Tải bản đầy đủ
Những lợi ích của nhóm liệu pháp

Những lợi ích của nhóm liệu pháp

Tải bản đầy đủ

cảm giác cô đơn, buồn tẻ, và ngay cả cùng nhau tập tành, học hỏi để làm chậm lại đà
xuống dốc nhanh chóng về thể chất và trí tuệ thường xảy ra cho những bệnh nhân loại
này. Song song với liệu pháp cá nhân, liệu pháp nhóm cho số bệnh nhân này thường được
các chuyên gia cho là rất cần thiết và có nhiều hiệu quả chữa trị.
---------------------------------

298

Câu hỏi:
1- Nếu được giao phó công tác điều hành nhóm thì anh/chị thích làm trưởng nhóm
234-

56-

cho các loại nhóm liệu pháp nào? Tại sao?
Anh/chị giải thích chi tiết tại sao các chuyên gia khuyến cáo rằng liệu pháp nhóm
cho trẻ em không nên chọn các em thành viên quá nhau hai tuổi đời?
Liệu pháp gia đình có những yếu tố gì khác với liệu pháp nhóm?
Nếu cần tuyển lựa người tham gia vào một nhóm liệu pháp nào đó thì anh/chị thấy
những điểm gì là cần thiết và quan trọng nhất để người đó có đủ tiêu chuẩn gia
nhập nhóm một cách hợp lệ?
Tại sao tiến sĩ Yalom nói giai đoạn sinh hoạt khởi đầu của một nhóm liệu pháp
thường là rất quan trọng để tiên đoán cho sự thành công hay thất bại của nhóm đó?
Anh chị có ý kiến gì khi tiến sĩ Brandler nói liệu pháp nhóm có hai yếu tố chữa trị
chính yếu là “tính thân mật” và “sự tẩy xã”?

299

CHƯƠNG 17

LIỆU PHÁP TỔNG HỢP/CHIẾT TRUNG
(INTEGRATION/ECLECTIC PSYCHOTHERAPY)
1. Khái niệm:
Từ chiết trung (eclecticism) theo nghĩa nguyên ngữ là “lấy ra cái trung bình, cái ở
giữa”. Nhưng khi sử dụng trong phạm trù tâm lý trị liệu thì nó lại có nghĩa là “tuyển chọn
và tổ chức lại”. Nói rõ hơn, đây là một hình thức chọn lựa những lý thuyết, quan điểm, kỹ
thuật nào thích ứng và phù hợp với nhau để tổ chức lại thành một hệ thống trị liệu có thể
gia tăng hiệu lực và hiệu quả hơn, hoặc là một phương pháp có tính cách hoá giải, làm
giảm thiểu sự tương phản của những lý thuyết, quan điểm nào thường đối nghịch, không
thích hợp với nhau trong tiến trình trị liệu (1).
Từ những thập niên 1990, nhiều chuyên gia tâm lý đã cố gắng tìm kiếm một phương
thức trị liệu nào đó có thể mang lại nhiều hiệu quả tốt đẹp hơn, nói cách khác, là một
phương thức trị liệu tâm lý có tính tổng hợp/chiết trung, vì họ không thỏa mãn với tính
cách khiếm khuyết và kém hiệu lực của mỗi trường phái trị liệu đã có sẵn, cộng với lòng
khao khát là luôn muốn tìm tòi học hỏi được điều gì đó mới lạ bên ngoài cái khuôn khổ lý
thuyết và kỹ thuật của các trường phái trị liệu đã từng được áp dụng. Theo John
Norcross, cuộc điều tra năm 2003 cho thấy trong số những ca trị liệu thành công thì tầm
quan trọng của những yếu tố thuộc về bản chất của mối quan hệ giữa nhà trị liệu và thân
chủ là vượt trội, trong khi đó chỉ có 10-15% các ca trị liệu thành công là nhờ vào phương
pháp và kỹ thuật trị liệu (2).
Các chuyên gia tâm lý nhận thấy rằng không có một lý thuyết và kỹ thuật của liệu
pháp tâm lý đơn lẻ nào có thể có tính bao quát và hiệu quả cho mọi trường hợp chữa trị.
Mỗi trường phái chỉ quan tâm và nhấn mạnh vào một số yếu tố được cho là chính yếu,
nhưng lại bỏ qua các yếu tố bên cạnh cũng không kém phần quan trọng. Chẳng hạn, phân
tâm học quá chú tâm vào việc chữa trị những triệu chứng tâm căn do các chấn thương và
ẩn ức thời thơ ấu, nhưng lại xem nhẹ những vấn đề có tính cách môi trường và xã hội của
thân chủ đang vướng mắc trong hiện tại. Trong khi đó liệu pháp hành vi lại chỉ đặt trọng
tâm vào việc sửa đổi các hành vi, các triệu chứng đang là vấn đề của thân chủ trong hiện
tại mà không chú ý gì đến những yếu tố di truyền, chấn thương đã có trong quá khứ mà
chính chúng có thể là nguyên nhân sâu xa gây ra những vấn đề hiện tại cho thân chủ.
300

