Tải bản đầy đủ
Liệu Pháp Hiện Sinh

Liệu Pháp Hiện Sinh

Tải bản đầy đủ

con người không thông qua nhân cách và hành vi thật sự của người đó, mà thông qua vị
trí công việc, chức tước, quyền hạn, và qua những hoàn cảnh, điều kiện kinh tế, tài chánh
mà người đó đang có. Chẳng hạn, vì những định kiến như thế, một đứa trẻ mồ côi và thất
học, suốt ngày phải lăn lóc kiếm ăn ngoài đường phố sẽ nghĩ rằng mình là kẻ đang sống
bên lề xã hội, nghèo hèn, lẻ loi, tội lỗi và bất hợp lệ. Từ những suy nghĩ tiêu cực đó, đứa
trẻ sẽ cảm thấy buồn chán, uất hận đối với đời sống, không tìm thấy được mục đích và ý
nghĩa tốt đẹp nào về sự có mặt của nó trong cuộc đời, chưa nói đến thái độ bất chấp và
uất hận có thể khiến đứa trẻ nảy sinh những hành động thù nghịch có hại cho xã hội.
Kế đến, các chuyên gia liệu pháp hiện sinh quan niệm rằng mặc dù chúng ta cùng
nhau sống trong một thế giới, nhưng mỗi người trong chúng ta đều có sự nhận hiểu và
định nghĩa về thế giới một cách khác nhau. Nói khác đi, thật khó để có một định nghĩa
tuyệt đối khách quan và được mọi người chấp nhận về cái thế giới đang hiện hữu, vì mỗi
người trong chúng ta thường có cái nhìn rất chủ quan đối với những gì đang diễn ra trước
mắt. Nhà sinh học Uexkull nhận định: “Không chỉ có một không gian và thời gian cho
con người, vì có bao nhiêu chủ thể con người là có bấy nhiêu không gian và thời gian (7).
Và cũng như Kant, nhà triết học Đức, đã nói: “Không gian bên ngoài không phải là đối
tượng hoàn toàn có thật và khách quan mà nó chỉ là cái gì thuộc về nhận thức chủ quan
và lý tưởng của mỗi cá nhân thôi” (8)
Ngoài ra, trường phái hiện sinh còn cho rằng có ba kiểu thế giới: -thứ nhất là cái
môi trường thiên nhiên của vật chất bao gồm mọi sự vật, gọi là “thế giới chung quanh”
(Umwelt). -thứ hai là cái thế giới của những người khác có mối liên hệ với chủ thể, gọi là
“thế giới quan hệ” (Mitwelt). –thứ ba là cái thế giới riêng của mỗi chủ thể, gọi là “thế
giới của ta” (Eigenwelt).
Umwelt là ý niệm về cái thế giới thiên nhiên của mọi sinh vật. Đây là cái thế giới
đã được đặt định và vô tận, trong đó muôn vật luôn vận chuyển theo đúng chu kỳ và qui
luật tự nhiên. Thế giới này bao hàm cả sự sống và sự chết, chu kỳ của sự sinh sản và hủy
diệt, nhịp đêm ngày của chu kỳ thức và ngủ, các nhu cầu của bản năng và các động lực
thúc đẩy và phát triển sự sống của muôn loài, trong đó có con người.
Mitwelt là ý niệm về cái thế giới của các mối quan hệ liên cá nhân, giữa cá nhân
này với cá nhân khác để hình thành một cộng đồng văn hoá và văn minh của xã hội con
người, bao gồm mọi hình thức sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người, như tình
yêu, nhục dục, sự tương trợ, giúp đỡ, giáo dục, tranh chấp, gây chiến, trừng phạt, v, v,…

