Tải bản đầy đủ
Hai quan điểm trị liệu phổ biến

Hai quan điểm trị liệu phổ biến

Tải bản đầy đủ

điều dưỡng viên... Nói rõ hơn, người bệnh cần có một nhà tâm lý chăm sóc đời sống tinh
thần, một bác sĩ cho toa thuốc làm cân bằng sinh hoạt thể chất, và các chuyên viên hỗ trợ
về đời sống thực tế và các mối quan hệ hằng ngày trong xã hội.
Một phương thức trị liệu thứ hai mang tính chất chiết trung/ tổng hợp được các
chuyên gia tâm lý hiện nay ưa chuộng là liệu pháp đa kiểu mẫu (Multimodal Therapy)
của tiến sĩ Arnold Lazarus đã được đề cập trong mục quan điểm chiết trung kỹ thuật
(technical eclecticism) ở trên.
Lazarus cho rằng liệu pháp đa kiểu mẫu của ông nhấn mạnh vào phần thực hành chứ
không nghiêng hẳn vào một lý thuyết nào đã có. Ông nhận định rằng tiếp cận trị liệu phải
có sự am hiểu sâu rộng và mang tính hệ thống. Muốn vậy thì phải nhìn thấy chân dung
toàn bộ của cái gì thuộc về con người. Ông mô tả con người của chúng ta căn bản là một
cơ thể sống bao gồm những phần tổng hợp của tâm-sinh lý-hoá chất. Sự sống và các hành
vi của một người là sản phẩm của mọi diễn tiến trong hành động và phản ứng, cảm giác,
tình cảm, tưởng tượng, suy nghĩ, và sự tương tác với các đối tượng bên ngoài. Từ quan
điểm đó Lazarus có nhận xét rằng bất cứ bệnh nhân nào cũng vậy, hầu như họ có rất
nhiều vấn đề liên quan nhau cần được giúp đỡ chứ không đơn giản chỉ có một. Do đó ông
cho rằng một liệu pháp đa diện (đa kiểu mẫu), bao gồm nhiều khía cạnh trong cách tiếp
cận vấn đề là thích hợp nhất, ông gọi là BASIC I.D (14).
BASIC I.D là chữ viết tắt bằng cách lấy chữ cái đầu của tên của các yếu tố dưới đây:
B= Behavior (hành vi)
A= Affect (tình cảm, cảm xúc, khí sắc, khí chất)
S= Sensation (cảm giác, cảm nhận)
I= Imagery (ý tưởng, tưởng tượng, mơ mộng)
C= Cognition (nhận thức, tri giác, tư duy)
I= Interpersonal relationship (các mối quan hệ liên cá nhân)
D= Drug/ Biology (Từ “drug” ở đây dùng để chỉ tất cả những điều kiện thuộc về
cơ thể trong hiện tại, bao gồm tình trạng thuốc men, các chất dinh dưỡng, vệ sinh cơ thể,
vận động thể dục thể thao, và phần sinh lý và bệnh lý của cơ thể).
307