Đồng thời lại cũng có rất nhiều trường phái mang những nhãn hiệu mới mẻ khác
nhau, nhưng về mặt hình thức và kỹ thuật trị liệu thì lại rất tương tự và trùng lặp với
nhau. Lãnh vực tâm lý trị liệu, qua nhiều thập niên, đã trở thành một sân chơi vừa quá tải
lại vừa quá manh múm. Có đến gần cả 400 liệu pháp tâm lý khác nhau từng được giới
thiệu, trong đó có nhiều liệu pháp thường có những điểm đối nghịch lẫn nhau, nhưng lại
chưa từng được trắc nghiệm để có thể đánh giá và so sánh tính hiệu quả giữa chúng. Hơn
nữa, cũng chưa có liệu pháp nào từng được nhiều chuyên gia xác nhận là thường mang lại
nhiều kết quả trị liệu vượt trội. Vậy thì để cho một chuyên viên có đủ thì giờ và khả năng
nhận biết, nghiên cứu, học hỏi, và ghi nhớ hết tất cả mọi liệu pháp đã từng được giới
thiệu là điều khó khăn. Thêm vào đó, thực tế cho thấy qua kết quả của nhiều cuộc nghiên
cứu và kiểm tra, dù cho các chuyên gia đã chứng minh được tính hiệu nghiệm của môn
tâm lý trị liệu nói chung, họ vẫn không thể nào phân tích ra được để xác định liệu pháp
tâm lý đặc thù nào là tốt nhất, phù hợp nhất và hiệu quả nhất so với các liệu pháp khác
(3).
Nhu cầu tìm kiếm này đã gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi giữa các chuyên gia
tâm lý đương thời. Một số người dù vẫn tán trợ việc tìm kiếm một giải pháp chung nhất,
nhưng vẫn không đồng ý rằng cần phải chối bỏ những giá trị của riêng từng lý thuyết đã
có. Một số người khác thì cho rằng nếu không có liệu pháp nào là vượt trội thì cách tốt
nhất là rút ra từ các lý thuyết khác nhau những phương thức và kỹ thuật nào mà kinh
nghiệm cá nhân nhà trị liệu cho là thích hợp nhất rồi kết hợp áp dụng cho trường hợp trị
liệu. Nhưng lại có các chuyên gia khác cho rằng làm như vậy vẫn không ổn, vì nếu lấy
những kỹ thuật từ các lý thuyết khác nhau để áp dụng mà không có cơ sở thực nghiệm cụ
thể thì đó chẳng qua chỉ là một sự pha trộn hỗn tạp.
Điểm đặc biệt là vào thời gian này các công ty bảo hiểm y tế cũng gây ra nhiều sức ép
lên giới chuyên gia trị liệu tâm lý tâm thần, vì bảo hiểm không muốn phải chịu quá nhiều
phí tổn cho những ca chữa trị kéo dài quá lâu theo các phương thức tâm lý trị liệu cổ
điển. Đồng thời, sự sản xuất các loại thuốc tâm lý tâm thần vào lúc này cho thấy việc sử
dụng dược lý trị liệu đã đóng góp một phần kết quả nhất định vào khả năng làm cho cơn
bệnh thuyên giảm nhanh lẹ nhất. Nhưng thời gian trôi qua cũng đã chứng minh được rằng
thuốc chỉ giúp làm thuyên giảm bệnh, và đặc biệt nếu có một số bệnh nào được lành hẳn
thì cũng thường bị tái đi tái lại; và hơn nữa vẫn còn rất nhiều vấn đề phức tạp thường nổi
lên trong nhân gian và xã hội mà không thể nào dùng thuốc để chữa trị, ngoại trừ khả
năng chữa trị bằng sự can thiệp của tâm lý trị liệu mà thôi.
Sau sự ra đời của tổ chức gọi là Hiệp hội Nghiên cứu Liệu pháp Tổng hợp (Society
for the Exploration of Psychotherapy Integration) (SEPI) cùng với tờ nguyệt san của hội
301

