rối đang xảy ra trong gia đình tưởng
chừng như không bao giờ dứt.
Nội dung câu chuyện được nhà trị liệu phân ra từng vấn đề và tóm tắt lại như sau:

333

Nhung phàn nàn ông chồng về tính buông thả và xao lãng trách nhiệm với gia
đình. Theo cô thì Khánh vẫn đi làm việc đều đặn, nhưng sau giờ tan sở anh thường la
cà ở các quán nhậu với bạn bè cho đến tối mịt mới về nhà. Cô không biết lương tiền
chồng mình làm được bao nhiêu, nhưng anh luôn tỏ ra túng quẩn về tài chánh, không
đóng góp được bao nhiêu gánh nặng chi phí cho gia đình, mà thậm chí có khi còn lấy
tiền nhà đê tiêu xài nữa. Khánh không quan tâm đến việc học hành và sinh hoạt hằng
ngày của hai đứa con. Nhưng khi có những vấn đề rắc rối gì liên quan đến hai đứa
con thì anh thường đổ lỗi và oán trách vợ vì đã quá nuông chiều con cái nên chúng
trở thành hư hỏng, chứ anh không hề có chút suy nghĩ về bổn phận và trách nhiệm
của mình như là một người cha trong gia đình.
Nhung biết chồng mình hay nói gàn dở nhưng cô không hề cãi lại vì sợ bị tai
tiếng cho gia đình và nhất là sợ cha mẹ mình và cả cha mẹ bên chồng phiền lòng, cho
rằng mình đã hỗn láo với chồng. Đồng thời cô cũng nghĩ rằng do chính mình đã
không chăm sóc nuôi dạy con cái với hết bổn phận và trách nhiệm của một người mẹ
khiến chúng không được nên người tốt. Nhung tự thấy mình là người luôn có lỗi đối
với mọi chuyện xảy ra trong gia đình; vì thế cô rất băn khoăn, bối rối, lo lắng, buồn
khổ, và có cảm nhận tiêu cực về cuộc sống hiện tại.
Nhung cho biết cô có nhiều nỗi lo âu và thất vọng về tương lai của hai đứa
con. Việc học hành của cô con gái hồi còn ở bậc trung học thì cũng tạm được, nhưng
kê từ khi lên đại học bắt đầu lơ là nhiều và thường có quan hệ với đủ loại bạn trai.
Thủy thích ăn diện và hay đòi hỏi mẹ sắm sửa đủ thứ, hơn thế, cô còn hay hờn lẫy và
trách móc mẹ đã không đáp ứng nhu cầu cho con gái. Còn Khoa thì luôn bị nhà
trường gởi giấy khiên trách vì hay trốn học và không hoàn thành các bài vở. Cậu con
trai cũng ít khi được thấy mặt ở trong nhà, thường bỏ những bữa cơm gia đình và
suốt ngày giao du với bọn tre ngoài đường. Nhung vừa lo lắng cho tương lai của con
trai vừa cảm thấy bối rối, tự hỏi điều gì đã làm cho con trai không vừa ý với không
khí sinh hoạt gia đình.
Nhung sinh ra trong một gia đình có truyền thống Nho giáo với cuộc sống
thanh đạm. Từ tấm bé cô đã phụ giúp mẹ làm công việc nhà và chăm sóc các em. Cha
cô, ông giáo làng sống một đời mực thước và luôn tỏ ra nghiêm khắc với các con. Là
con gái, Nhung được cha mẹ trang bị các đức tính “tam tòng tứ đức” và “công dung
ngôn hạnh”. Năm 20 tuổi Nhung lấy chồng qua môi giới của người bà con có quen
biết với gia đình chồng, chứ thật ra cô chưa từng biết và có lòng yêu thương Khánh
trước đó. Sau đó cô theo chồng lên sống tại thành phố lớn và từ đó cô mở cửa hàng
334