Theo tác giả, liệu pháp đa kiểu mẫu BASIC I.D là phương thức trị liệu bao hàm toàn
bộ tính khí và nhân cách của thân chủ. Nó có khả năng giải thích và kiểm tra chức năng
của hành vi và mọi sự tương tác của thân chủ. Xuyên qua liệu pháp đa kiểu mẫu, nhà trị
liệu có thể giải đoán và làm việc với thân chủ trên mọi góc cạnh, từ các điều kiện thuộc
về xúc cảm cho đến tư duy nhận thức, mơ ước, cách ứng xử, và những dấu hiệu hay triệu
chứng thuộc về tinh thần và thể chất của thân chủ. Ngoài ra, liệu pháp đa kiểu mẫu cũng
không bỏ qua những vấn đề thuộc về văn hoá, xã hội, chính trị, và môi trường sống có
liên quan đến người thân chủ, vì thông thường muốn giải quyết rốt ráo những hành vi
chệch hướng hay triệu chứng bệnh lý của thân chủ thì cũng cần phải liên hệ đến những
yếu tố có thể có nguyên nhân xuất phát từ các vấn đề nêu trên.
Liệu pháp đa kiểu mẫu nhấn mạnh đến tính độc đáo của mỗi thân chủ chứ không tuân
thủ theo một khuôn mẫu trị liệu đặc trưng nào. Nói cách khác, tùy theo tính cách và điều
kiện của mỗi thân chủ mà ngay từ ban đầu nhà trị liệu có những hình thức điều hành khác
nhau. Nhà trị liệu có thể đóng vai trò thụ động (lắng nghe, ghi nhận, phản ảnh) đối với
thân chủ này, nhưng lại chủ động (tích cực, đối chất, hướng dẫn) đối với thân chủ khác.
Nhà trị liệu theo BASIC I.D phải xem xét các đặc điểm nổi bật của thân chủ và những
vấn đề của họ để quyết định tiến hành ca trị liệu. Ví dụ thân chủ đang trong cơn loạn thần
với những hành vi kỳ lạ và tư tưởng rối loạn thì việc trước tiên là phải chuyển thân chủ
đến trung tâm chữa trị tâm thần. Hoặc nếu có bằng chứng cho thấy thân chủ có ý định
giết người hay tự sát thì cũng phải đưa thân chủ đến bệnh viện để làm hạ cơn xúc cảm
trước khi có thể tiến hành tâm lý trị liệu với thân chủ.
Bản chất của liệu pháp đa kiểu mẫu là chiết trung ky thuật, nó là một khuôn khổ trị
liệu phù hợp và bao quát mọi vấn đề, được hình thành từ sự pha trộn hài hoà của các lý
thuyết tâm lý khác nhau. Liệu pháp đa kiểu mẫu có thể áp dụng cho cá nhân và gia đình.
Trong thực hành, liệu pháp đa kiểu mẫu vẫn luôn cho rằng mối quan hệ trị liệu là yếu tố
then chốt để ca trị liệu có cơ hội tiếp nối suôn sẻ và thành công. Trong phiên trị liệu đầu
tiên, sau khi thu thập đầy đủ các sự kiện thuộc về cá nhân của thân chủ, nhà trị liệu sẽ
đánh giá và nắm bắt vấn đề gì là nổi bật và ưu tiên nhất cần phải bắt đầu với thân chủ.
Nếu thân chủ trình bày rằng đang gặp khó khăn với nhiều vướng mắc, nhà trị liệu sẽ hỏi:
“Điều gì đang làm anh/chị bận tâm nhất?” hoặc “Theo ý anh/chị thì ngay bây giờ điều gì
cần phải giải quyết trước nhất?”. Nói khác hơn, nhà trị liệu không phải cứ làm việc cứng
ngắc và rập khuôn theo trình tự sắp xếp của BASIC I.D mà phải nương theo yêu cầu của
thân chủ để bắt đầu.
Liệu pháp đa kiểu mẫu có hai kỹ thuật chính trong tiến trình đối thoại với thân chủ:
308

