Tải bản đầy đủ
Phê bình và đánh giá liệu pháp CBT

Phê bình và đánh giá liệu pháp CBT

Tải bản đầy đủ

em có tập quán xấu hay hành vi hư hỏng, bất thường, chệch hướng, hay các trường hợp
nghiện ngập của người lớn, những triệu chứng rối loạn tâm lý tâm thần ở mức độ nhẹ,
như ám ảnh, sợ hãi, lo buồn… do tác động của những nghịch cảnh trong môi trường
sống. Nhưng cách tiếp cận vừa mang tính giáo dục lại vừa mang tính đối đầu và độc đoán
của nhà trị liệu, trong nhiều trường hợp, sẽ không phù hợp và có thể gặp phải nhiều phản
ứng chống đối của một số thân chủ. Đây là điểm cần lưu ý cho bất cứ chuyên viên nào
muốn lựa chọn quan điểm CBT là lãnh vực sở trường cho công việc trị liệu tâm lý của
mình.
-----------------------------------------

252

Câu hỏi:
1- Quan điểm nhận thức/hành vi có mô tả bao quát hết mọi nguyên nhân của các
2-

3456-

trường hợp bệnh lý tâm lý tâm thần không?
Quan điểm nhận thức/hành vi xem những nhận thức, cảm xúc và hành vi sai trái là
nguyên nhân của các hiện tượng tâm lý tâm thần. Vậy quan điểm này đã hoàn toàn
đúng chưa?
Các phương thức và kỹ thuật trị liệu của liệu pháp nhận thức/hành vi nói chung có
những ưu và khuyết điểm nào?
Liệu pháp nhận thức/hành vi thường thích hợp cho các thành phần thân chủ nào?
Anh/chị có thể cho biết những điểm gì thuận lợi cũng như bất cập trong liệu pháp
nhận thức/hành vi đối với văn hóa của người Việt chúng ta không?
Anh/chị thích lập luận về bản chất con người của quan điểm phân tâm học hay
quan điểm nhận thức/hành vi?

253

CHƯƠNG 14

TRƯỜNG PHÁI HIỆN SINH/NHÂN VĂN
(EXISTENTIAL/HUMANISTIC PSYCHOTHERAPY)

1. Khái quát:
Trường phái Hiện sinh/Nhân văn được các chuyên viên tâm lý xem như là “lực thứ
ba” trong ngành tâm lý học lâm sàng. Trường phái này bao hàm một nhóm các liệu pháp
có quan niệm mới về vũ trụ nhân sinh và trong trị liệu luôn đặt tầm quan trọng vào những
đặc tính cá nhân của con người. Nhưng các liệu pháp trong nhóm này cũng có những
quan điểm khác nhau về phương thức và kỹ thuật tiếp cận trong thực hành. Chẳng hạn,
các chuyên viên trong nhóm liệu pháp hiện sinh quan tâm vào vấn đề làm sao đê xây
dựng cho thân chủ mình một ý thức có ý nghĩa về nhân sinh và vũ trụ quan, nhưng các
chuyên viên trong nhóm liệu pháp nhân văn lại đặt trọng tâm vào khuyến khích năng lực
phát triên và nâng cao cuộc sống tự nhiên của mỗi cá nhân. Đặc biệt, cả hai nhóm hiện
sinh và nhân văn đều không xem vấn đề bẩm sinh và di truyền của cá nhân là những yếu
tố căn bản, cố định và có vai trò then chốt cho sự phát triển nhân cách về sau theo như lý
thuyết của các trường phái phân tâm và tâm động trị liệu.
Có thể liệt kê một số liệu pháp thuộc trường phái Hiện sinh/Nhân văn đã từng được
giới thiệu trong lâm sàng như sau: Liệu pháp nhân vị trọng tâm (client-centered therapy),
liệu pháp hiện sinh (existential therapy), liệu pháp hình thái đồng nhất (Gestalt therapy),
liệu pháp thực tế (reality therapy), liệu pháp vai trò nữ giới (feminist therapy), v, v…
Dưới đây chúng ta sẽ dành thời gian để thảo luận chi tiết về hai liệu pháp đang được ưa
chuộng và áp dụng phổ biến hiện nay là: liệu pháp nhân vị trọng tâm và liệu pháp hiện
sinh; ngoài ra, vì lý do các liệu pháp còn lại không có những tính cách đặc biệt cả trong
lý thuyết lẫn các kỹ thuật trị liệu nên sẽ chỉ được bàn thảo ngắn gọn trong chương sách
này.
Các liệu pháp tâm lý theo quan điểm hiện sinh/nhân văn xuất hiện trong ngành tâm lý
lâm sàng vào khoảng những năm giữa thế kỷ 20, là để đáp ứng cho một luồng tư tưởng
mới đã tiềm tàng qua nhiều thời gian trong nền văn học và triết học tại các cộng đồng xã
hội phương Tây. Các triết gia theo quan điểm hiện sinh/nhân văn cho rằng quan niệm về
“cái bản thê tuyệt đối hoàn hảo” (the perfect form of everything) của sự vật trong triết
học truyền thống Hy Lạp kể từ thời Plato (500 năm trước CN ) là cái không bao giờ có.
254

