Tải bản đầy đủ
Tổng kết các phương pháp và kỹ thuật căn bản của liệu pháp gia đình

Tổng kết các phương pháp và kỹ thuật căn bản của liệu pháp gia đình

Tải bản đầy đủ

- Trong một phiên trị liệu tiêu biểu liên quan đến gia đình, nhà trị liệu cần
chuẩn bị đầy đủ ghế ngồi và sau khi chào hỏi nên để cho các thành viên tự ý ngồi vào
ghế, vì như thế sẽ giúp cho nhà trị liệu có ngay một vài ý niệm sơ khởi về quyền hành,
thứ bậc, tính chất quan hệ, khuynh hướng thân cận và liên minh giữa các thành viên…
Đặc biệt, nhà trị liệu nên chào đón từng người một, dù là một em nhỏ trong gia đình,
để chứng tỏ rằng mình luôn quan tâm đến từng thành viên trong gia đình. Cũng như
bản chất của các ca trị liệu cá nhân, tạo dựng được mối quan hệ trị liệu tốt đẹp và tích
cực giữa nhà trị liệu và các thành viên trong gia đình là một phần then chốt có khả
năng đưa đến những kết quả tốt đẹp cho ca trị liệu.
- Nhà trị liệu nên khuyến khích, tạo cơ hội cho mỗi thành viên phát biểu
quan điểm của họ về mỗi vấn đề đang thảo luận, trừ những em nhỏ chưa đủ khả năng
đối đáp. Trong khi thảo luận, nhà trị liệu cần quan sát và ghi chú các kiểu cách, khuôn
mẫu cư xử, đối đáp, thói quen và ngay cả những cử chỉ, dấu hiệu không lời giữa các
thành viên. Sau đó nhà trị liệu sẽ cùng với các thành viên trong gia đình phân tích, tìm
hiểu các khía cạnh có liên quan, hoặc công khai hoặc tiềm ẩn, đến những vấn đề trong
hiện tại của gia đình. Trong tất cả mọi trường hợp, nếu cuộc gặp ban đầu đạt được sự
đồng ý về các quan điểm và phương cách giải quyết vấn đề thì nhà trị liệu cần thảo ra
một hợp đồng trị liệu với sự đồng ý của các thành viên trong gia đình, trong đó có ghi
rõ mục tiêu và thời hạn trị liệu.
- Tất cả những phương thức và kỹ thuật dùng để đối thoại, gợi ý, tìm hiểu,
phân tích, hướng dẫn, v, v…được giới thiệu bởi các chuyên gia liệu pháp gia đình đã
đề cập ở trên đều cần được đem ra áp dụng trong tiến trình tương tác với gia đình. Nói
tổng quát, nhà trị liệu phải sử dụng thuần thục các kỹ thuật trực tiếp đối kháng
(directives), tái tạo ý nghĩa (reframing), hỏi đáp xoay vòng (circular questioning) với
mục đích cuối cùng là thay đổi được các cách suy nghĩ, cảm xúc, hành vi ứng xử, các
thói quen và tập tục không phù hợp đang phổ biến giữa các thành viên trong gia đình.
- Nếu ca trị liệu là một cặp vợ chồng thì nên áp dụng những nguyên tắc trong
các lý thuyết về nhận thức xã hội (social cognitive theories) phối hợp với liệu pháp hệ
thống gia đình để giúp thân chủ giải quyết vấn đề của họ. Thực tế cho thấy những cặp
hôn nhân đổ vỡ là do cả hai bên thường có những hành vi đối đầu, đấu lý, ngụy biện
và đổ lỗi mang tính chất trừng phạt và làm đau lòng nhau, nhưng lại thiếu hoặc không
có những trao đổi thường xuyên có tính cách củng cố lòng chân thành, sự thân mật,
cảm thông, hiểu biết và tha thứ lẫn nhau. Kết quả là những hình thức cư xử tiêu cực
này sẽ trở thành một vòng lẩn quẩn cho đến lúc cả hai đối tượng không còn chịu đựng
được nhau nữa.
285