- Thứ nhất là kỹ thuật theo dõi hay bám sát (tracking), nghĩa là nhận định và
tiến hành làm việc ngay với vấn đề gì mà thân chủ quan tâm nhất trong hiện tại chứ
không lệ thuộc vào một mô thức đã được liệt kê theo thứ tự. Mỗi thân chủ đều có
những trải nghiệm khác nhau trong quá trình trăn trở với những vấn đề của họ. Nếu
cảm xúc là vấn đề nổi bật nhất của thân chủ thì trong trường hợp này nhà trị liệu có
thể giải đoán vấn đề của thân chủ theo khuôn mẫu như sau: SCIB (sensory-cognitiveimagery-behavior), tức là cảm xúc (S) dẫn đến nhận thức sai lạc (C) đưa tới suy tư mơ
mộng huyễn hoặc (I) cuối cùng là hành động bất thường (B). Nếu theo dõi và cảm
thấy vấn đề nhận thức là nguyên nhân mấu chốt của triệu chứng của thân chủ thì
khuôn mẫu chẩn đoán sẽ là CISB (cognitive-imagery sensory-behavior), tức là nhận
thức sai lạc (C) đưa đến suy nghĩ, tưởng tượng, mơ mộng huyễn hoặc (I) đưa đến cảm
xúc quá đáng (S) đưa tới hành vi bất thường (B). Nếu vấn đề của thân chủ có nguyên
nhân bắt nguồn từ một mối quan hệ (I) nào đó thì khuôn mẫu giải đoán sẽ thay đổi
theo thứ tự I.BSCA (interpersonal-behavior-sensory-cognitive-affective), v, v…
Nói tóm lại, liệu pháp đa kiểu mẫu cho phép nhà trị liệu nhìn thấy vấn đề của
thân chủ một cách uyển chuyển chứ không tuân theo một khuôn mẫu cứng nhắc,
không thể thay đổi như một số các liệu pháp khác. Bằng cách theo dõi và bám sát vào
một chuỗi những sự kiện đã diễn ra khiến thân chủ hôm nay phải tìm kiếm sự giúp đỡ,
nhà trị liệu như vậy đã tạo điều kiện cho thân chủ có cơ hội nhận thức được nguyên
nhân vấn đề của mình cũng như những gì chính xác cần phải tiến hành và giải quyết
trong các phiên trị liệu.
- Thứ hai là kỹ thuật bắt cầu (bridging) được cho là một kỹ thuật mà theo đó
nhà trị liệu biết cách lèo lái những vấn đề thân chủ đang trình bày, chuyển đổi từ điểm
này qua điểm khác một cách êm thắm và có chủ đích, để rốt cuộc dẫn dắt cuộc đối
thoại đi vào hướng vừa thích hợp vừa có lợi cho thân chủ. Kỹ thuật này giúp tránh
được cách đối thoại theo kiểu đối chất hoặc là cuộc đối thoại bị bế tắt khi thân chủ
quên, tránh né hay không muốn đi sâu vào một vấn đề nào đó mà nhà trị liệu thấy cần
thiết phải nắm bắt. Theo liệu pháp đa kiểu mẫu thì thân chủ được tự do bắt đầu cuộc
đối thoại về một lãnh vực nào đó mà anh/cô ta quan tâm nhất, sau đó nhà trị liệu sẽ
lần lượt dẫn dắt thân chủ đi vào những kênh đối thoại có ý nghĩa và lợi ích hơn cho
việc chữa trị. Hãy xem thí dụ sau đây:
Thân chủ: Tôi thấy mình bị người ta xem thường một cách quá đáng, không
những trong gia đình mà tại công ty tôi đang làm cũng vậy.
Nhà trị liệu: Bị xem thường như vậy thì anh cảm thấy thế nào?
309

