Tải bản đầy đủ
Liệu pháp vai trò nữ giới:

Liệu pháp vai trò nữ giới:

Tải bản đầy đủ

Câu hỏi:
1- Anh/chị hiểu như thế nào về câu nói của triết gia Pascal: “Con tim có những lý lẽ

mà lý trí không thể hiểu được”?
2- Các triết gia hiện sinh nói gì về “tính cá thể” của con người?
3- Anh/chị hãy cho biết tổng quát về phương pháp và kỹ thuật chữa trị của liệu pháp
hiện sinh/nhân văn như thế nào?
4- Rogers đưa ra những nét căn bản nào về nhân cách và hành vi thông thường của
một người?
5- Phương pháp và kỹ thuật trị liệu theo liệu pháp nhân vị trọng tâm có những điểm
lợi và hại ra sao?
6- Phương pháp và kỹ thuật trị liệu theo liệu pháp hiện sinh có những điểm lợi và hại
ra sao?
7- Liệu pháp hiện sinh thích hợp nhất cho các thành phần thân chủ nào?
8- Liệu pháp nhân vị trọng tâm không thể thích hợp cho các thành phần thân chủ
nào?
9- Liệu pháp thực tế của William Glasser cho rằng nhà trị liệu không nên tốn thì giờ
trong việc tìm hiểu những chuyển biến gì bên trong phần nhận thức và phần nội
tâm sâu kín của thân chủ mà chỉ cần giúp thân chủ thay đổi được hành vi của họ.
Anh/chị thấy quan điểm đó đúng sai ở chỗ nào?
10- Theo anh/chị thì tại sao các chuyên gia tâm lý lại thiết lập ra liệu pháp nữ giới?
Việc làm này có phản ảnh thực tế không?

274

CHƯƠNG 15

TRƯỜNG PHÁI HỆ THỐNG GIA ĐÌNH
(FAMILY SYSTEMS THERAPY) (FST)

1. Khái quát
Trường phái hệ thống gia đình trị liệu (FST) được các chuyên gia xem như là “lực
thứ tư” trong lãnh vực tâm lý trị liệu vì phương pháp tiếp cận của nó mang tính hệ thống,
khác biệt với các phương pháp tiếp cận khác thường đặt trọng tâm vào việc tìm hiểu và
giải quyết trực tiếp mọi vấn đề với cá nhân người thân chủ. Tính hệ thống trong phương
pháp tiếp cận của trường phái hệ thống gia đình có nghĩa là muốn hiểu rõ và giải quyết
được những vấn đề cho cá nhân người thân chủ thì trước tiên cần phải thông qua việc tìm
hiểu và đánh giá sinh hoạt thường nhật giữa các thành viên trong gia đình của người thân
chủ ấy. Nói cách khác, liệu pháp gia đình xem sự tương tác giữa môi trường gia đình và
cá nhân, cũng như sự tương tác giữa các cá nhân thành viên với nhau, luôn có tính cách
tương hỗ và ảnh hưởng lên nhau, nghĩa là cái gì xảy ra cho phía này đều có thể xảy ra ở
một mức độ nào đó cho phía kia.
Các chuyên gia tâm lý quan niệm gia đình như là một hệ thống có tổ chức mà trong
đó những phần tử tham gia đang có các sự tương tác và quan hệ với nhau theo một khuôn
mẫu và qui luật nhất định nào đó, chứ nó không phải là một sự cộng lại của các phần tử
luôn tách biệt và rời rạc, không hề tác động, ảnh hưởng lên nhau. Nói cách khác, nói đến
gia đình là nói đến một tổ chức có hệ thống, một cấu trúc mang tầm vóc to lớn và phức
tạp hơn là sự cộng lại của những con số hay những phần tử riêng biệt. Ngoài ra, mỗi gia
đình có thể được so sánh như là một đơn vị, một hạt nhân của cấu trúc xã hội, một biểu
tượng đặc trưng về văn hóa cho một khu vực cộng đồng.
Tầm ảnh hưởng của cha mẹ đối với con cái trong bối cảnh gia đình là vô cùng quan
trọng. Gia đình là môi trường nuôi dưỡng, giáo dục, uốn nắn, tập tành, cho mọi đứa trẻ từ
lúc sinh ra cho đến khi bước vào đời. Nó là bối cảnh đầu đời tạo nên ngôn ngữ, tập quán,
thói quen, lòng tin, những tiêu chuẩn giá trị đạo đức, văn hóa, cá tính và nhân cách cho
mọi con người. Tính cách gắn bó giữa đứa trẻ đối với cha mẹ và anh chị em của nó
thường là suốt đời và tính cách đó có thể ảnh hưởng sâu rộng đến những mối quan hệ
khác của đứa trẻ về sau này khi lớn lên trong xã hội.