là Journal of Psychotherapy Integration, thì các chuyên gia đương thời khắp nơi trên thế
giới bắt đầu liên tục đưa ra nhiều lập luận khác nhau đối với quan điểm về một liệu pháp
tổng hợp cho ngành tâm lý trị liệu. Cho đến khoảng thập niên 2010 thì càng ngày càng có
nhiều sự đồng thuận về nỗ lực cần phải tìm kiếm một quan điểm tổng hợp cho ngành tâm
lý trị liệu. Nhưng, trong một bối cảnh sinh hoạt xã hội mang tính chất đa nguyên và đa
dạng, các chuyên gia đã xây dựng quan điểm tổng hợp của mình dựa trên những lý thuyết
và lập luận khác nhau.
Trước tiên, trong nỗ lực cùng nhau tiến tới một mục đích chung, các chuyên gia cho
rằng các thuật ngữ tổng hợp (integration), nối kết (rapprochement), đồng hoá
(assimilation), hay chiết trung (eclecticism) cũng không có gì trái ngược nhau về mặt ý
nghĩa đối với một mục đích chung là làm gia tăng khả năng sử dụng và tính hiệu quả của
một liệu pháp tâm lý (4). Quan tâm chính yếu của họ là làm sao xây dựng được một lý
thuyết có thể mang lại nhiều hiệu quả chữa trị trong lãnh vực tâm lý tâm thần, chứ không
nên bị gò bó trong ý nghĩa bên ngoài của một thuật ngữ. Tính cách chiết trung trong thực
hành hay hành động phối hợp lý thuyết từ các liệu pháp tâm lý cũng đều mang ý nghĩa
như nhau trong nỗ lực cùng nhau đi tìm hướng tương lai cho ngành tâm lý trị liệu. Nói
cách khác, hai từ chiết trung hay tổng hợp đều mang những ý nghĩa tương tự.
Thứ đến, phong trào tìm kiếm sự tổng hợp cho các liệu pháp tâm lý đã tạo ra rất nhiều
quan điểm khác biệt giữa các giới chuyên gia, và đây cũng là cơ hội để các chuyên gia
cho ra đời nhiều lý thuyết tiếp cận tổng hợp khác nhau. Về sau Norcross và Goldfried
tổng gộp các lý thuyết này lại thành 4 hướng tiếp cận chính yếu. Tất cả 4 hướng tiếp cận
này đều mang những đặc tính chung là cố gắng làm gia tăng tính hiệu lực, hiệu quả, và
khả năng áp dụng của liệu pháp, bằng cách vượt qua tính cách hạn chế về phương pháp
và kỹ thuật của các trường phái lý thuyết truyền thống cũ (5).
2. Bốn hướng tiếp cận phổ biến
2.1. Quan điểm chiết trung kỹ thuật (Technical Eclecticism)
Quan điểm này nghiêng về thực hành nhiều hơn là lý thuyết, nghĩa là nhà trị liệu
phải tiên đoán được rằng những loại thân chủ nào thì sẽ phù hợp với phương pháp tiếp
cận nào đang phổ biến. Tuy thế, nhà trị liệu cũng phải hiểu là khi đặt tầm quan trọng vào
phần thực hành không có nghĩa là phải hoàn toàn bát bỏ hay chống lại lý thuyết. Tiêu
biểu nhất cho quan điểm chiết trung kỹ thuật là Liệu pháp đa kiêu mẫu (Multimodal
Therapy) của Lazarus, và Liệu pháp hệ thống tuyên chọn và kê đơn (Systematic
Treatment Selection and Prescriptive Psychotherapy) của Beutler, Consoli và Lane.