buôn bán đồ tạp hóa. Nhung than rằng cuộc sống của cô chẳng khác gì mẹ, quanh
năm lặng lẽ làm lụng và phục vụ chồng con mà không từng có một tiếng than vãn.
Nhung nói cô cảm thấy cuộc sống buồn te, thất vọng và buồn khổ vì không có
sự chia se của chồng con và cũng không có sự cảm thông của cha mẹ ở cả hai phía.
Cô tin rằng những gì mình đang phải chịu là đê trả nợ cho những tội lỗi hình như cô
đã chuốc lấy từ kiếp trước.
Cuộc phỏng vấn sâu rộng đầu tiên đã cho phép nhà trị liệu (NTL) làm một bản đánh
giá và chẩn đoán, đồng thời phát họa kế hoạch chữa trị sơ khởi về trường hợp của TC như
sau:
NTL thẳng thắn nói với TC rằng quá trình cuộc sống cô đã biến cô có một dạng nhân
cách lệ thuộc, tiêu cực, trầm cảm, và ảo tưởng về vai trò của mình. Qua những mẫu
chuyện chia sẻ của TC, NTL đã phát hiện ra một số niềm tin phi lý, những tình cảm
không thích hợp, những ý tưởng tự động tiêu cực và méo mó về cá nhân mình; tất cả
những yếu tố đó tạo thành một nếp suy nghĩ bị ngăn trở bởi những qui kết và định kiến
không có lối thoát.
NTL cũng phát hiện được mức độ trầm cảm kéo dài của TC, nhưng hiện tại tương đối
không có gì trầm trọng. Điểm tích cực của TC là nhờ vào bản tánh biết chịu đựng và ý
thức về bổn phận của người phụ nữ đã in sâu vào tâm trí nên cô đã vượt qua được những
giai đoạn tinh thần bị suy sụp đến nỗi có ý tưởng tự hủy hoại bản thân. TC cho biết hiện
tại cô bị các triệu chứng khó ngủ, đêm thường bị thức dậy vì những giấc mơ xấu, nhưng
TC tin rằng cô vẫn đủ sức khỏe để đi làm việc bình thường.
Theo DSM-5, các triệu chứng trầm cảm của TC phù hợp với dạng Trầm cảm thứ
đẳng (Dysthymic Disorder), tức là một dạng trầm cảm ở mức độ nhẹ nhưng diễn biến lâu
dài qua nhiều thời gian và phần lớn do tác động từ hoàn cảnh và tình huống bên ngoài.
Để bảo đảm vấn đề mất ngủ của TC không có nguyên nhân nào từ các yếu tố thể chất,
NTL đề nghị TC nên có một cuộc trắc nghiệm y khoa tổng quát về thể chất, và để giúp
TC có thể ăn ngủ tốt hơn và tinh thần bớt sự giao động, NTL gợi ý với TC về một toa
thuốc chống trầm cảm (antidepressant). Đặc biệt, NTL khuyến khích TC tham gia vào
một tiến trình tâm lý trị liệu ngắn hạn, từ 12 đến 24 phiên gặp, để có sự thảo luận sâu
rộng về những vấn đề của TC trong điều kiện và tình huống gia đình của cô. TC từ chối
việc khám nghiệm tổng quát và dùng thuốc chống trầm cảm, nhưng chấp nhận sẽ sắp xếp
thì giờ để hợp tác với NTL về mặt tâm lý trị liệu.
335