- Một trong các kỹ thuật có thể sử dụng là khuyến khích đôi bên hãy áp dụng
phương pháp được gọi là cho đi nhận lại (quid pro quo), nghĩa là mỗi bên đều cam
kết ngay từ bây giờ sẽ bắt đầu thực hiện một số công việc cho nhau; ví dụ, mỗi bên
nhất định từ nay sẽ làm 2 hay 3 việc cụ thể và tích cực nào đó để giúp hàn gắn mối
liên hệ đang có nguy cơ đổ vỡ. Nhà trị liệu sẽ ghi vào biên bản những điều mà cả hai
bên hứa sẽ thực hiện, với chữ ký xác nhận của đôi bên, và đóng vai trọng tài cho cuộc
cam kết này.
- Liệu pháp hệ thống gia đình cũng được áp dụng có hiệu quả cho nhiều trường
hợp trị liệu đối với những trẻ em chưa đủ khôn lớn hoặc có những khuyết tật mà
không thể nào có khả năng tự mình tương tác, đối thoại trong các phiên trị liệu mang
hình thức liệu pháp cá nhân. Ví dụ trong một ca trị liệu mà đối tượng là một trẻ đang
ở tuổi vị thành niên có những hành vi hư hỏng được nhà trường giới thiệu đi chữa trị,
việc trước tiên nhà trị liệu phải làm là liên lạc với gia đình trẻ vị thành niên để sắp xếp
cho những cuộc gặp mặt, làm việc với phụ huynh hay gia đình về một số vấn đề có
liên quan, trước khi sắp xếp kế hoạch trị liệu cho thân chủ vị thành niên.
------------------------------------

286

Câu hỏi:
1- Tại sao người ta thường nói gia đình và xã hội luôn có sự quan hệ nhân quả về mặt
23456-

chức năng?
Anh/chị hãy cho một thí dụ cụ thể về ý niệm “xu hướng truyền đạt xuyên thế hệ”
của Bowen?
Anh/chị có đồng ý với ý kiến của Bowen khi ông cho rằng mỗi cá nhân trong gia
đình cần phải phát triển “tính tự cá biệt hoá”?
Quan điểm về “nhóm tay ba” giữa Bowen và Minuchin khác nhau ra sao?
“Khả năng cân bằng nội môi” là gì? Hãy cho một thí dụ cụ thể?
Theo ý anh/chị thì công việc trị liệu theo liệu pháp gia đình có những khó khăn
nào?

287

CHƯƠNG 16

LIỆU PHÁP NHÓM
(GROUP THERAPY)
1. Khái niệm
Liệu pháp nhóm đã được hình thành và áp dụng trong thực tế từ lâu theo dòng phát
triển của môn tham vấn và tâm lý trị liệu. Các nhà tâm lý Moreno và Burrow là những
người đã sáng tạo ra phong trào trị liệu nhóm, nhấn mạnh đến tầm quan trọng và hiệu
quả, cũng như các kỹ thuật trong tương tác và điều hành nhóm, đồng thời họ cũng thành
lập hội các chuyên gia và một tờ nguyệt san để quảng bá cho quan điểm của liệu pháp
nhóm. Các chuyên gia trong nhóm này đã thiết lập các nhóm liệu pháp dành cho trẻ em,
những nhóm trị liệu cho các loại bệnh nhân tâm lý tâm thần khác nhau, và các nhóm liệu
pháp cho tù nhân, v, v… Cần nhắc lại là Adler, tác giả liệu pháp tâm lý cá nhân (như đã
nói trong chương 10) cũng là người đã từng thành lập các nhóm trị liệu cho trẻ em và phụ
huynh trong khuôn khổ gia đình trị liệu.
Liệu pháp nhóm đã được các chuyên gia tâm lý khẳng định là một công cụ chữa trị rất
có ích trên nhiều phương diện giáo dục; chẳng hạn giúp các nhóm bệnh nhân có sự hiểu
biết về các dấu hiệu và triệu chứng bệnh lý của họ, giúp gia tăng sự đồng cảm, chia sẻ,
hợp tác của những cá nhân trong các nhóm tự cứu (self-help group); và đặc biệt liệu pháp
nhóm cũng là phương cách tốt để các nhóm trẻ em có cơ hội cùng nhau học hỏi, phát
triển và lớn mạnh.
Tuy cả hai cùng có chung những đặc tính của lý thuyết hệ thống (system theory), liệu
pháp nhóm có những yếu tố khác biệt với liệu pháp hệ thống gia đình đứng về mặt tổ
chức nhân sự, khuôn mẫu sinh hoạt, và các kiểu cách trong quan hệ tương tác. Liệu pháp
nhóm có thể là đa dạng (heterogeneous), tức là các thành phần tham gia có thể có tính
chất đa huyết thống, chưa từng có quan hệ với nhau, và khác biệt nhau về tuổi tác, giới
tính, trình độ học vấn, khác nhau về các vấn đề vướng mắc, hoặc các triệu chứng và bệnh
lý…Liệu pháp nhóm cũng có thể mang tính chất đồng dạng (homogeneous) nếu như
thành phần tham gia bao gồm những thành viên có những điểm tương đồng với nhau.
Công việc chung của các chuyên viên trị liệu nhóm là nỗ lực làm sao đê có sự cân
bằng giữa những điêm giống nhau và những điêm khác biệt của các thành phần trong
288