275

Qua kết quả của một cuộc điều tra, nhà tâm lý Diana Baumrind đã phân ra 3 kiểu
cách khác nhau trong kiểu cách nuôi dạy con cái của các bậc cha mẹ (1):
- Thứ nhất là kiểu nuôi dạy có thẩm quyền (authoritative style): Cha mẹ hay
phụ huynh thuộc loại người luôn biết chăm sóc, đối xử nồng ấm và thương yêu con
cái, đặt ra những giới hạn rõ ràng trong các cách ăn nói và cư xử với nhau trong gia
đình và yêu cầu chúng thực hiện nghiêm chỉnh, nhưng luôn biết lắng nghe quan điểm
của chúng và khuyến khích chúng tham gia vào những quyết định của gia đình.
Baumrind phát hiện phần lớn những đứa trẻ được nuôi dạy theo kiểu cách này khi
lớn lên thường có cuộc sống hạnh phúc, điều hoà về mặt tình cảm và tâm tánh, luôn tự
tin trong công việc và trong các mối quan hệ liên cá nhân.
- Thứ hai là kiểu nuôi dạy độc đoán (authoritarian style): Cha mẹ hay người
nuôi dạy không hề quan tâm đến ý kiến, nhu cầu của con cái, ngược lại luôn buộc con
cái phải làm theo bất kể những gì họ nói, nếu không thì bị quở trách, trừng phạt.
Baumrind tìm thấy những đứa trẻ được nuôi dạy bằng sự độc đoán của cha mẹ
thường có cá tánh co rút, lo sợ, hoang mang và buồn bực, hoặc thường có những phản
ứng bất bình, thù nghịch và thường có những cư xử không công bằng với bằng hữu,
bè bạn. Khi lớn lên chúng thường có cá tánh nóng nảy, bất chấp, và thô bạo.
- Thứ ba là kiêu nuôi dạy nuông chiều (permissive style): Cha mẹ luôn bảo vệ
và nuông chiều con cái một cách quá đáng, để cho chúng tự ý làm những quyết định
riêng tư và luôn tạo điều kiện và cơ hội cho chúng thoả mãn những nhu cầu và đòi hỏi
không chính đáng. Cha mẹ loại này thường không quan tâm chỉ bảo, dạy dỗ khi con
cái mình có những đối xử sai trái, lệch lạc. Baumrind nhận thấy đa số những đứa trẻ
trong các gia đình này thường không được hoàn toàn trưởng thành khi lớn lên. Chúng
thường gặp khó khăn trong vấn đề kiềm chế cảm xúc và nhu cầu, và thường có cá
tánh vị kỷ, bốc đồng, nông cạn và xốc nổi.
- Ngoài ra, một số chuyên gia còn phát hiện một kiểu nuôi dạy thứ tư là kiểu
nuôi dạy không quan tâm (uninvolved style). Cha mẹ có thái độ hờ hững, không có
sự cam kết trong trách nhiệm chăm sóc và nuôi dạy con cái mình, nói cách khác là bỏ
bê con cái. Theo các cuộc kiểm tra, những cha mẹ loại này thường có những vấn đề
trầm trọng của chính bản thân họ; chẳng hạn, họ bị các triệu chứng tâm lý tâm thần,
hay dính líu vào sự nghiện ngập, hoặc có những sức ép, căng thẳng về các mặt kinh
tế, công việc làm hay có vấn đề về sức khỏe thể chất. Kết quả là kiểu nuôi dạy không
quan tâm của cha mẹ thường làm cho sự phát triển về mọi mặt thể chất và tinh thần
của con cái hầu như bị ngăn trở và rối loạn, hụt hẫng về tình cảm. Khi lớn lên chúng
276