Vào thời đó các triết gia tin tưởng rằng cái tính chất cốt lõi (the essence), hay là cái sự
thật tuyệt đối (the perfect truth) của một vấn đề hoặc của một sự vật là có thật, là điều dễ
hiểu và hiển nhiên, không có gì phải bàn cãi. Chẳng hạn ý niệm về một cái vòng tròn hay
cái hình vuông tuyệt đối, nếu ta không thể tìm thấy được trên trần gian thì sự thực nó vẫn
hiện hữu ở trên thiên đàng, nơi mà mọi sự vật đều được sắp xếp toàn hảo và vĩnh cửu bởi
bàn tay của Thượng đế; hơn nữa, trong phạm trù toán học, với khả năng trừu tượng của
trí tuệ ta vẫn có thể hình dung ra những vòng tròn và hình vuông tuyệt đối đó.
Theo dòng thời gian, khuôn khổ suy tư triết học truyền thống từ thời Plato bị mai một
dần, và các nhà hiền triết, văn thi sĩ, tư tưởng gia về sau thường có những phát biểu
nghiêng về tính chất hiện sinh/nhân văn hơn. Chẳng hạn, thánh Augustine, thế kỷ thứ III
sau CN đã khẳng định: “Sự thật chỉ tồn tại bên trong con người” (Truth dwells in the
inner man). Sau đó vào thế kỷ 16, triết gia Blaise Pascal lại nói rằng: “Con tim có những
lý lẽ mà lý trí không hiêu được” (The heart has its reasons which reason knows nothing
of) (1). Hai câu nói trên cho thấy các tư tưởng gia này muốn nói rằng “sự thật” là cái gì
chỉ do chủ thể con người cảm nhận và chỉ nên hiểu nó một cách tương đối, theo kinh
nghiệm riêng tư của mỗi người và ngay trong bối cảnh của hiện tại mà thôi. Nói cách
khác, các tư tưởng gia này muốn nói rằng “sự thật” không thể là cái gì bóng bẩy, trừu
tượng, tuyệt đối, vĩnh cửu, toàn diện, toàn hảo, khách quan và xa rời với kinh nghiệm
thực tại của cá thể con người.
Càng về sau càng có những nhà tư tưởng quan tâm đến “tính hiện thực” (the reality),
tức là cái gì đang xảy ra, đang có thật trong cuộc sống của nhân loại chứ không phải được
hình thành do sự tưởng tượng viễn vông của trí óc. Các triết gia có lập trường hiện
sinh/nhân văn, như Kierkegaard (1813-1855) và Nietzsche (1844-1900), đều quan niệm
rằng “sự thật” chỉ diễn ra và tồn tại với con người đang hiện hữu trong không gian và thời
gian tức thời của hiện tại mà thôi. Nói rõ hơn, “sự thật” là một ý niệm chủ quan, chỉ hình
thành và hiện hữu trong đời sống thực tại, và thực tại thì không thể được nhận biết một
cách ảo tưởng rằng nó là cái gì xa xôi, tách rời ra khỏi kinh nghiệm đời thường của con
người.
Một lý thuyết gia khác trong phong trào hiện sinh tại Âu Châu là Jean Paul Sartre
(1905-1980), trong cuốn Being and Nothingness (hiện hữu và hư vô) còn cho rằng ý thức
của con người luôn phải là cái có trước mọi cái để từ đó nó mới có thể hình dung và nói
về cái thế giới đang xảy ra chung quanh nó (2). Ông nổi tiếng với lời phát biểu: “Sự hiện
hữu luôn đứng trước bản thê của sự vật” (Existence precedes essence). Nói cách khác,
nếu không có ý thức về sự hiện diện của mình trong cuộc sống hiện thực như là một điều
255

