Tải bản đầy đủ
Các hướng tiếp cận của liệu pháp hệ thống gia đình

Các hướng tiếp cận của liệu pháp hệ thống gia đình

Tải bản đầy đủ

Tựu trung có 3 liệu pháp hệ thống gia đình sau đây thường được các chuyên gia cho
là có tầm quan trọng trong công tác trị liệu gia đình.
3.1. Liệu pháp gia đình xuyên thế hệ
Murray Bowen, người đề xướng liệu pháp gia đình xuyên thế hệ (extended
family systems therapy) quan niệm rằng những sự chệch hướng, mất khả năng, bất
thường trong chức năng sinh hoạt của một gia đình trong hiện tại thường mang mầm
móng từ nhiều thế hệ. Do đó, khi làm công tác trị liệu cho một gia đình, ta cần phải tìm
hiểu tin tức về lịch sử và những kiểu cách hành sử, những khuôn mẫu sinh hoạt của gia
đình đó xuyên qua một sơ đồ phả hệ (genogram). Sơ đồ phả hệ của một gia đình là một
hệ thống bao gồm ít nhất là ba đời có liên hệ trực tiếp về máu huyết, về nơi chốn sinh
sống và những tình huống, biến cố chính đã xảy ra cho những nhân vật có trong sơ đồ
phả hệ đó (4).
Bowen cho rằng không những các thành viên trong một sơ đồ phả hệ luôn có tính
di truyền về sức khỏe thể chất, bệnh tật, và tập tục, họ còn chịu ít nhiều tính di truyền liên
quan đến các vấn đề tâm lý tâm thần như nhân cách, cá tánh, các quan niệm về giá trị,
lòng tin, lý tưởng, trí xét đoán, cảm xúc, và lối ứng xử, v, v…Chẳng hạn, các cuộc kiểm
tra cho thấy trong một gia đình nếu cả cha lẫn mẹ đều bị bệnh tâm thần phân liệt thì con
cái của họ sẽ có 46% nguy cơ bị bệnh này (5). Mặt khác, một cuộc điều tra của 4 ngàn
cặp quân nhân sinh đôi trong quân đội Mỹ cho thấy yếu tố di truyền rất quan trọng trong
việc hình thành cá tánh và tâm tính của cá nhân. Chẳng hạn, người này có tật hay nóng
giận thì người kia cũng như thế (6).
Lý thuyết của Bowen đặt căn bản trên một số ý niệm như sau:
- Xu hướng truyền đạt xuyên thế hệ (multigenerational transmission
process): Tính sinh hoạt sai lầm hay bất thường của một gia đình thường tiếp tục
gia tăng trong nhiều thế hệ, và do đó sẽ làm cho tình trạng sai lầm hay bất thường
trong bối cảnh gia đình hiện tại trở nên trầm trọng thêm.
- Xu hướng phóng chiếu trong gia đình (family projective process): Các
tranh chấp của cha mẹ hay sự sinh hoạt chệch hướng của gia đình luôn có tính
phóng chiếu lên con cái của họ. Ví dụ, vợ chồng thường cho rằng họ hay cãi vã
nhau vì chuyện con cái chứ không nhận rằng đó là do cá tánh bất hòa của họ.
- Hệ thống điều hành cảm xúc gia đình hạt nhân (nuclear family
emotional system): Các phương thức mà một gia đình hạt nhân (các thành viên chỉ
280