Thân chủ: (không trả lởi thẳng câu hỏi) Tôi có hai người anh, ai cũng học
hành thành đạt và có công việc làm tốt nên cha mẹ tôi thương yêu và nuông chiều.
Mọi người xem tôi như không có mặt trong gia đình. Tại công sở thì tôi là nhân
viên hạng bét vì không có nhiều học vấn và lương tiền thì quá ít ỏi.
Nhà trị liệu: (tiếp tục lắng nghe và góp ý vào những ý nghĩ của thân chủ)
Tại sao lại như thế? Vậy anh có hay chuyện trò gì với hai người anh của anh
không?
Thân chủ: Họ bận đi họp hành suốt ngày tôi làm gì có dịp nói chuyện với
họ?
Nhà trị liệu: Thế thì ở nơi anh làm việc có bao giờ anh nghe ai đó nói điều
gì tỏ ra khinh bỉ hay xem thường anh không?
Thân chủ: Nhìn thái độ và cách cư xử của họ là tôi biết ngay chứ cần gì
phải nghe.
Nhà trị liệu: (bắt cầu) (trở lại câu hỏi trước để thăm dò sâu hơn về mức độ
cảm xúc của thân chủ khi cảm thấy mình bị người ta xem thường) Trong những
trường hợp như thế thì anh cảm thấy ra sao?
Thân chủ: Tôi thấy ruột gan tôi như sôi lên vậy.
Nhà trị liệu: (muốn thân chủ tiếp tục bộc lộ đầy đủ hơn về cảm giác của
mình) Rồi anh thấy sao nữa? Tinh thần anh lúc đó ra sao?
Thân chủ: Tất nhiên là tôi quá giận dữ, đầu óc tôi như rối lên với nhiều ý
nghĩ. Tôi vừa giận vừa cảm thấy buồn bực, chán nản…
(cuộc đàm thoại còn nhiều tiếp nối)
Đoạn đối thoại trên chỉ là một ví dụ đơn giản về kiểu đàm thoại theo kỹ thuật bắt
cầu. Cách làm này có nhiều chủ đích: -tìm hiểu đầy đủ chi tiết hơn về một khía cạnh nào
đó trong các vấn đề của thân chủ. -tạo thêm cơ hội cho thân chủ có dịp trình bày hết
những gì cần phải nói ra để tâm trí giảm bớt căng thẳng. –để thân chủ thấy rằng nhà trị
liệu luôn quan tâm đến mọi vấn đề và luôn nói chung tiếng nói của thân chủ.

310

4. Tổng kết
Cũng tương tự như quá trình sinh hoạt đầy tính huyên náo và phân rẽ của các trường
phái tâm lý học truyền thống đã từng xảy ra trong quá trình phát triển môn khoa học tâm
lý trị liệu, cuộc tìm kiếm trong gần 20 năm qua cũng đã gây ra nhiều bàn cãi, tranh luận
ồn ào. Tuy thế, rút cuộc vẫn không có một quan điểm nào khả dĩ mang lại sự đồng thuận
về một giải pháp chung nhất cho liệu pháp chiết trung/tổng hợp để làm mực thước cho sự
thực hành của các nhà trị liệu tâm lý. Nhưng đứng trên một góc cạnh khác, những quan
điểm khác biệt nhau giữa các chuyên viên phải nên nhìn nhận đó là một hành động thật
sự cần thiết để các nhà trị liệu gia tăng sự hiểu biết về môn học phức tạp cho mà họ đang
theo đuổi; như thế, đây là điều đáng được khích lệ chứ không phải xem đó là một sự mâu
thuẫn, một dịp để cải vã, chống đối nhau.
Dù công cuộc tìm kiếm cho con đường tương lai trong ngành tâm lý trị liệu còn dài,
và ngay cả cho đến nay những bằng chứng cụ thể về tính hiệu quả, hiệu lực, tính khoa
học thực nghiệm của bộ môn tâm lý trị liệu vẫn còn nhiều bàn cãi, tâm lý trị liệu vẫn
nghiễm nhiên chiếm giữ một vị trí cần thiết trong việc nâng cao cuộc sống con người và
luôn được sự ủng hộ của nhiều khu vực cộng đồng văn minh trên thế giới. Cũng như
thuốc men trong ngành y và luật pháp áp đặt cho xã hội con người, sự xuất hiện của
ngành tâm lý trị liệu có thể được xem là một sứ mạng, là một yếu tố thiết yếu không thể
không có cho nỗ lực đem lại cuộc sống an bình của nhân loại.
Trong thực hành hiện nay, hầu hết các chuyên gia tâm lý đều sử dụng kinh nghiệm sở
trường của cá nhân, cộng với kiến thức được đào tạo từ các học viện chuyên dạy những
đề mục chuyên môn theo sở thích lựa chọn của học viên. Điều này không có gì là sai trái
đối với bản chất của ngành tâm lý trị liệu, nhưng qua đó ta có thế xác định được rằng
phạm trù thực hành tâm lý trị liệu là một địa bàn rộng lớn, có khi là không có giới hạn, nó
song song và đồng nghĩa với tính chất vô giới hạn của những vấn đề xảy ra trong cuộc
sống của cộng đồng nhân loại.
Cá nhân hành nghề tâm lý trị liệu có quyền sử dụng sở trường của mình trong công
tác chữa trị có tính chuyên môn, nhưng điều này không có nghĩa là cá nhân không phải
chịu trách nhiệm về những sai trái và hư hỏng do khả năng kém cỏi trong kiến thức và
kinh nghiệm chuyên môn của mình. Tâm lý trị liệu không phải là môn toán học buộc phải
có những con số giải đáp chính xác, cần phải áp dụng chính xác những công thức và định
đề đã được sắp xếp sẵn. Thế nhưng tâm lý trị liệu rất cần đến kiến thức và kinh nghiệm;
nghĩa là càng nghiên cứu học hỏi, càng thấu hiểu và quán triệt tất cả những quan điểm,
311