265

Eigenwelt là cái thế giới của riêng mỗi người, bao gồm ý thức, sự nhận biết, cá
tánh và những quá trình trải nghiệm của cá nhân. Qua lăng kính cá nhân, mọi sự việc diễn
biến bên ngoài đều có thể được hiểu và giải thích có tính cách chủ quan theo nhiều cách
khác nhau. Chẳng hạn, khi tôi nói cái hoa này là đẹp, thì có nghĩa là nó chỉ đẹp với tôi
thôi, chứ chưa hẳn là đã đã đẹp đối với người khác.
Nói tóm lại, liệu pháp hiện sinh cho rằng hành vi của cá nhân se dễ bị sai lệch
và hỗn loạn nếu không có khả năng phân biệt và nhận hiểu rõ ràng về ba chiều kích
khác nhau trong quan niệm về thế giới.
Đặc biệt, các chuyên gia liệu pháp hiện sinh phân biệt ra hai loại trạng thái lo âu
(anxiety):
- Loại lo âu thứ nhất là trạng thái tâm lý xảy ra bình thường cho mọi người
do những nhu cầu cần thiết cho sự sinh tồn, vừa để xác định và bảo vệ cho sự sống
mỗi ngày của cá nhân. Chẳng hạn, người công nhân chăm lo công việc làm ăn
hằng ngày để khỏi bị thất nghiệp, hay cậu học sinh lo lắng hoàn thành bài vở cho
các kỳ thi để khỏi bị ở lại lớp.
- Loại lo âu thứ hai lại tỏ ra không cần thiết và không bình thường, nó xuất
hiện như những triệu chứng tâm căn bệnh hoạn. Chẳng hạn, một cô gái lúc nào
cũng có tâm trạng căng thẳng, lo lắng rằng mình sẽ bị một bệnh nặng và chết sớm
dù không có cơ sở nào để chứng minh điều mình nghĩ là đúng, hay một người mẹ
đêm ngày lo sợ vẩn vơ rằng các con mình sẽ bị chết vì tai nạn trong khi đi học.
Hai loại lo âu này rõ ràng khác nhau trên nhiều góc cạnh. Thứ nhất, loại lo âu bình
thường không đòi hỏi phải có sự kiềm hãm, che giấu; nó được cá nhân chấp nhận như là
một sự kiện thực tế trong cuộc sống. Thứ hai, cảm giác lo âu loại bình thường hoàn toàn
thích hợp với tình huống cá nhân đang phải đối mặt. Thứ ba, cảm giác lo âu bình thường
luôn đóng vai trò như một chất xúc tác, một kích thích lành mạnh, giúp cho cá nhân hoàn
thành các công việc cần thiết cho cuộc sống hằng ngày.
Trong khi đó, loại lo âu có tính tâm căn bệnh hoạn thường nổi lên bất chợt và
không phù hợp với tình hình thực tế. Cá nhân thường phải che giấu, đè nén trong lòng,
và loại lo âu này không có ích lợi gì cho các công việc và sinh hoạt thường ngày của cá
nhân.