Công việc chủ yếu trước khi bắt đầu cuộc trị liệu là NTL phải giải thích cho thân chủ
về ý nghĩa và cách tiếp cận của liệu pháp Nhận thức/Hành vi và yêu cầu TC cùng tích cực
tham gia nhằm tiến tới hoàn thành các mục tiêu. Là một chuyên gia Nhận thức/Hành vi,
NTL tin rằng những biến cố và tình huống trong cuộc sống tự chúng không gây ra những
cảm giác buồn bực, giận hờn, hay tội lỗi cho cá nhân, nhưng đúng hơn chính lòng tin và
sự đánh giá của cá nhân về biến cố và tình huống đó mới gây ra những cảm nhận khó
khăn cho họ. Nói khác hơn, trong các buổi làm việc, NTL sẽ đưa ra nhiều chứng minh cụ
thể để giúp TC hiểu rằng A (tình huống) không tạo ra C (cảm xúc), nhưng B (lòng tin,
định kiến, nhận thức của cá nhân) mới tạo ra những cảm xúc tiêu cực cho cá nhân. Như
thế tiến trình trị liệu sẽ tập trung vào những việc như sau:
Giúp thân chủ nhận biết nếp suy nghĩ xưa cũ có tính định kiến và qui kết, thay đổi các
niềm tin phi lý, tái đánh giá những tình cảm không thích hợp, chấm dứt thái độ tiêu cực,
lệ thuộc đối với các mối quan hệ trong gia đình, và nâng cao khả năng quyết định và tích
cực trong các cách cư xử và hành động.
Các kỹ thuật được áp dụng bao gồm ba điểm chính:
- Sử dụng lối đối thoại kiểu Socratic và những câu hỏi bỏ ngõ (open ended) (ví
dụ, cô có bằng chứng gì để cho thấy vấn đề đó là đúng không?) để TC thấy rõ những
ý tưởng cố chấp, sai lạc và bệnh hoạn đã trở thành nếp suy nghĩ cố hữu của TC và sau
đó khuyến khích thân chủ tạo dựng lối tư duy mới.
- Sử dụng kỹ thuật đối chất, tranh luận kiểu REBT để giúp TC gỡ bỏ những
niềm tin phi lý, không thực tế và thiếu khách quan, đồng thời hướng dẫn và phân biệt
cho TC thấy được điều gì là cần thiết nên làm và điều gì là quá đáng không cần thiết
phải làm trong bổn phận và trách nhiệm của một người vợ và người mẹ trong gia
đình.
- Cuối cùng là giao phó những bài tập thực hành, nhấn mạnh cho TC thấy rõ sự
cần thiết phải hoàn thành những bài tập được giao phó và khích lệ thân chủ tập luyện
đều đặn để thay đổi tư duy và hành động. NTL chủ động sắp đặt từng vấn đề quan
trọng trong mỗi buổi trị liệu để thảo luận và đối chất trong tinh thần xây dựng với TC.
Tóm lại, NTL sẽ sử dụng mọi phương pháp và kỹ thuật thích hợp của liệu pháp Nhận
thức/Hành vi để thay đổi được nếp suy nghĩ định kiến và những niềm tin sai lạc có hại
cho cuộc sống hiện tại của TC.

336

Dưới đây là một phiên trị liệu điển hình có mục đích đã phá cảm giác tội lỗi có tính
tiêu cực và bệnh hoạn của TC:
NTL: Trong cuộc nói chuyện trước cô nói rằng cô có cảm giác tội lỗi khi gia
đình cô không có không khí sinh hoạt đầm ấm vì mọi người đều theo đuổi những sinh
hoạt và thú vui riêng tư. Tôi tin rằng cô đã nói sự thật về tình hình gia đình, nhưng tôi
tự hỏi tại sao cô lại cho rằng vấn đề đó là do lỗi lầm của cô mà không phải là của
chồng cô hay của các con của cô?
TC: (Nói chậm rãi trong sự buồn bã) Tôi nghĩ rằng người đàn bà phải có bổn
phận quán xuyến mọi việc trong gia đình. Tôi e rằng mình đã có sự thiếu sót, không
khôn khéo tạo được tình thương nơi chồng nên có lẽ anh ấy hờn lẫy không muốn gần
gũi với gia đình mà đi tìm kiếm bạn bè đê ham vui. Tôi cũng vì tham công tiếc việc
nên đã không chăm sóc dạy bảo hai đứa con chu đáo khiến chúng trở nên lêu lổng
suốt ngày ngoài đường. Nếu tôi đã biết nên phải làm gì ngay từ ban đầu thì gia đình
tôi đâu có trở nên te nhạt như bây giờ, có phải không bác sĩ?.
NTL: Cô có nhìn thấy quan niệm về vai trò phải quán xuyến mọi việc trong gia
đình của người đàn bà là một ý tưởng quá đáng, cố chấp, có tính định kiến xưa cũ
không? Tại sao cô lại xem chồng cô không phải là người có trách nhiệm như cô về
mọi sự việc trong gia đình? Tại sao hai đứa con cô không biết nghĩ đến nỗi vất vả của
mẹ trong việc buôn bán kiếm tiền cho gia đình mà không chịu cố gắng tự lo cho
tương lai của chúng?
TC: Tôi cũng biết vậy, nhưng nghĩ cho cung tôi cũng thấy chính bản thân mình
đã có nhiều lỗi lầm trong các cách cư xử và điều hành trong gia đình. Lại nữa, khi
nào cha mẹ tôi và cả cha mẹ chồng cũng thường trách móc, đổ lỗi cho tôi về chuyện
hư hỏng của con cái.
NTL: Cô cho biết cụ thê những điều gì gọi là hư hỏng mà cả ông bà nội ngoại
hai bên thường quỡ trách cô?
TC: (Ngập ngừng) Thì như tôi đã nói đó. (Ngập ngừng) Thật ra tôi cũng không
biết nữa.
NTL: Theo tôi thì hầu như những gì cô tự cho là lỗi lầm của bản thân thật ra
chỉ là do từ trong ý nghĩ và cảm nhận chủ quan của cô mà thôi. Tôi còn có mấy vấn