thường có cá tánh vòi vĩnh, đòi hỏi, chống đối, không hòa giải, phục thiện, và hay
phàn nàn, đổ lỗi người khác trong các mối quan hệ (2).
Gia đình và xã hội là hai thực thể luôn có sự liên hệ nhân quả về mặt chức năng. Bối
cảnh gia đình tạo ra những khuôn mẫu con người cho xã hội, và ngược lại luật lệ, qui
định, ước lệ, các hệ thống điều hành và tổ chức, lề thói, tập tục và phản ứng của xã hội
cũng luôn có sự tác động to lớn đến sinh hoạt của mọi gia đình. Gia đình rõ ràng là một
thành tố vô cùng quan trọng trong việc đóng góp vào sự ổn định và an sinh của xã hội.
Nói khác đi, một cộng đồng xã hội sẽ khó tạo dựng được một môi trường sống ổn định và
an sinh tổng quát cho mọi người khi trong cộng đồng đó có nhiều đơn vị gia đình mà bên
trong nó không có khả năng kiến tạo và duy trì được cuộc sống an toàn, cân bằng, với
đầy đủ các lợi ích sống còn cho mỗi thành viên của mình.
Các lý thuyết gia thuộc trường phái hệ thống gia đình tin rằng môi trường sinh hoạt
gia đình, bao gồm thói quen, tập quán, qui tắc, lòng tin, những tiêu chuẩn giá trị về đạo
đức và văn hóa, những khuôn mẫu ứng xử giữa các thành viên… đều là những yếu tố có
thể gây ra những kết quả tốt hay xấu, cân bằng hay lệch lạc, bình thường hay bất thường,
lành mạnh hay bệnh lý cho các thành viên trong gia đình đó. Tính tương tác trong sinh
hoạt cho thấy hành động của bất kỳ phần tử cá nhân nào cũng luôn có thể gây ra những
ảnh hưởng ít nhiều đến những phần tử khác trong gia đình.
2. Vài ý niệm căn bản trong sinh hoạt gia đình
Các chuyên gia lưu ý rằng có hai loại hệ thống gia đình có thể tạo ra nhiều vấn đề vì
chúng mang những đặc tính cứng nhắc, cực đoan và phiến diện trong các cách hành xử
của chúng. Đó là những gia đình thuộc loại hệ thống mở (open system) (các phần tử cá
nhân luôn sẵn sàng đón nhận mọi ảnh hưởng từ bên ngoài một cách bừa bãi, không có sự
lựa lọc; do đó, ngoài sự thu nhận được những cái tốt sẽ còn có những cái xấu có hại cho
gia đình). Và những gia đình thuộc loại hệ thống đóng (closed system) (các phần tử cá
nhân thường có khuynh hướng khép kín, cự tuyệt, không chấp nhận và chống lại mọi ảnh
hưởng và thay đổi đến từ bên ngoài; do đó, gia đình sẽ không có cơ hội học hỏi được điều
gì tốt đẹp đến từ bên ngoài để sửa đổi những thói quen, cố tật của mình).
- Có những thành viên trong một số gia đình thường có những lối giao tiếp
nghịch lý (double-bind communication), nghĩa là cách hành động và ứng xử của
những người này thường có tính cách mơ hồ, mâu thuẫn và đối nghịch, gây ra sự bực
bội, chống đối khiến cho các thành viên trong gia đình dễ đi đến hiểu lầm và hồ nghi
lẫn nhau. Ví dụ, người cha luôn miệng nói rằng ông rất yêu thương và lo lắng chăm
277