266

3.2. Quan điểm về nhân cách
Trường phái hiện sinh cũng quan niệm rằng cấu trúc nhân cách luôn có tính sinh
động (dynamic) trong quá trình hình thành và phát triển của nó. Theo thuật ngữ chuyên
môn trong tâm lý học, khi nói đến tính sinh động tức là nói về các lực tâm lý thường
tranh chấp, đối kháng nhau trong phần vô thức và ý thức, như các động cơ, các thôi thúc,
sự lo âu, sợ hãi, mơ ước…
Tuy thế, tính sinh động trong quan niệm của trường phái hiện sinh khác với tính
sinh động trong phân tâm học của Freud. Tính sinh động trong phân tâm học có nghĩa là
các lực tâm lý thuộc về bản năng của phần vô thức (the Id instincts) và phần ý thức (the
Ego instincts) luôn có sự tranh chấp, đối kháng nhau; và sự tranh chấp không dứt này đã
đóng góp phần lớn cho sự hình thành của nhân cách cá nhân.
Trong khi đó, tính sinh động theo quan niệm của trường phái hiện sinh là mối ưu
tư và trăn trở thường giằng co, tranh chấp giữa cá nhân con người và những gì đã
được định sẵn (givens) cho sự hiện hữu của mình trong cõi đời. Nói cách khác, cá
nhân con người không thể nào lảng tránh khỏi sự đối mặt với những vấn đề có tính
cách tối hậu (ultimate concerns), và thường có những câu hỏi đặt ra về sự có mặt của
mình trên hành tinh này.
Từ những nhận định như thế, các nhà tâm lý hiện sinh nhấn mạnh rằng tâm lý trị
liệu cần chủ yếu liên hệ đến bốn vấn đề tối hậu mà con người thường phải đương đầu
trong cuộc sống, đó là cái chết (death), sự tự do (freedom), nỗi cô đơn (isolation), và sự
vô nghĩa (meaningless).
Vấn đề thứ nhất mà con người phải đối mặt là cái chết. Rõ ràng đã có sinh thì phải
có tử. Dù biết như vậy nhưng nó vẫn luôn là nỗi băn khoăn, lo sợ, là nỗi ám ảnh thường
trực trong tâm khảm của mỗi người. Ai cũng muốn mình được sống, được tồn tại trên cõi
đời, và lo rằng cái chết sẽ đánh dấu một sự hoàn toàn mất mát cho chính mình và cho
những người thân. Ngay cả cái cảm giác lo sợ bị người lớn bỏ rơi của đứa trẻ, về mặt tâm
lý cũng có liên quan đến khuynh hướng tự nhiên là mong được tồn tại, được sống trên cõi
đời. Do đó, để vượt qua được nỗi ám ảnh này, cá nhân thường cố lãng quên, không nghĩ
đến nó. Hành động lảng tránh này là phản ứng tự nhiên của cơ chế tâm lý tự vệ trong mỗi
cá nhân; nhưng ngược lại, khi cá nhân không vượt qua được nỗi ám ảnh, lo sợ về cái chết
thì, theo tâm bệnh học, cá nhân có thể tự chuốc lấy những triệu chứng rối loạn tâm căn.

267

Vấn đề thứ hai là ý niệm về sự tự do trong cuộc sống của con người. Đây cũng là
nỗi băn khoăn và lo âu mà con người luôn ao ước và đã từng cố gắng để đạt tới. Ý niệm
tự do liên hệ đến sự kiện rằng con người luôn muốn cá nhân mình làm chủ và chịu trách
nhiệm cho cuộc sống của mình, có quyền hoạch định, lựa chọn và hành động trong thế
giới riêng tư của mình.
Ý niệm về sự tự do trong cuộc sống bao hàm nhiều ý nghĩa. Thứ nhất là ý thức
trách nhiệm (responsibility) thường được nhận định khác nhau tùy theo mỗi người.
Chẳng hạn, có người thường không khi nào nhận trách nhiệm về phía mình, mà thường
đổ lỗi cho người khác, cho tình huống, hoặc nếu không có ai để đổ lỗi thì lại cho rằng cá
nhân mình chỉ là một nạn nhân vô tội, hay hành vi của mình sở dĩ bị sai trái vì được thực
hiện vào lúc tâm trí bị hỗn loạn,v , v… Ý niệm thứ hai liên hệ đến tự do là ý chí
(willingness) nghĩa là được quyền mơ ước và quyết định về những gì mình sẽ làm.
Những chướng ngại cho việc thực hiện ý chí của một số cá nhân là tính bốc đồng
(impulsivity) (hành động tùy hứng chứ không có sự suy nghĩ tính toán) và trạng thái bị
ép buộc (compulsivity) (hành động do sự tác động, sai khiến từ bên ngoài). Những cá
nhân không có sự tự chủ về ý chí thường bị lâm vào tình trạng bối rối, hoảng hốt khi phải
làm một quyết định gì.
Vấn đề kế tiếp là cảm giác về sự cô đơn và vô nghĩa của cuộc sống. Cảm giác cô
đơn ở đây liên hệ đến tính chất triết lý về sự hiện hữu của con người trên trần gian, chứ
không phải với ý nghĩa thông thường là vì cá nhân không có thân thuộc, bạn bè đang
sống chung quanh mà cảm thấy cô đơn. Tách ra khỏi những nhiêu khê, ràng buộc và bôn
ba hằng ngày trong cuộc sống, có những lúc cá nhân trầm tư về thân phận hiện tại của
mình, cảm thấy như mình chỉ là hạt bụi từ cõi hư vô bị ném vào trần gian và sau đó sẽ bị
ném trở lại vào hư vô. Cá nhân đôi khi cảm thấy hồ nghi về sự có mặt trong cuộc đời của
mình, không hiểu nó có mang ý nghĩa gì cho chính mình và cho những người chung
quanh hay không. Mình là gì? Là ai? Mình có thể làm được gì có ý nghĩa cho cuộc sống
bản thân? Sự có mặt trong đời của mình có cần thiết cho tha nhân, cho xã hội không? Rồi
mình sẽ đi về đâu sau cuộc sống này?...Khuynh hướng tự nhiên của con người là đôi lúc
cảm thấy băn khoăn suy tư muốn đi tìm ý nghĩa đích thực cho cuộc sống, nhưng mãi vẫn
không cảm thấy cuộc sống có gì thỏa mãn cho những nhu cầu và những nỗ lực mà mình
đã bỏ ra.
Tóm lại, trường phái hiện sinh quan niệm rằng từ trong bản chất sâu xa của
con người, cá nhân thường có những quan tâm mang tính triết lý tối hậu về thân
phận của sự hiện sinh của mình trên cõi đời. Những quan tâm về sự sống, cái chết, tự
do, cô đơn, tính vô nghĩa của sự hiện hữu thường để lại những mối ưu tư, băn khoăn, bối
268