337

đề cần thảo luận với cô trong câu chuyện này. Nhưng trước tiên tôi muốn hỏi có bao
giờ cô đem vấn đề này ra đê thảo luận công khai với chồng con chưa?
TC: (im lặng một lúc) Thật tình nhiều lúc tôi cũng nghĩ đến vấn đề đó, nhưng
rồi vì thương chồng thương con và cũng sợ ồn ào trong gia đình nên cứ đê mọi
chuyện trôi qua mà chỉ lo buôn bán kiếm tiền cho gia đình.
NTL: Tôi tán thành việc chăm lo kiếm tiền cho gia đình của cô, nhưng tôi
muốn cô suy nghĩ rằng sự thương chồng thương con của cô có thê thay đổi được hiện
trạng trong gia đình cô không nếu đằng sau tình thương đó là một thái độ tiêu cực và
tiếp tục bị lệ thuộc của cô đối với chồng con?
TC: Tôi không biết. Anh ấy khó tánh và đủ mọi lý lẽ nên tôi không làm sao bàn
luận được chuyện gì. Con cái tôi thì sợ cha nhưng cha con lại ít khi gặp mặt nhau
trong nhà nên rồi chúng hình như chẳng có ai đê sợ.
NTL: Đó chính là những điều tôi muốn cô phải nói ra. Cô không những vì
thương chồng con mà, theo tôi, cô còn sợ mọi phản ứng của chồng con. Tôi cho rằng
cảm xúc sợ hãi trong vấn đề này là yếu tố chính khiến cô chưa từng có ý kiến với
chồng con. Trong một phiên gặp khác tôi sẽ bàn thảo với cô lý do gì đã hình thành
trong cô bản tính nhút nhát, nhượng bộ, tiêu cực và lệ thuộc này. Nhưng hiện tại tôi
muốn cả hai chúng ta cung thảo luận đê tìm ra một kế hoạch hợp lý trong đó cô sẽ có
dịp nói thẳng những vấn đề gia đình với chồng con. Cô có muốn làm vậy không?
TC: Tôi không chắc có thê làm được, nhưng bác sĩ cứ nói thử đi.
NTL: Tôi muốn một buổi chiều nào đó vừa sau giờ tan sở cô mạnh dạn gọi
chồng về nhà với lý do là có chuyện khẩn cấp của gia đình. Điều cần thiết là cô hãy
chuẩn bị sẵn sàng đê nói ngay với chồng rằng từ nay anh ấy phải hạn chế tiêu xài và
ham vui với bạn bè, và có trách nhiệm giúp cô một tay đê chăm lo con cái và đóng
góp tài chánh cho gia đình. Cô có thê làm được điều đó không?
TC: Tôi không biết. Nhưng anh ấy không những sẽ không nghe lời mà có thê
còn nạt nộ, chửi mắng tôi một trận là đàng khác.
NTL: Có thê là như thế, nhưng tại sao cô không thử một lần xem? Nếu bảo
rằng có chuyện khẩn cấp của gia đình mà anh ấy vẫn không về thì cô nghĩ sao về anh
ta? Có bao giờ cô nghĩ rằng chồng cô chẳng yêu thương gì vợ con không?
338