bao gồm cha mẹ và con cái) thường có thói quen sử dụng để đối phó trong những
trường hợp căng thẳng hay tình huống bất thường.
- Tính tự cá biệt hóa (differentiation of self): Mỗi cá nhân thành viên trong
gia đình phải có đủ khả năng độc lập về mặt lý trí và tình cảm, cảm xúc. Khả năng
này càng thấp thì hành vi và ứng xử của các cá nhân sẽ càng dễ bị ảnh hưởng, dính
líu và vướng víu với nhau.
- Nhóm tay ba (triangulation): Bowen cho rằng những cuộc tranh chấp giữa
hai người trong gia đình thường xảy ra vì có sự dính líu đến người thứ ba. Ví dụ,
cha mẹ thường cãi nhau vì những vấn đề liên quan đến đứa con. Vấn đề này chỉ
được giảm thiểu khi mỗi người biết gia tăng khả năng độc lập về lý trí và cảm xúc,
nghĩa là biết suy nghĩ và không để cảm xúc của mình bị nhập nhằng với người
khác trong gia đình.
Tóm lại, trọng tâm liệu pháp gia đình xuyên thế hệ của Bowen là nhà trị liệu phải
giúp cho mỗi thành viên trong gia đình phát triển được khả năng tự cá biệt hóa, nghĩa là
mỗi người phải có được cơ hội độc lập và tự lực trong sự trưởng thành về các mặt tư duy,
tình cảm và hành động. Bowen cho rằng không làm được điều này sự phát triển nhân
cách của cá nhân sẽ bị chệch hướng và bối cảnh sinh hoạt gia đình nói chung sẽ luôn nằm
trong tình trạng rối loạn.
3.2. Liệu pháp cấu trúc gia đình
Tác giả liệu pháp cấu trúc gia đình (structural family therapy) là Salvador
Minuchin, quan niệm gia đình như là một cơ cấu, một hệ thống tổ chức phức tạp và tự
điều hành theo những luật lệ, vai trò, cách sắp xếp, và thói tục có tính cách riêng biệt của
nó. Gia đình là một cơ cấu mang ý nghĩa của một tổ chức có hệ thống chứ không phải là
sự cộng lại của một số cá nhân. Minuchin cho rằng sinh hoạt gia đình thường thể hiện
dưới hai hình thức ngấm ngầm mà ông đặt tên là vùng ranh giới (boundary) và vùng tiểu
hệ thống (subsystem) (7).
Vùng ranh giới là từ ngữ dùng để mô tả những nguyên tắc, thói quen, tập quán và
mức độ nhiều ít trong mọi tương tác và giao tiếp giữa các cá nhân trong gia đình. Theo
Minuchin, bản chất sinh hoạt của vùng ranh giới trong mỗi gia đình, tùy theo mỗi trường
hợp, có thể phát sinh ra những tình trạng, được gọi là sự vướng víu (enmeshment) hay là
sự thiếu giao ước (disengagement). Đây là hai trường hợp tiêu biểu cho tính chất bất
thường trong sinh hoạt của gia đình.
281