rối, lo âu hay sợ hãi cho cá nhân, vì chúng là những vấn đề có tính cách triết lý tột cùng
của nhân sinh, không dễ gì có những giải đáp rốt ráo cho mọi người. Trường phái hiện
sinh cho rằng đây chính là những nhu cầu nội tâm rất dai dẳng và âm ỷ của tinh thần;
nó nói lên tính sinh động trong quá trình hình thành nhân cách. Hậu quả là cá nhân
dựng lên cho chính mình một cơ chế tự vệ để đương đầu với những khó khăn tâm lý.
Cũng như liệu pháp nhân vị trọng tâm, liệu pháp hiện sinh cũng quan tâm đến
việc tìm hiếu và giải quyết các vấn đề “thực tế và tại đây” của thân chủ; nhưng liệu
pháp hiện sinh chỉ chú tâm vào giải quyết những mối ưu tư, lo âu chứ không chú ý đến
các động cơ phát triển, tự nâng cao cuộc sống của thân chủ như liệu pháp nhân vị trọng
tâm.
3.3. Phương pháp và kỹ thuật
Như đã nói, liệu pháp hiện sinh thật sự chỉ là một hướng lý thuyết mới để tham
chiếu và hiểu thêm về những triệu chứng rối loạn tâm lý trên một bình diện khác có tính
triết lý liên quan đến cuộc sống của thân chủ. Các chuyên gia liệu pháp hiện sinh hầu như
không đòi hỏi phải trải qua những khóa học về phương pháp và kỹ thuật đặc biệt nào,
nhưng họ có thể sử dụng các phương pháp và kỹ thuật theo sở trường riêng của mình để
tiếp cận với thân chủ trên những vấn đề có tính hiện sinh và nhân văn. Như thế, điều cần
thiết cho một chuyên viên liệu pháp hiện sinh là phải am hiểu những nguồn đau khổ,
khắc khoải và lo âu có nguyên nhân từ những ưu tư về những vấn đề tối hậu trong
cuộc sống, những ý niệm thuộc về cái chết, sự tự do, nỗi cô đơn và vô nghĩa trong sự
hiện hữu. Nếu nhà tâm lý liệu pháp hiện sinh giúp cho thân chủ nhận thức được rõ ràng
và đầy đủ về “sự hữu hạn” của một đời người thì từ đó họ có thể biết thay đổi cách sống
sao cho có ý nghĩa hơn với cuộc đời còn lại của mình.
Trường phái hiện sinh cho rằng những vấn đề tranh chấp có tính triết lý về sự sống
và thân phận con người thường là những mối ưu tư, khắc khoải và sầu muộn sâu kín
trong vô thức đối với nhiều người. Sự kiện vô thức này tạo ra một số cơ chế tâm lý tự vệ
bệnh hoạn, không thích hợp cho hành vi hằng ngày của thân chủ. Do đó nhà trị liệu
cần khuyến khích thân chủ tự truy tìm để hiểu được các tranh chấp vô thức đó, nhận
dạng những cơ chế tâm lý tự vệ có hại để loại bỏ, và phát triển những kiểu cách mới
trong tư duy và hành vi. Nhưng nhà trị liệu hiện sinh thường không tốn quá nhiều thời
gian giúp thân chủ khôi phục lại những ký ức xa xưa, tiềm ẩn như phương pháp của phân
tâm học, mà chỉ chú tâm vào việc tìm hiểu con người thân chủ, qua các suy nghĩ, hành vi,
nỗi băn khoăn, lo sợ trong tình huống hiện tại mà thôi.