TC: (suy nghĩ một lúc) Tôi cũng không biết rõ.
NTL: Vậy cô hãy thử một lần đi. Tuy theo phản ứng của anh ấy tôi sẽ có
những lời khuyên tiếp theo.
TC: Nếu nghe lời tôi mà anh ấy về nhà và lúc ấy khi thấy không có chuyện gì
xảy ra thì ảnh sẽ bắt tội là tôi đã nói dối. Như vậy sẽ càng rắc rối cho tôi hơn.
NTL: Nó có thê như vậy nếu cô vẫn giữ thái độ tiêu cực và lệ thuộc xưa cũ.
Nhưng lần này tôi muốn cô thay đổi hẳn thái độ. Tuy vẫn phải giữ sự từ tốn và nhu mì
nhưng tôi muốn cô có sự mạnh dạn và xác quyết trong lời nói. Chắc chắn là anh ấy sẽ
nổi lên cơn phẫn nộ khi nhận biết sự việc, nhưng cô cần nói ngay với anh ta rằng
hôm nay cô quyết định phải làm như thế đê có cơ hội bàn thảo nhiều việc quan trọng
trong gia đình và yêu cầu anh ấy phải lắng nghe. Tôi khuyên cô hãy mạnh dạn đê nói
những lời này: “Tôi báo cho anh biết sự chịu đựng của tôi tới đây là đã tận cung.
Nên hôm nay tôi đột ngột gọi anh về đê nói chuyện nhà. Nếu anh vẫn có thái độ gia
trưởng, không thèm nghe những lời phải trái của tôi thì sau hôm nay tôi dứt khoát sẽ
ra tòa xin ly dị”. Cô nghĩ có thê làm được không?
TC: Bác sĩ không hiêu rõ tánh khí của chồng tôi đâu. Anh ấy nóng nảy lắm nên
tôi mới phải luôn chiều ý và nhượng bộ đó.
NTL: Vậy thì tánh khí hai đứa con cô ra sao mà cô vẫn phải luôn chiều
chuộng đê chúng trở thành những đứa con lười biếng và hư đốn? Không! Tôi không
tin hẳn như thế. Tôi ước gì sẽ có dịp làm việc với anh ấy đê tìm hiêu thêm. Nhưng
trước tiên, tôi khuyên cô bình tĩnh suy nghĩ, tự đặt ra cho mình những câu hỏi về lối
cư xử yếu đuối và tiêu cực xưa nay đã gây ra những hậu quả khó khăn gì cho không
khí sinh hoạt của gia đình cô. Cách thương yêu chồng con mu quáng và cư xử chiều
chuộng, nhượng bộ trở thành thói quen của cô đã mang đến những tệ hại ra sao
trong gia đình?.
TC: (xịu mặt và nước mắt lưng tròng) Tôi nhận ra những nhận xét của bác sĩ
là có lý. Nhưng cha mẹ tôi từng dạy bảo rằng người phụ nữ phải biết phục tung,
nhường nhịn và chịu đựng. Mẹ tôi cũng sống một đời thầm lặng như tôi vậy mà sao
chẳng có chuyện gì rắc rối trong gia đình?
NTL: Nhưng mẹ cô có một người chồng tuy rằng nghiêm khắc nhưng ông ấy
đâu có cá tánh bê tha và vô trách nhiệm như chồng cô?
339