kiện tiên quyết thì cá nhân sẽ không có ý niệm gì về thực chất hay bản thể của mọi sự vật
đang diễn ra chung quanh.
Tư tưởng hiện sinh/nhân văn đã trở thành một phong trào có tiếng nói mạnh mẽ tại
các nước Âu Mỹ vào những thập niên sau cuộc đại chiến thế giới thứ Hai, với sự tham
gia của nhiều văn thi sĩ, tư tưởng gia và học giả như Henri Bergson, Simon de
Beauvoir, Albert Camus, Gabriel Marcel, v, v…Phong trào này đặc biệt chú tâm vào
những vấn đề thuộc về thân phận của kiếp người trong vũ trụ, các ý niệm về sự hiện sinh,
ý nghĩa của sự sống và cái chết, ý nghĩa của tương quan giữa cá thể và tha nhân, ý nghĩa
của sự tự do cá nhân, những tiêu chuẩn giá trị, và những hạn chế trong khả năng chọn lựa
trong cuộc sống, cùng sự cô đơn của kiếp người, v, v…
Theo sau các luồng tư tưởng mới mẻ này, một số các bác sĩ và chuyên gia tâm lý tâm
thần bắt đầu nghĩ đến một loại liệu pháp chữa trị tập trung vào việc cần phải nhận biết và
quan tâm về tính cá thê (individuality) của con người theo chiều kích khác hơn với các
trường phái trị liệu đang được sử dụng đương thời. Trong một bài bình luận viết vào năm
1956, bác sĩ Ludwig Binswanger nói rằng dù cho các lý thuyết về cấu trúc tâm lý
(psychic structure) của Freud, những khuôn mẫu vô thức tập thê nguyên thủy (archetype)
của Jung, và các nguyên tắc điều kiện hóa (conditioning) của các chuyên gia thuộc
trường phái hành vi trị liệu đều có những giá trị nhất định để hiểu biết về hành vi của con
người, nhưng ông cho rằng không nên nhìn thấy con người theo lối phóng chiếu như thế,
mà lại bỏ qua những gì đang thực sự xảy ra trong hiện thực cho chính con người ấy (3).
Các chuyên gia trong nhóm liệu pháp hiện sinh/nhân văn cho rằng nhân loại hiện
đang sống trong một thời đại mà mọi sự việc đều có thể thay đổi chớp nhoáng, từ những
tiến bộ trong khoa học và kỹ thuật, máy móc, công nghệ và nghệ thuật cho đến những
biến chuyển trong các lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội làm cho con người càng
ngày càng trở nên cô đơn, đóng cõi, xa rời với những bản tính thân thiện tự nhiên, và do
đó, tinh thần trở nên căn thẳng, khắc khoải, lo âu và hỗn loạn.
Với những lập luận như vậy, liệu pháp hiện sinh/nhân văn không đề ra những phương
thức và ky thuật theo một quy luật hay tiến trình chữa trị đặc biệt và nhất định nào,
phương pháp của nó đơn giản là nêu ra cho thân chủ nhận biết những vấn đề gai góc và
sâu sắc liên quan đến bản chất của tình yêu, mục đích của sự sống, các tiêu chuẩn giá trị
chung, trách nhiệm và khả năng lựa chọn của mỗi cá nhân, sự hạn chế của ý niệm về tự
do, ý nghĩa của cái chết, nỗi cô đơn, tuyệt vọng, sự te nhạt, buồn chán và những cảm
giác hụt hẫng, thất bại trong các mục tiêu đề ra cho cuộc sống, v, v,... Phương pháp tổng
quát của các chuyên gia trong nhóm liệu pháp hiện sinh/nhân văn là trao đổi và thảo luận,
256