269

Sau khi đàm luận những vấn đề có tính cách triết lý về qui luật và chu kỳ của sự
hiện hữu cho một đời người, nhà tâm lý liệu pháp hiện sinh cần tiếp tục giúp thân chủ
tìm thấy những ý nghĩa, mục đích và giá trị của cuộc sống ngay trong hiện tại để thay
thế cảm giác luôn ám ảnh trong tâm trí về cuộc sống hạn hẹp, ngắn ngủi và vô nghĩa
của thân chủ. Nhà trị liệu cần nhấn mạnh vào những vấn đề thuộc về trách nhiệm bản
thân. Mỗi con người là tác giả của cuộc đời của mình. Vì vậy mỗi người cần có sự lựa
chọn và quyết định sao cho phù hợp cho sự sống trong hiện tại của mình. Nhà trị liệu
cũng cần thăm dò để giúp thân chủ tháo gỡ những chướng ngại thuộc về các hành vi và
các mối quan hệ liên cá nhân không thích hợp, bệnh hoạn, hay không đem lại cảm giác
thoả mãn, thích thú cho thân chủ.
3.4. Phê bình quan điểm liệu pháp hiện sinh
Liệu pháp hiện sinh là một kiểu đối thoại có tính giáo dục, giúp cho thân chủ hiểu
được quan điểm của nhà trị liệu về những vấn đề có tính triết lý tối hậu của sự sống mà
nhiều người thường trăn trở, băn khoăn và lo lắng. Nhưng không như một số liệu pháp
khác, tính chất giáo dục ở đây chỉ có nghĩa là mở ra, giới thiệu một kiểu cách suy tưởng
để đối tượng nhận biết chứ không đặt điều kiện buộc đối tượng phải thực hiện.
Liệu pháp hiện sinh thường áp dụng thích hợp cho các trường hợp thân chủ là
những người đang đối diện với những bệnh nan y, đang đối diện với cái chết gần kề, hoặc
là những người đang trong giai đoạn than khóc cho cái chết của thân nhân mình. Liệu
pháp hiện sinh cũng áp dụng thích hợp cho những thành phần thường có tư duy ưu tư và
ray rứt có tính cách thuần túy triết lý về ý nghĩa của cuộc sống, và cho những cá nhân
luôn cảm thấy tiêu cực và chán nản với đời mình sau những vấp ngã và thất bại trong quá
trình sống.
Các chuyên viên liệu pháp hiện sinh cần có nhiều kinh nghiệm thực hành trong việc
xây dựng tốt mối quan hệ trị liệu, cũng như các cách tiếp cận vấn đề trong tiến trình trị
liệu. Nói rõ hơn, chuyên viên liệu pháp hiện sinh phải là người đồng thời thông hiểu
nhiều về các trường phái tâm lý trị liệu khác nhau để nâng cao khả năng linh hoạt trong
việc chữa trị vì liệu pháp hiện sinh không chủ trương đề ra những phương pháp và kỹ
thuật đặt biệt nào cần phải áp dụng trong tiến trình trị liệu.
4. Liệu pháp hình thái đồng nhất
Trong liệu pháp hình thái đồng nhất, tác giả Fritz Perle quan niệm rằng cá nhân con
người là một thực thể toàn bộ và đồng nhất, không thể có sự tách rời, không thể phân chia
ra thành những yếu tố, bộ phận riêng biệt như sinh lý, tâm lý, cảm xúc…Mỗi cá nhân là
270