lý thuyết, phương thức, kỹ thuật khác nhau giữa các trường phái sẽ càng giúp gia tăng
kiến thức và tài khéo cho người hành nghề.
----------------------------------

312

Câu hỏi:
1- Theo ý anh/chị thì những nỗ lực tìm kiếm một liệu pháp chữa trị có tính tổng

hợp/chiết trung của các chuyên gia tâm lý có thừa thải và vô ích không?
2- Theo ý anh/chị thì trong bốn hướng tiếp cận được các chuyên gia đề nghị cho liệu
pháp tổng hợp/chiết trung hướng tiếp cận nào tỏ ra bao quát và phù hợp nhất?
3- Những yếu tố quan trọng nào làm cho anh/chị có thể hy vọng là một ca trị liệu sẽ
có chiều hướng thành công về sau?
4- Nhà trị liệu cần hội đủ những yếu tố nào để áp dụng lý thuyết tổng hợp/chiết trung
trong một ca trị liệu?

313

PHẦN C

Tóm lượt nội dung:
Phần C là phần thực hành tâm lý trị liệu, gồm có 5 mẫu thí dụ cho năm trường hợp khác
nhau theo cách thức trị liệu của 5 liệu pháp chính, được xem là có tính độc lập về quan
niệm bệnh lý, khác nhau về các phương cách và kỹ thuật tiếp cận cũng như các kiểu cách
trong tương tác và đối thoại.
Những ca trị liệu làm mẫu này chỉ là những kịch bản tưởng tượng, có mục đích giúp cho
học viên biết áp dụng những phần lý thuyết đã học vào thực tế công việc trị liệu của một
số trường phái tâm lý nổi bật. Những nội dung thông tin hàm chứa trong các ca mẫu này
chỉ là hư cấu, không có ý định ám chỉ đến bất cứ một trường hợp cụ thể nào; do đó, nếu
có những sự kiện trùng lặp hay tương tự thì chỉ là vấn đề ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của
người biên soạn.
Thông thường một hợp đồng tâm lý trị liệu muốn được hoàn thành thì phải qua một tiến
trình trị liệu gồm có ba giai đoạn dài ngắn tùy theo mỗi trường hợp. Tuy thế, trong khuôn
khổ hạn định của một cuốn giáo trình, mục đích của các ca trị liệu mẫu dưới đây là chỉ
ghi tóm tắt lại cách điều hành và những phần đối thoại đặc biệt để học viên làm quen
với các phương pháp và kỹ thuật trị liệu của mỗi trường phái được liệt kê dưới đây:
Chương 18: Một ca thí dụ mẫu của liệu pháp phân tâm học.
(Thực hành trị liệu theo phân tâm học là công việc đòi hỏi sự thông hiểu sâu sắc về lý
thuyết phân tâm và tâm động. Do đó, học viên nào muốn thực hành sở trường liệu pháp
này thì cần nỗ lực tra cứu thêm và học hỏi nhiều kinh nghiệm qua thực tế và đồng nghiệp.
Học viên chuyên ngành cấp đại học cũng cần phải thông hiểu các phần lý thuyết của liệu
pháp, dù cho không đặt nặng về phần thực hành).
Chương 19: Một ca thí dụ mẫu của liệu pháp Nhận thức –Hành vi.
Chương 20: Một ca thí dụ mẫu của liệu pháp Hiện sinh/Nhân văn.
Chương 21: Một ca thí dụ mẫu của liệu pháp Gia đình.
314