Sự vướng víu là ý niệm nói lên những nguyên tắc và lề thói sinh hoạt giữa các
thành viên trong gia đình luôn ở trong trạng thái mù mờ, lẫn lộn. Các thành viên trong gia
đình thường dựa dẫm, lệ thuộc vào nhau và mỗi người không có sự độc lập trong tư duy
và cảm xúc. Sự thiếu giao ước là ý niệm nói lên tình trạng bị cô lập, đóng cõi giữa các cá
nhân trong gia đình. Khuynh hướng chung của các thành viên này là thường không thích
chuyện trò, chia sẻ ý nghĩ, cảm xúc cho nhau, dẫn đến kết quả là các mối quan hệ trong
gia đình thường bị bế tắc và không có sự cảm thông trong những trường hợp cần thiết.
Vùng tiểu hệ thống là ý niệm tượng trưng cho những khuôn mẫu quan hệ riêng rẻ
bên trong của cấu trúc gia đình, thông thường là giữa hai thành viên với nhau và tuỳ theo
từng tình huống, cũng có thể là một nhóm nhiều hơn hai. Chẳng hạn, mối quan hệ giữa
hai vợ chồng được xem là một vùng tiểu hệ thống trong gia đình. Bản chất của vùng tiểu
hệ thống thường mang tính riêng tư, thân mật, chia sẻ, thầm kín, và cam kết giữa các đối
tượng trong nhóm mà những người khác trong gia đình không được biết tới.
Minuchin cũng nêu lên ý niệm về nhóm tay ba (triangulation), nhưng lập luận
của ông ở điểm này có phần khác với Bowen đã nói trong liệu pháp gia đình xuyên thế
hệ. Đối với ông, nhóm tay ba có nghĩa là hai vợ chồng trong gia đình thường dùng đứa
con để làm đồng minh cho mình khi có những tranh chấp với nhau. Bên nào có sự liên
minh của đứa con thì sẽ dễ có lợi thế để tấn công bên kia. Ông còn đưa ra một ý niệm
khác nữa, mà ông đặt tên là đi lòng vòng (detouring), để mô tả trường hợp người cha
hoặc mẹ cho phép hay khuyến khích đứa con mình làm những hành vi sai trái, hư hỏng
với mục đích đánh lạc hướng, làm cho xao lãng hay lu mờ đi những nội dung hay vấn đề
khó khăn đang tranh chấp nhau giữa hai vợ chồng.
Minuchin đề nghị các chuyên viên liệu pháp cấu trúc gia đình cần nhìn thấy rằng
tính cứng nhắc, thiếu uyển chuyển trong cấu trúc gia đình là nguyên nhân cho mọi sự
chệch hướng, bất thường trong chức năng sinh hoạt của gia đình đó. Do đó, mục tiêu
chính trong trị liệu là phải tái cấu trúc (restructuring) gia đình đó. Nhà trị liệu phải có
những kỹ thuật giúp gia đình tạo ra những thay đổi cụ thể trên các mặt cư xử và quan hệ
tương tác. Ông gợi ý một số kỹ thuật như sau:
- Nhập cuộc (joining): Nhà trị liệu cần hòa nhập với mọi sinh hoạt của gia
đình bằng hai hình thức:- bắt chước (mimesis), tức là chấp nhận và sử dụng kiểu
cách cư xử và ngôn ngữ của gia đình. – theo dõi (tracking), tức là phát hiện rõ các
giá trị và quá trình của gia đình.

282

- Nhà trị liệu phải quan sát và vẽ ra sơ đồ các khuôn mẫu giao dịch, quan
hệ giữa các thành viên trong gia đình; nói khác đi là phải nhận ra được các vùng
ranh giới, vùng tiểu hệ thống đang ngấm ngầm tồn tại trong gia đình đó.
- Sau cùng là công việc tái cấu trúc gia đình (restructuring the family):
Bao gồm các kỹ thuật như:- diễn xuất (enactment), tức là để giúp các thành viên
có dịp nhận thức và sau đó sửa đổi hành vi sai trái của mình, nhà trị liệu khuyến
khích họ đóng lại các vai trò đúng như những tình huống và quan hệ tiêu cực và
chệch hướng đã và đang thật sự xảy ra trong gia đình. - tái tạo ý nghĩa
(reframing), tức là giúp thay đổi các hành động, cư xử, và kiểu đối đáp ăn nói
trong gia đình trở nên tích cực và có ý nghĩa hơn. - chận đứng (blocking), tức là
can ngăn gia đình đừng tiếp tục sinh hoạt theo các khuôn mẫu, lề thói cũ và đồng
thời thuyết phục các thành viên nên thực hiện các kiểu cách và lề lối mới trong
mọi tương tác và quan hệ.
3.3. Liệu pháp chiến lược gia đình
Trong liệu pháp chiến lược gia đình (strategic family therapy) chuyên gia Jay
Haley cho rằng trị liệu gia đình là một hình thức tiếp cận có tính chiến lược. Muốn loại
bỏ các triệu chứng rối loạn và bất thường trong gia đình của thân chủ, nhà trị liệu cần
đóng vai trò của một người trực tiếp đối kháng để ngăn chặn và loại bỏ những khuôn
mẫu, cung cách hành xử lầm lạc và có tính bệnh lý của các thành viên trong gia đình đó.
Liệu pháp chiến lược gia đình lấy ý niệm khả năng cân bằng nội môi
(homeostasis), hay nói cách khác là khả năng tạo ra sự cân bằng nội tại, được sử dụng
trong lý thuyết hệ thống để làm nền tảng cho lý luận của mình. Liệu pháp này tin rằng
chức năng của một gia đình sẽ bị chệch hướng nếu các mặt sinh hoạt trong gia đình đó
không duy trì được sự bền vững và cân đối. Nói khác đi, sự cải tiến một mặt nào đó của
hệ thống sẽ kéo theo sự cải tiến của những mặt khác trong toàn bộ hệ thống (8).
Phương pháp và kỹ thuật trị liệu của liệu pháp chiến lược gia đình bao gồm một số
điểm chính như sau:
- Trực tiếp đối kháng (directives): Bao gồm những can thiệp và hướng dẫn
trực tiếp. Vạch rõ các sai trái trong sinh hoạt của thân chủ và gia đình trong tinh
thần thẳng thắn, cởi mở, và có lý luận, với mong muốn khách quan là nâng cao sự
hiểu biết để thay đổi.