TC: (khóc một lúc) Bác sĩ nói đúng. Tôi ước gì có đủ can đảm đê sắp tới nói
thẳng những điều gì bác sĩ đã chỉ dẫn.
NTL: Tôi rất vui khi thấy cô bắt đầu hiêu được vấn đề. Tôi cũng hiêu rằng
“vạn sự khởi đầu nan”, nên cô cần phải tập luyện từng bước một nhiều lần cho thành
thạo trước khi quyết định hành động. Tôi sẽ đề ra những bài tập thực hành cụ thê đê
chúng ta cung nhau trao đổi và tập luyện trong các phiên gặp tới. Vậy cô nhất định
đồng ý chứ?
TC: Vâng ạ!
Trong các phiên kế tiếp, ngoài việc sử dụng các kỹ thuật của liệu pháp BT để tập
luyện những bước cần thiết và có hiệu quả tích cực mà TC cần ghi nhớ để sắp đến sẽ
mạnh dạn đối mặt với chồng trong các cuộc bàn thảo và tranh luận về vấn đề gia đình,
NTL còn dành riêng một phiên trị liệu để tập trung phân tích và giải thích cho TC hiểu
được tính tác động nhân quả giữa quá trình giáo dục và học hỏi trong gia đình với sự phát
triển và hình thành nhân cách và cá tánh của một người. Ngoài ra, nhận biết TC là người
phụ nữ có nếp suy nghĩ Nho giáo truyền thống, NTL còn giúp cô có những nhận thức
mới về một số thay đổi về lối sống, căn bản nhất là trong những quan niệm về “luân
thường đạo lý” và luật lệ xã hội giữa xưa và nay đối với vai trò vợ chồng trong gia đình
và sự bình quyền giữa hai giới tính nam nữ trong mọi góc cạnh sinh hoạt xã hội.
Trong một phiên trị liệu khác, NTL đã áp dụng kỹ thuật của liệu pháp REBT để
thuyết phục thân chủ nhận ra được tính cố chấp, thiển cận và thiếu hợp lý đối với những
điều TC luôn cho là “bắt buộc phải làm” trong bổn phận của người mẹ đối với con cái:
NTL: Những lần vừa qua chúng ta cũng đã thảo luận về những điều mà cô tin
tưởng như là bổn phận của người phụ nữ trong gia đình. Tôi không phản đối việc cô
đã cống hiến thì giờ của mình đê mưu cầu hạnh phúc cho chồng con, nhưng hôm nay
tôi muốn thảo luận lại một số vấn đề mà tôi nghĩ rằng cô đã quá cực đoan trong việc
tự phê phán mình và quá lý tưởng trong cách suy nghĩ về bổn phận nuôi dạy con cái.
Tôi đã nghe cô nói rằng nếu vai trò làm mẹ của cô tốt hơn thì chắc hai đứa con cô
bây giờ đã không như vậy. Tôi không hiêu cô sẽ làm tốt hơn được điều gì cho hai đứa
con?
TC: (ngập ngừng giây lát) Tôi cũng không rõ lắm. Nhưng tôi nghĩ rằng nếu tôi
có kiến thức học vấn và thì giờ gần gũi với các con nhiều hơn thì chắc là ít nhất tôi
cũng sẽ giúp chúng hoàn thành bài vở ở trường và chúng sẽ không bỏ nhà đi lêu lổng.
340