302

Chuyên gia lý thuyết chiết trung kỹ thuật sẽ sử dụng kiến thức và kinh nghiệm của
mình để lập ra một kiểu chữa trị tốt nhất cho người thân chủ và những vấn đề của họ.
Hình thành kiểu chữa trị này bằng cách biết rút ra được những cốt lõi của các lý thuyết
khác nhau để áp dụng phù hợp và hữu hiệu nhất cho ca trị liệu chứ không có nghĩa là vay
mượn các lý thuyết hay thành lập một lý thuyết mới. Các chuyên gia chiết trung kỹ thuật
cho rằng kiểu tiếp cận này khác với hình thức trị liệu theo lối phối hợp một lần nhiều liệu
pháp không thích ứng với nhau về mặt kiến thức và bản chất của con người. Lazarus nói:
“ Thiết lập một lý thuyết tiếp cận chung cho mọi trường hợp cũng vô cùng khó khăn và
rủi ro như cố gắng chụp một tấm hình của một góc vũ trụ. Vì vậy, điều thiết yếu là cần
học hỏi và lục lọi tìm kiếm mọi kiến thức từng có sẵn trong lãnh vực tâm lý trị liệu, để rồi
có thể rút ra được những phương thức và kỹ thuật giúp nâng cao khả năng chữa trị” (6).
2.2. Quan điểm tổng hợp lý thuyết (Theoretical Integration)
Đây là một hình thức kết hợp một vài liệu pháp tâm lý lại với nhau để hy vọng tạo
ra nhiều kết quả chữa trị hơn là chỉ áp dụng một liệu pháp duy nhất. Nói khác đi, quan
điểm này cho rằng cách trị liệu tốt nhất là kết hợp một số lý thuyết tâm lý căn bản cộng
với sự áp dụng phối hợp những kỹ thuật được đề ra trong các lý thuyết đó. Một số
chuyên gia tiêu biểu đã tán trợ cho quan điểm tổng hợp lý thuyết là: -Wachtel với Liệu
pháp tâm vận động chu ky (Cyclical Psychodynamic Psychotherapy), trong đó ông đề
nghị phương thức trị liệu tốt là phối hợp các lý thuyết tâm động cổ điển với lý thuyết
hành vi. -Ryle lại đề nghị Liệu pháp phân tích nhận thức (Cognitive-Analytic Therapy)
với sự phối hợp giữa các lý thuyết tâm động và lý thuyết nhận thức. Các chuyên gia khác
như Prochaska và DiClemente đề nghị Liệu pháp xuyên lý thuyết (Transtheoretical
Approach) với quan niệm rằng cần phải có sự pha trộn, hoà tan các hệ thống lý thuyết
tâm lý chính thức khi muốn áp dụng vào một ca trị liệu (7, 8, 9).
Quan điểm tổng hợp lý thuyết đặc trọng tâm vào sự phối hợp lý thuyết và kỹ thuật
của nhiều trường phái khác nhau để mong muốn sáng tạo ra được một khung trị liệu với
những nhân tố tốt đẹp và thích hợp cho thân chủ. Quan điểm này cho rằng sự kết hợp các
lý thuyết và kỹ thuật trị liệu này phải được hiểu như là một việc làm to lớn và súc tích, có
tính sáng tạo chứ không phải chỉ là một sự cộng lại có tính cách hỗn tạp của các lý thuyết
khác nhau.
2.3. Quan điểm tổng hợp đồng hóa (Assimilative Integration)
Quan điểm này đề nghị thiết lập một phương pháp trị liệu theo cách lấy một hệ
thống lý thuyết làm nòng cốt và đồng thời có thể sử dụng một số các kỹ thuật được chọn
lựa từ các hệ thống lý thuyết khác để phối hợp với ca trị liệu đang thực hành. Các chuyên
303