283

- Tái tạo ý nghĩa (reframing): Nhà trị liệu cần chú ý để chuyển đổi, thay
thế, và tạo ra những ý nghĩa tích cực, hợp lý, dễ được các thành viên tin tưởng và
chấp nhận hơn đối với những hành động, lời nói, hay cảm xúc có tính cách cực
đoan, tiêu cực, hay sai trái trong gia đình.
- Hỏi đáp xoay vòng (circular questioning): Để giúp mọi người hiểu rõ những
kiểu cách và thói quen sai trái trong sinh hoạt gia đình và đồng thời mọi người hiểu
được ý kiến của nhau, nhà trị liệu lần lượt yêu cầu từng cá nhân mô tả những gì họ
nhận thức về các mối liên hệ trong gia đình, những cảm xúc, các mối bất bình, ẩn ức
từng được giấu kín.
4. Tổng kết các phương pháp và kỹ thuật căn bản của liệu pháp gia đình
Những điểm tổng quát dưới đây được đa số các nhà trị liệu cho là căn bản cần phải
nắm vững khi hành xử một ca trị liệu hệ thống gia đình:
- Nhà trị liệu cần phải quan tâm tìm hiểu về gia đình của thân chủ, dù cho đó
chỉ là một ca trị liệu cá nhân, bởi vì con người là sản phẩm của những mối quan hệ
liên cá nhân mà đầu tiên là từ gia đình. Thông thường những triệu chứng bệnh lý,
hành vi bất thường, sai lạc của một thân chủ đều có thể có những “dây mơ rễ má” từ
các bối cảnh quan hệ của anh/cô ta trong gia đình hay bên ngoài xã hội. Do đó, phát
hiện và thay đổi được các bối cảnh quan hệ này có nghĩa là sẽ mở đầu cho khả năng
có thể chấm dứt được các triệu chứng hay hành vi của người thân chủ. Ví dụ, giúp
giải quyết thỏa đáng được mối quan hệ đầy sóng gió và dai dẳng giữa hai vợ chồng
thân chủ sẽ là cơ hội giúp cho người vợ giảm thiểu các triệu chứng lo âu và buồn khổ.
- Muốn thay đổi khuôn mẫu và cung cách sinh hoạt của gia đình, nhà trị liệu
luôn lưu ý tìm hiểu rõ ý nghĩa, bản chất và nội dung của các vùng ranh giới
(boundary) và vùng tiểu hệ thống (subsystem) của gia đình thân chủ, cũng như tính
cách và thói quen của gia đình trong các mối quan hệ với bên ngoài, bao gồm bà con
thân thuộc, hàng xóm, và các tổ chức cộng đồng. Ngoài ra, một sơ đồ về gia đình hạt
nhân, tốt hơn hết là một sơ đồ phả hệ ba đời, sẽ là rất cần thiết để xem xét và hiểu rõ
mọi vấn đề liên quan như: thứ bậc, tính quan hệ, tính di truyền về sức khỏe, tập quán,
nghiện ngập…của các thành viên cá nhân. Tìm hiểu được lịch sử của gia đình là điều
rất bổ ích cho sự hiểu biết về các kiểu cách và chức năng hành xửcủa gia đình thân
chủ.