nhóm. Chẳng hạn, đối với nhóm liệu pháp đồng dạng thì nhà trị liệu cần giúp gia tăng sự
hiểu biết, cảm thông, và chấp nhận nhau giữa các thành viên trong nhóm, nhưng đối với
nhóm liệu pháp đa dạng thì nhà trị liệu cần phải phân tích, làm sáng tỏ những tranh chấp,
khác biệt để gia tăng sự đối thoại, quan hệ tương tác giữa các thành viên.
2. Thành lập liệu pháp nhóm:
Chuyên gia liệu pháp nhóm lưu ý những yếu tố sau đây cần phải nắm vững khi muốn
thiết lập một nhóm trị liệu:
- Tuổi tác: Một nhóm trị liệu lý tưởng nhất thông thường là bao gồm những cá
nhân ngang nhau về mức độ phát triển. Chẳng hạn, các thành viên trong một nhóm trị
liệu trẻ em không nên cách nhau quá 2 tuổi, bởi vì cách nhau quá hai tuổi là chúng có
thể có những khác biệt rõ rệt về mặt phát triển thể chất và kể cả mặt tâm lý. Nhưng
đối với nhóm liệu pháp có các thành viên ở tuổi thành niên thì thông thường không có
gì trở ngại. Chẳng hạn một nhóm liệu pháp bao gồm những thành phần nghiện thuốc
cấm có lứa tuổi từ 18 đến 60 cùng ngồi lại với mục tiêu duy nhất là chú tâm vào vấn
đề cai nghiện thì sự khác xa nhau về tuổi tác giữa các thành viên trong nhóm này sẽ
không mang lại tác động gì quan trọng cho sinh hoạt của nhóm. Tuy nhiên, nếu tổ
chức liệu pháp nhóm cho một nhóm nhân số đặc biệt nào đó, chẳng hạn nhóm liệu
pháp cho những người cao niên, thì các thành viên trong nhóm bắt buộc phải gồm
toàn những người đã ở tuổi cao niên.
- Giới tính: Đây cũng là vấn đề tinh tế mà các chuyên viên liệu pháp nhóm cần
lưu ý khi thiết dựng nhóm trị liệu, nhất là đối với trẻ em và trẻ vị thành niên. Một
nhóm trai gái lẫn lộn có thể tạo ra những tác động tiêu cực nếu như trọng tâm của
nhóm là thảo luận về những vấn đề có tính cách riêng tư, cấm kỵ hay những vấn đề
nhạy cảm chỉ đặc biệt dành riêng để thảo luận hoặc cho nam giới hoặc cho nữ giới; ví
dụ, thảo luận về sự phát triển và thay đổi các mặt cơ thể và tâm lý trong tuổi dậy thì.
Đối với người lớn tuổi thì, trong nhiều trường hợp, sự trộn lẫn nam nữ vào một nhóm
liệu pháp sẽ có thể không có ảnh hưởng gì, nhưng phải tùy theo nội dung và mục đích
đề ra của nhóm liệu pháp.
- Trình độ học vấn: Theo kinh nghiệm, để cho công việc trị liệu dễ mang lại
thành đạt, các thành viên trong một nhóm liệu pháp phải có trình độ nhận thức tương
đối ngang nhau. Trình độ học vấn ở đây không hẳn chỉ là học vị và bằng cấp mà còn
bao hàm cả ý nghĩa về trí thông minh. Như thế, dù không có mức học hoàn toàn
ngang nhau, nhưng những thành viên được lựa chọn và nhóm phải có trí thông minh
289