Chương 22: Một ca thí dụ mẫu của liệu pháp Tổng hợp/Chiết trung.
------------------------------

315

CHƯƠNG 18

CA TRỊ LIỆU PHÂN TÂM HỌC
1. Tóm lượt lý thuyết:
a. Quan niệm bệnh lý và phương pháp trị liệu:
Phân tâm học quan niệm hầu hết các loại rối nhiễu tâm lý tâm thần đều có tính tâm
căn (neurotic). Tâm căn là những triệu chứng rối loạn tâm trí có nguyên nhân từ các cảm
xúc, chấn thương, ẩn ức, khát vọng và tham muốn… từng bị đè nén, bóp méo, và chôn
vùi trong vô thức khởi đi từ trẻ thơ mà không có cơ hội thoát ra khỏi tâm trí. Theo Freud,
những triệu chứng tâm căn là nguyên nhân phát sinh ra nhiều dạng bệnh lý tinh thần và
nhân cách khác thường, như tâm trạng lo âu, buồn khổ, nóng giận, sợ hãi, ám ảnh cưỡng
bức, nghiện ngập, cá tánh lập dị, lệ thuộc, đồng tính luyến ái, v, v… Qua kinh nghiệm
chữa trị căn bệnh gọi là chứng điên loạn tâm căn (hysterical disorder) (một căn bệnh ngất
xỉu nhưng hoàn toàn không có bằng chứng gì liên quan đến sự hư hỏng của phần sinh lý
thể chất), Freud và các tâm lý gia tâm động (psychodynamic) tin tưởng rằng quan điểm
tâm sinh (psychogenic) của họ về các triệu chứng tâm bệnh là một lập trường đúng đắn.
Đặc biệt trong phân tâm học, Freud dùng thuật ngữ “sự ngưng đọng năng lượng
tâm lý” (fixation of psychic energy) để nhấn mạnh đến những tình trạng trục trặc, không
vượt qua được một cách êm thắm các giai đoạn phát triển đầu đời của một cá nhân, trong
đó cái được gọi là phức cảm hay mặc cảm Oedipus (đứa trẻ trai thường thích mẹ ghét
cha) và mặc cảm Electra (đứa trẻ gái thường thích cha ghét mẹ) là hai khuynh hướng
quan trọng trong số các nhu cầu thuộc về bản năng. Theo Freud, những mặc cảm có liên
quan đến giới tính này cũng như các nhu cầu đòi bú, đòi ngủ, đòi được nuông chiều…
ngay từ lúc hài nhi mới sinh ra là những động năng thôi thúc tự nhiên của phần sinh lý cơ
thể trong con người. Thế nhưng trong quá trình đứa trẻ phát triển tư tưởng và cảm xúc,
những xung năng và thôi thúc của thể lý dần dà được biến thể để trở thành những nhu cầu
tâm lý như sự mơ ước, tưởng tượng, khao khát, tham vọng, suy tính, hiếu chiến, đắn đo,
sợ hãi, lo lắng, ám ảnh… tạo thành những động năng luôn có sự tranh chấp, đối kháng,
thôi thúc và đè nén lẫn nhau trong nội tâm.
Tóm lại, tuy phân tâm học thừa nhận tính đặt định bẩm sinh và di truyền của phần thể
lý, nhưng ông luôn nhấn mạnh về tầm quan trọng của mối tương quan có tính năng động
giữa các xung lực của bản năng sinh lý và các trải nghiệm trong tuổi trẻ đối với sự
phát triển và hình thành nhân cách. Nói cách khác, những triệu chứng tâm căn hiện tại
316