sóc cho con cái, nhưng trong khi đó ông lại thường lơ là, lạnh nhạt, bỏ bê gia đình, và
ham chơi với bè bạn. Cung cách của người cha sẽ làm cho vợ con mình trở nên bối rối
và lầm lẫn, không hiểu được đây là sự sai trái, dối trá của ông ta, hay là do những lỗi
lầm nào đó của chính mình đã tạo ra tình trạng khiến ông phải ứng xử như thế.
- Một cách cư xử khác cũng làm gia tăng sự mâu thuẫn và hiểu lầm nhau được
các chuyên gia đặt tên là kiểu thông tin có hàm ý (metacommunication). Ý niệm này
có nghĩa là trong các kiểu cách liên hệ, đối thoại, hay cư xử của các thành viên thường
bao hàm hai nội dung ý nghĩa; một nội dung rõ ràng là những lời đang phát biểu hay
hành động thể hiện trực tiếp, và một nội dung không lời ẩn chứa trong lời nói hay
hành động đó. Các chuyên gia cho rằng kiểu cư xử này cũng dễ khiến sinh hoạt gia
đình thường trở nên mù mờ, mâu thuẫn và rối loạn. Ví dụ, thay vì nói thẳng để sửa
đổi cách tiêu xài tiền bạc quá phung phí của người vợ, người chồng chỉ than thở rằng
anh đang quá mệt mõi, bệnh hoạn, sợ không kham nổi công việc đang làm. Lời nói
này dù có hàm ý, nếu được đối tượng hiểu thì tốt, nhưng rất mù mờ và có thể hiểu
theo nhiều cách khác nhau nên ông chồng khó lòng thay đổi được thói tật của vợ
mình.
- Huyền thoại hóa (mystification) là ý niệm nói lên tính cách sinh hoạt của
một số gia đình trong đó các thành viên vì luôn muốn duy trì sự yên ổn và không khí
lạc quan cho gia đình nên thường tránh né, che giấu, hay làm cho méo mó, sai lạc
những sự thật lẽ ra nên giải quyết thẳng thắng, trực tiếp, và dứt khoát đúng lúc đúng
nơi. Tình trạng này tuy có thể tạo ra sự ổn định ngắn hạn, nhưng về lâu dài nó có thể
gây ra những kinh nghiệm khó khăn cho gia đình. Ví dụ, ông cha thường phàn nàn
đứa con hư hỏng, nhưng người mẹ luôn tìm cách bảo vệ, che giấu, ngụy biện và
thuyết phục người chồng hãy tin vào tương lai tốt đẹp của đứa con. Sự cố tình che
giấu và thuyết phục của người vợ là một hành động huyền thoại hoá vấn đề, và hành
động này sẽ khiến đứa con không bao giờ có cơ hội sửa chữa, và như thế nó sẽ lớn lên
với sự hư hỏng càng ngày càng trầm trọng.
- Con dê tế thần (scapegoating) là ý niệm mô tả về một cá nhân luôn bị các
thành viên khác trong gia đình đổ lên đầu mọi sai trái, lỗi lầm mỗi khi có sự cố gì xảy
ra. Con dê tế thần thường là một thành viên “thấp cổ bé miệng”, không có khả năng
ăn nói để tự bảo vệ, hoặc là một đứa trẻ hay một thành viên đã từng mắc phải một sai
phạm, một lỗi lầm, hay bị một chứng tật, tinh thần hoặc thể chất, nào đó. Các thành
viên khác trong gia đình thường sử dụng người này như con dê tế thần để trút lên mọi
sai quấy, lỗi lầm mỗi khi có xảy ra chuyện gì trong gia đình. Ví dụ, mỗi khi bị la
mắng, người chị làm biếng thường đổ lỗi cho đứa em tàn tật ở chung phòng với mình
278