và sự nhận thức tương tự để thấu hiểu và thảo luận được những vấn đề của nhóm. Ví
dụ, không thể đưa một số cá nhân không có điều kiện từng được cắp sách đến trường
hay có bệnh chậm phát triển trí tuệ vào ngồi chung với nhóm liệu pháp bao gồm các
sinh viên bậc đại học để thảo luận những vấn đề khoa học về tâm lý và xã hội…
- Số lượng tham gia: Về kích cỡ của nhóm thì thông thường có hai loại: Một
loại không cần có sự giới hạn số lượng thành viên tham gia, như những nhóm tập
luyện thiền định, yoga, hay các nhóm liệu pháp tự cứu, điển hình như nhóm nghiện
rượu ẩn danh AA, nhóm cao niên hưu trí, nhóm cá nhân nhiễm HIV, v, v… Loại thứ
hai là các nhóm liệu pháp mang tính chất đồng dạng thì các chuyên gia gợi ý là chỉ
nên có từ 7 đến 10 thành viên; ví dụ, một nhóm liệu pháp gồm 8 em học sinh lớp 10
phổ thông bị chứng tăng hiếu động ADHD cùng sinh hoạt với nhau sau các giờ học ở
trường. Các chuyên gia cho rằng với số lượng vừa phải như vậy sẽ rất thích hợp cho
các cuộc học tập, thảo luận, tương tác giữa các thành viên với nhau. Tóm lại, tùy theo
nội dung và mục đích của nhóm liệu pháp mà nhà trị liệu cần cân nhắc để ấn định số
lượng người tham gia cho thích hợp, tránh được những trường hợp dẫn đến rối loạn,
thiếu vắng sự thân thiện, và đồng cảm.
- Sự ổn định: Một nhóm liệu pháp có sự ổn định về nhân sự, thời biểu, nội
dung và mục đích sẽ giúp gia tăng tính gắn bó, hiểu biết và cảm thông, đồng thời
tránh được sự hồ nghi, tranh chấp nhau giữa các thành viên. Những nhóm liệu pháp
có sự ổn định thường được thiết lập theo dạng định ky (closed-ended), nghĩa là số
lượng người tham gia từ ngày mở đầu cho đến ngày chấm dứt được quy định rõ ràng
ngay từ phiên gặp đầu tiên, và đặc biệt nghị trình cũng như mục tiêu của nhóm cũng
đã được ấn định rõ ràng. Ngược lại, các nhóm liệu pháp có dạng thường ky (openended), vì không có sự ấn định ngày khai mạc hay ngày chấm dứt và các thành viên
không cần có sự cam kết nào khi tham gia, do đó nhóm thường không tạo được không
khí ổn định. Hơn nữa, lối sinh hoạt và nghị trình không có ngày giờ chắc chắn và các
thành viên muốn ra vào nhóm lúc nào cũng được sẽ không có sự gắn bó và cảm thông
giữa các thành viên.
3. Các kỹ thuật điêu hành trong liệu pháp nhóm
Trưởng nhóm (nhà trị liệu) là người cần có một số kiến thức căn bản về các kỹ thuật
điều hành nhóm liệu pháp mới có thể duy trì và thúc đẩy mọi sinh hoạt trong nhóm luôn
diễn tiến đều đặn theo lịch trình và mục đích đã được nhóm đề ra. Điều hiển nhiên là làm
việc với một số người trong cùng một lúc bao giờ cũng khó khăn gấp bội lần so với chỉ
làm việc với một cá nhân. Những phương pháp và kỹ thuật sử dụng trong liệu pháp nhóm
290