của thân chủ đều có gốc rễ từ những xung đột lâu dài giữa các yếu tố tâm lý đang ẩn náu
trong phần vô thức của thân chủ. Như thế, nếu khai quật hay tẩy trừ được các chấn
thương, ẩn ức, cảm xúc phi lý, mặc cảm tội lỗi…thì có nghĩa là nhà trị liệu đã giải quyết
được vấn đề, giúp thân chủ có được sự hiểu biết rộng rãi hơn về cơ cấu tâm sinh lý của
họ, để thân chủ trở về lại với con người thật của mình và để có cuộc sống mới thích ứng
với thực tại.
Phân tâm học không phải là một loại liệu pháp dùng để chữa trị những vấn đề bệnh lý
có tính nguy cơ và khẩn cấp. Mục đích của nó là giải quyết những vấn đề đang tiềm ẩn
trong sinh hoạt vô thức của cá nhân; chẳng hạn, những khó khăn hay mặc cảm liên quan
đến tư tưởng, thái độ, cảm xúc, những ứng xử có tính bệnh lý trong sinh hoạt thường
ngày liên quan đến công việc, hôn nhân, các mối quan hệ với tha nhân, v, v, …Liệu pháp
phân tâm là một tiến trình phân tích, giải thích và định hướng lại nhân cách của người
bệnh, thường đòi hỏi thời gian chữa trị lâu dài để dựng lại những trải nghiệm trong
quá khứ và khơi thông các yếu tố mâu thuẫn nội tâm như là cách để giúp thân chủ
tìm lại được con người thật của mình. Một số phương pháp và kỹ thuật thường được
nhà phân tâm trị liệu sử dụng như sau:
- Phương pháp tiếp cận của phân tâm học thường tỏ ra lỏng lẻo và thư giãn
ngay từ ban đầu. Nhà trị liệu để cho thân chủ tự do ngã lưng hay nằm trên cái ghế dài
và có thể ngồi phía sau hay một chỗ hơi xa để tránh sự quan tâm chú ý của thân chủ.
Nhà trị liệu gợi ý cho thân chủ có thể nói lên bất cứ điều gì hiện ra trong tâm trí trước
nhất, không cần thứ tự, ý nghĩa hay nội dung. Kỹ thuật này gọi là hình thức “tự do
liên tưởng” và nhà trị liệu luôn giữ vị trí trung lập, không ngăn trở, can thiệp bằng
những câu hỏi hay đối chất, và cũng không tỏ ra có những cử chỉ hay phản ứng khác
thường. Nhưng nhà trị liệu cần lưu ý ghi chép những sự kiện được cho là quan trọng
trong câu chuyện của thân chủ. Trong những lần gặp mặt về sau, khi thân chủ quen
dần với mối quan hệ trị liệu thì lúc đó nhà trị liệu có thể tham dự vào câu chuyện của
thân chủ bằng những câu hỏi để vừa soi sáng thêm những khúc mắc vừa hướng dẫn
thân chủ đi sâu hơn vào sự tìm hiểu về nội tâm của mình.
- Phân tâm học quan niệm rằng một khi thân chủ đã muốn tìm đến nhà trị liệu
tức là trước sau gì sự trình bày của họ cũng sẽ cho thấy một chuỗi những sự kiện
chính yếu đã xảy ra trong đời họ, bao gồm gia đình, cha mẹ, tuổi thơ, học hành, công
việc, quan hệ với thân thuộc và tha nhân, những trải nghiệm trong đời, các tai nạn, ký
ức khổ đau, tình yêu, tình dục…Tuy nhiên, để sắp xếp thứ tự theo thời gian và tìm ra
ý nghĩa đích thực cho chuỗi sự kiện và biến cố về cuộc đời mà thân chủ đã kể, vào lúc
317