lắng nghe, cảm thông, chấp nhận hiện tình về con người của thân chủ, giúp thân chủ thay
đổi hành vi, ý nghĩ và cảm xúc, và tìm ra được hướng đi mới để thay đổi cuộc sống của
họ.
2. Liệu Pháp Nhân Vị Trọng Tâm (còn gọi là Liệu pháp thân chủ trọng tâm)
Tiến sĩ Carl Rogers (1902-1987), nhà sáng lập ra liệu pháp nhân vị trọng tâm, là giáo
sư từng giảng dạy môn tâm lý học tại các đại học thuộc các tiểu bang Ohio, Wisconsin và
Illinois vào những thập niên 50-60. Rogers đã viết nhiều bài luận văn nói về quan điểm
của ông về những khiá cạnh tích cực trong bản chất của con người, cùng các cách tiếp
cận và phương thức trị liệu của nhà tâm lý, và sau đó đã được đóng thành những tập sách
dưới các tên “On Becoming a Person” (Để trở thành một con người) và “A way of Being”
(Một lối sống) (4).
Liệu pháp nhân vị trọng tâm của Rogers nói chung là chống lại với quan điểm của các
trường phái trị liệu đang hiện hành. Ông đặc biệt quan tâm vào bản chất tự phát triên, tự
sửa đổi và lớn mạnh của cá nhân người thân chủ, và ông không đồng ý rằng nhà trị liệu
phải là người đóng vai trò chỉ bảo, động viên, huấn luyện, hay cần phải sử dụng các hình
thức thưởng phạt để sửa đổi thân chủ mình.
2.1. Quan điểm về bản chất con người
Nhóm trường phái nhân vị trọng tâm cho rằng bản chất con người nói chung là
thân thiện, hợp tác và xây dựng. Mỗi con người là một cá nhân độc đáo về kinh nghiệm,
niềm tin, năng lực, sự tự do lựa chọn, và luôn có khuynh hướng cố gắng phát triển mọi
tiềm năng của mình để tiến lên hoàn thành được những ước mơ trong cuộc sống . Nói
khác đi, liệu pháp nhân vị trọng tâm chỉ đặc biệt chú trọng vào những cá tính tốt đẹp và
tích cực, các khả năng tự thích ứng và tự phát triển của cá nhân.
Rogers quan niệm rằng cái tôi (self), hay là nhân cách (personality), là tất cả
những kinh nghiệm và nhận thức của một người được hình thành theo một khuôn mẫu có
tổ chức và xuyên suốt. Dù cho “cái tôi” có những thay đổi nhiều ít theo thời gian, nhưng
những tính chất cốt lõi, những nét căn bản riêng của nó vẫn luôn mãi tồn tại. Nói khác đi,
“cái tôi” luôn là một khối đồng nhất bao gồm những nhận thức và trải nghiệm có tính đặt
thù. Rogers không tán thành quan điểm cho rằng “cái tôi” hay nhân cách là một thực thể
mà mọi sinh hoạt thường bị ràng buộc và chi phối bởi lãnh vực vô thức vừa rộng lớn vừa
không thể đo lường được như quan niệm của Freud trong phân tâm học. Trong tác phẩm
“Client-Center Therapy” (5), Rogers nêu ra quan niệm của ông về những nét căn bản liên
quan đến nhân cách và hành vi con người, nói chung có thể rút ra những điểm như sau:
257

- Mọi con người đều sống và có những trải nghiệm riêng tư của mình trong
cái thế giới hiện thực của hiện tại luôn chuyển biến và thay đổi.
- Khi đối diện với tình huống, mọi con người thường phản ứng theo nhận
thức và kinh nghiệm riêng của cá nhân, nghĩa là phản ứng theo khuôn mẫu thống
nhất với cái gì đã làm nên “cái tôi” của mình.
- Khuynh hướng và nỗ lực căn bản của “cái tôi” là luôn muốn thực hiện,
duy trì, và nâng cao năng lực của bản thân để thỏa mãn những nhu cầu và hoàn
thành được các mục tiêu mình thường mong ước.
- Trong quá trình cá nhân hành động để tiến đến mục tiêu thì luôn có những
cảm xúc đi kèm, và mức độ của những cảm xúc này thường biến chuyển và thay
đổi tùy thuộc vào mỗi hành động. Cảm xúc luôn có vai trò củng cố và làm gia tăng
khả năng hành động của cá nhân.
- Cách tốt nhất để hiểu được các hành vi của một người là từ chính người
đó nói ra, nghĩa là cái khung tham chiếu cho mỗi hành vi cá nhân phải do chính cá
nhân đó nhận biết chứ không phải ai khác.
- Cấu trúc của “cái tôi”, là một khuôn mẫu có tổ chức, thống nhất, xuyên
suốt nhưng cũng thường uyển chuyển, biến đổi, ngay cả những quan niệm về các
tiêu chuẩn giá trị của chính bản thân mình. “Cái tôi” được hình thành và phát triển
qua quá trình thân chủ tương tác với môi trường bên ngoài, và qua ảnh hưởng của
những sự nhận xét và đánh giá của tha nhân về cá nhân người thân chủ. Quan
niệm giá trị của bản thân một phần là do tự mình cảm thấy, và một phần khác là do
tiếp nhận một cách vô thức từ các ảnh hưởng bên ngoài, nhưng nó thường bị méo
mó bởi kiểu cách suy nghĩ của cá nhân, nên cá nhân vẫn tưởng nó là một kinh
nghiệm trực tiếp của chính mình.
- Những hành vi nào phù hợp với quan niệm của “cái tôi” thực sự của mình
thì thường được thừa nhận. Nhưng những hành vi, trải nghiệm nào mà “cái tôi”
thấy không phù hợp và chấp nhận được thì có thể làm cho cá nhân bị rơi vào tình
trạng bối rối, bất mãn, chệch hướng, và khủng hoảng về mặt tâm lý. Chẳng hạn,
trong một trận đánh chiến sĩ nào không chấp nhận cảnh giết người man rợ sẽ cảm
thấy rất bất mãn, kinh hãi và điên tiết lên khi thấy đồng bạn của mình tiếp tục hăng
say chém giết những người đối phương cuối cùng còn sót lại trong khi trong tay
họ không còn vũ khí để tự vệ.
258