NTL: Tại sao cô vẫn giữ ý nghĩ vô lý đó trong tâm tư khi đã biết rõ nó không
phải là một thực tế của bản thân? Có phải nó xuất phát từ quan niệm lý tưởng tuyệt
đối về nhiệm vụ làm mẹ của mình không? Vậy lúc cô bằng tuổi các con mình thì cha
mẹ cô có còn giúp làm bài vở cho cô nữa không? Sự thật con cô học hành kém vì
chúng ham chơi và lười nhác hay vì không có ai giúp đỡ việc học cho chúng? Tại sao
chồng cô không phải ở nhà sau giờ tan tầm đê gần gũi và khuyến khích con cái học
hành trong khi cô đang còn bận việc buôn bán? Tại sao cô chỉ nhìn thấy vấn đề ở một
góc cạnh nhỏ hẹp đê rồi tự đổ lỗi cho cá nhân mình?
TC: Những câu hỏi của bác sĩ là hữu lý, nhưng tôi thường không biết làm sao
nên cứ suy nghĩ quanh quẩn vậy thôi.
NTL: Cô phải dứt khoát loại ra khỏi tâm trí lối suy nghĩ tự làm hại mình như
thế. Cô phải có cái nhìn tử tế hơn cho bản thân mình. Hiện tại công việc buôn bán
kiếm tiền cho gia đình của cô là chính yếu và rõ ràng xứng đáng với sự trân trọng
của chồng con rồi. Tôi nghĩ rằng chính mỗi người trong họ phải có những hành động
thích hợp và đúng đắn đê đáp trả sự trân trọng đó thì mới phải. Trong cái nhìn khách
quan và công bằng của người ngoài, tôi tin rằng ai cũng có thê nhìn thấy sự thiếu
hợp lý trong các quan hệ đối xử giữa các cá nhân trong gia đình cô.
TC: Bây giờ tôi hiêu những gì bác sĩ nói là đúng. Nhưng rồi tôi phải làm sao
đây?
NTL: Như tôi đã đề nghị từ trước, cô phải có quyết tâm và mạnh dạn làm theo
kế hoạch chúng ta đã bàn trong các cuộc thảo luận trước.
TC: Giá như anh ấy hoàn toàn bác bỏ ý kiến của tôi và cứ tiếp tục “ngựa theo
đường cũ” thì sao?
NTL: Tôi không tin như thế. Vấn đề là cô có mạnh dạn làm theo kế hoạch
không mà thôi. (Im lặng giây lát và giải thích thêm) Tôi tin rằng nếu là người có
nghĩa lý thì trước sau anh ấy phải nghĩ lại. Tôi tin vì bao lâu cô đã quá thúc thủ và
nhượng bộ nên anh ấy được trớn cứ chiều theo bản tính ham vui và bê tha của mình.
Nhưng lúc trực diện với phản ứng của cô, anh ấy sẽ sực tỉnh, thấy được sự sai trái
của mình và từ đó cũng nhận ra được sự đúng đắn và chỉnh chu của vợ mình. Trong
trường hợp ngược lại thì sự đâm đơn ra toà xin ly dị, theo tôi, cũng là một bước kế
tiếp đê anh ấy thêm một lần chun bước trước quyết tâm của cô. Tôi tin là chồng cô sẽ
thay đổi nếu cô thật sự quyết tâm làm những cử chỉ dứt khoát và hợp lý đó.
341

TC: Tôi có cần báo trước vấn đề cho các con tôi không?
NTL: Nếu cô bình tĩnh nói chuyện trước với con cái đê chúng ý thức được vấn
đề của gia đình cũng là điều tốt. Tốt nhất là nếu cô thuyết phục được cả gia đình
chồng con cung đến đây đê chúng ta bàn thảo những vấn đề cần thiết trong gia đình
thì tôi rất hoan hô và sẵn sàng làm việc với cả gia đình.
TC: Tôi sẽ cố gắng và sẽ báo kết quả cho bác sĩ.
NTL: Chúc cô thành công với kế hoạch đã bàn.
Trong vai trò trực tiếp hướng dẫn và tích cực thuyết phục của chuyên gia Nhận
thức /Hành vi, NTL còn tiếp tục làm việc lui tới từng vấn đề đã được đưa ra bàn thảo, từ
nếp suy nghĩ méo mó và định kiến đến những tình cảm nhu nhược và phi lý, cho đến khi
TC nhận thức rõ mọi sự việc và đủ quyết tâm hành động để thay đổi cuộc sống. NTL
cũng phải tích cực phụ giúp, thúc ép và kiểm tra đầy đủ những bài thực tập đã giao phó
cho TC. Đặc biệt, NTL phải chú ý giúp TC giảm thiểu các trường hợp tinh thần bị căng
thẳng (stress) bằng các kỹ thuật giải cảm có hệ thống.
Hợp đồng trị liệu theo phương thức của Nhận thức/Hành vi thường phải rõ ràng và
ngắn hạn. Tuy nhiên, tùy theo mức độ tiến triển của TC nhanh hay chậm, số lượng các
phiên trị liệu có thể rút ngắn hoặc gia tăng, và NTL cần giải thích rõ để luôn có sự thỏa
thuận của TC. Hợp đồng trị liệu đang thực hiện với bà Nhung được xem như đã đạt được
một phần mục tiêu và sẽ tiếp tục có nhiều chiều hướng thuận lợi nếu sắp đến có thêm sự
tham gia của ông chồng Khánh và hai người con Thủy và Khoa. Tuy nhiên vào lúc này
thì tiến trình trị liệu cho bà Nhung thỉnh thoảng sẽ có sự chen vào của các phiên trị liệu
theo hình thức liệu pháp gia đình cho đến khi đạt được những kết quả tương đối mà TC
và gia đình có thể chấp nhận.