một tổng thể, một tập hợp, hay một tổng số to lớn và bao quát hơn cả cái mà chúng ta
thường gọi là ý niệm về cái toàn thê ( the whole).
Nói cách khác, Perle cho rằng trong việc chữa trị nên chú ý đến toàn bộ con người
chứ không cần phải chú trọng quá đáng vào một khía cạnh riêng lẻ nào đó của cá nhân.
Ngoài ra, liệu pháp hình thái đồng nhất chỉ chú trọng vào tất cả những gì đang xảy ra
trong hiện tại, theo ý nghĩa bây giờ và tại đây (here-and-now), nghĩa là không quá chú
tâm vào việc phân tích những gì thuộc về phần nội tâm hay những trải nghiệm, ký ức đã
thuộc về quá khứ xa xưa của thân chủ, và cũng không chú tâm vào những mơ ước, tưởng
tượng của thân chủ về tương lai của họ (9).
Liệu pháp hình thái đồng nhất được các chuyên viên tâm lý xếp vào nhóm trường phái
nhân bản/hiện sinh vì nó đặc biệt chú trọng vào lý thuyết về nhận thức thực tại của thân
chủ, và vì nó cũng tin rằng con người luôn có khả năng khám phá bản thân, tái tạo, thay
đổi và nâng cao đời sống của mình. Nói cách khác, cũng như liệu pháp nhân vị trọng tâm
và liệu pháp hiện sinh, liệu pháp hình thái đồng nhất đặt trọng tâm vào việc giúp thân
chủ nhận thức được rõ ràng những điều họ đang trải nghiệm, và tin tưởng vào năng
lực tự phát triển của cá nhân.
Liệu pháp hình thái đồng nhất quan niệm rằng một cá nhân có đời sống tinh thần bình
thường phải là người nhận biết đầy đủ mọi vấn đề và mọi tình huống chung quanh đang
diễn ra trong hiện tại, và có khả năng tự điều hành lấy mọi công việc của mình trong
phạm vi tương tác giữa bản thân và môi trường chung quanh bên ngoài. Cũng tương tự
như liệu pháp nhân vị trọng tâm, liệu pháp hình thái đồng nhất cho rằng con người
thường có hai cái tôi: “cái tôi thực tế” và “cái tôi ấn tượng”. Cái tôi ấn tượng thường
không phản chiếu trung thực bản chất và khả năng của cá nhân. Do đó, liệu pháp hình
thái đồng nhất chú trọng đặc biệt vào việc giúp cá nhân tỉnh thức để hiểu được cái tôi
thực sự của mình, thấy rõ môi trường và tình huống thực tế và bản chất của các mối quan
hệ giữa mình với tha nhân trong hiện tại.
Liệu pháp hình thái đồng nhất áp dụng các kỹ thuật để giúp thân chủ trở về với cái tôi
trọn vẹn, tự sửa đổi mình chớ không phải biến mình thành con người khác. Tóm lại , nhà
trị liệu phải giúp thân chủ: - gia tăng nhận thức về bản thân; - tự chủ và có trách nhiệm
chứ không phóng chiếu hay trách móc, đổ tội cho tha nhân về những hành động, suy nghĩ
hay tình cảm của mình; - giúp thân chủ học cách chấp nhận các hậu quả do chính mình
gây ra; - và sau hết là giúp thân chủ phát triển năng lực và kỹ năng bản thân.

271