284

- Trong một phiên trị liệu tiêu biểu liên quan đến gia đình, nhà trị liệu cần
chuẩn bị đầy đủ ghế ngồi và sau khi chào hỏi nên để cho các thành viên tự ý ngồi vào
ghế, vì như thế sẽ giúp cho nhà trị liệu có ngay một vài ý niệm sơ khởi về quyền hành,
thứ bậc, tính chất quan hệ, khuynh hướng thân cận và liên minh giữa các thành viên…
Đặc biệt, nhà trị liệu nên chào đón từng người một, dù là một em nhỏ trong gia đình,
để chứng tỏ rằng mình luôn quan tâm đến từng thành viên trong gia đình. Cũng như
bản chất của các ca trị liệu cá nhân, tạo dựng được mối quan hệ trị liệu tốt đẹp và tích
cực giữa nhà trị liệu và các thành viên trong gia đình là một phần then chốt có khả
năng đưa đến những kết quả tốt đẹp cho ca trị liệu.
- Nhà trị liệu nên khuyến khích, tạo cơ hội cho mỗi thành viên phát biểu
quan điểm của họ về mỗi vấn đề đang thảo luận, trừ những em nhỏ chưa đủ khả năng
đối đáp. Trong khi thảo luận, nhà trị liệu cần quan sát và ghi chú các kiểu cách, khuôn
mẫu cư xử, đối đáp, thói quen và ngay cả những cử chỉ, dấu hiệu không lời giữa các
thành viên. Sau đó nhà trị liệu sẽ cùng với các thành viên trong gia đình phân tích, tìm
hiểu các khía cạnh có liên quan, hoặc công khai hoặc tiềm ẩn, đến những vấn đề trong
hiện tại của gia đình. Trong tất cả mọi trường hợp, nếu cuộc gặp ban đầu đạt được sự
đồng ý về các quan điểm và phương cách giải quyết vấn đề thì nhà trị liệu cần thảo ra
một hợp đồng trị liệu với sự đồng ý của các thành viên trong gia đình, trong đó có ghi
rõ mục tiêu và thời hạn trị liệu.
- Tất cả những phương thức và kỹ thuật dùng để đối thoại, gợi ý, tìm hiểu,
phân tích, hướng dẫn, v, v…được giới thiệu bởi các chuyên gia liệu pháp gia đình đã
đề cập ở trên đều cần được đem ra áp dụng trong tiến trình tương tác với gia đình. Nói
tổng quát, nhà trị liệu phải sử dụng thuần thục các kỹ thuật trực tiếp đối kháng
(directives), tái tạo ý nghĩa (reframing), hỏi đáp xoay vòng (circular questioning) với
mục đích cuối cùng là thay đổi được các cách suy nghĩ, cảm xúc, hành vi ứng xử, các
thói quen và tập tục không phù hợp đang phổ biến giữa các thành viên trong gia đình.
- Nếu ca trị liệu là một cặp vợ chồng thì nên áp dụng những nguyên tắc trong
các lý thuyết về nhận thức xã hội (social cognitive theories) phối hợp với liệu pháp hệ
thống gia đình để giúp thân chủ giải quyết vấn đề của họ. Thực tế cho thấy những cặp
hôn nhân đổ vỡ là do cả hai bên thường có những hành vi đối đầu, đấu lý, ngụy biện
và đổ lỗi mang tính chất trừng phạt và làm đau lòng nhau, nhưng lại thiếu hoặc không
có những trao đổi thường xuyên có tính cách củng cố lòng chân thành, sự thân mật,
cảm thông, hiểu biết và tha thứ lẫn nhau. Kết quả là những hình thức cư xử tiêu cực
này sẽ trở thành một vòng lẩn quẩn cho đến lúc cả hai đối tượng không còn chịu đựng
được nhau nữa.
285