342

CHƯƠNG 20

CA TRỊ LIỆU HIỆN SINH/NHÂN VĂN
1. Tóm lượt lý thuyết
Trường phái Hiện sinh/Nhân văn được cho là “lực thứ 3” trong lãnh vực học thuật tâm lý
trị liệu theo sau thời kỳ mà hai trường phái Phân tâm và Nhận thức/Hành vi đã được sự
ủng hộ nồng nhiệt của nhiều chuyên gia tâm lý. Sự hình thành của trường phái Hiện
sinh/Nhân văn là kết quả của một phong trào tư tưởng, xuất phát từ các triết gia và văn thi
sĩ đương thời, với những định nghĩa mới mẻ về các vấn đề liên quan đến bản thể của sự
vật và thân phận của con người trong vũ trụ.
Được cho là “lực thứ 3” vì trường phái Hiện sinh/Nhân văn đặt tầm quan trọng vào tiềm
năng phát triển lớn mạnh và thay đổi của cá nhân để phân biệt với các quan điểm chú tâm
vào tính đặt định và bẩm sinh của mỗi con người như quan điểm của các liệu pháp thuộc
về tâm động (psychodynamic) và nhận thức hành vi (cognitive behavioral),.
Các chuyên gia trường phái Hiện sinh/Nhân văn đã giới thiệu một số phương thức trị liệu
khác nhau, trong đó có các liệu pháp khá nổi bật như Nhân vị trọng tâm, liệu pháp Hiện
sinh, liệu pháp Hình thái đồng nhất, liệu pháp Thực tế, v, v,… Tuy vậy, quan điểm về bản
chất con người, quan điểm về bệnh lý và ngay cả phương thức, kỹ thuật, và tiến trình
chữa trị của các liệu pháp này, nói chung, vẫn không có những điểm nào quá độc đáo và
hoàn toàn khác biệt nhau. Do đó, trong thực hành nhà trị liệu sẽ cân nhắc và đánh giá
theo từng vấn đề và trường hợp đặc thù của mỗi thân chủ để quyết định chọn lựa liệu
pháp nào trong nhóm liệu pháp Hiện sinh/Nhân văn là đặc biệt thích hợp nhất để áp dụng.
Dưới đây là bảng tóm lượt một số liệu pháp phổ thông nhất của trường phái Hiện
sinh/Nhân văn:
a. Liệu pháp Nhân vị trọng tâm
- Quan điểm về bản chất con người và bệnh lý
Tác giả Carl Rogers cho rằng bản chất con người là tốt, thân thiện, hợp tác và xây
dựng. Mỗi con người đều là độc đáo về cá tính, kinh nghiệm, năng lực, niềm tin, khả
năng lựa chọn, và tiềm lực phát triển. “Cái tôi” hay “nhân cách” của một người là tất cả
những nhận thức và trải nghiệm đã được hình thành có khuôn mẫu và tổ chức xuyên suốt.
343