Tải bản đầy đủ
Các phương thức và kỹ thuật trị liệu của CBT

Các phương thức và kỹ thuật trị liệu của CBT

Tải bản đầy đủ

- Sử dụng lối đặt câu hỏi “giả sử, giá như, nếu như, giả thiết rằng…” (what
if…) để giúp thân chủ mở rộng tầm suy nghĩ, nghĩa là giúp thân chủ biết sử dụng
lối suy nghĩ đa chiều và bao quát để luôn thấy được nhiều khía cạnh khác nhau khi
đứng trước một vấn đề gì. Beck gọi kỹ thuật này là tái phục hồi
(decatastrophizing).
- Nhà trị liệu phải chỉ cho thân chủ thấy rõ lối suy nghĩ sai trái theo kiểu
“qui kết” của thân chủ; nói cách khác là phải giải thích và hướng dẫn thân chủ
thực hiện những trắc nghiệm cụ thể để thấy rõ lối suy nghĩ theo những định kiến
có sẵn là không hợp lý, bất thường và bệnh hoạn.
- Nhà trị liệu cần chú ý vào những ý tưởng hay câu nói nào của thân chủ tỏ
ra không phù hợp, bất lợi hay có hại và giúp thân chủ sửa lại hay tái định nghĩa
(redefining) tính chất nội dung của ý tưởng hay câu nói đó.
- CT cũng áp dụng hình thức bài tập để giao phó cho thân chủ thực hành
những kỹ năng mới trong suy nghĩ và hành động. Nhà trị liệu động viên, khuyến
khích và kiểm tra, đánh giá mọi tiến bộ trong sự thực tập của thân chủ.
2.2. Cách trị liệu của liệu pháp duy lý cảm xúc hành vi (REBT)
Nhà tâm lý Albert Ellis là người sáng lập ra REBT. Xuất thân là một tông đồ của
phân tâm học, Ellis dần dần thay đổi quan điểm trị liệu của mình vì nhận thấy phân tâm
học không chú trọng nhiều vào yếu tố nhận thức mà ông cho rằng đó là phần rất quan
trọng trong việc giúp cho cá nhân thay đổi được hành vi và cảm xúc của họ. Bên cạnh đó,
ông nhận thấy quan niệm trị liệu của ông có một số điểm tương đồng với một đồng
nghiệp đương thời là tiến sĩ Arron Beck, tác giả của liệu pháp nhận thức CT vừa nói ở
trên. Cả hai ông đều tin rằng mục tiêu trị liệu cho những vấn đề tâm lý tâm thần là phải
tích cực can thiệp trực tiếp vào những phần tư tưởng nào mang mầm bệnh lý chứ không
lắng nghe thân chủ một cách thụ động và chỉ phân tích những vấn đề của thân chủ theo
kiểu gián tiếp như liệu pháp phân tâm học đã làm.
REBT là lý thuyết dựa trên sự giả định rằng nhận thức, cảm xúc và hành vi của
con người là ba yếu tố luôn có mối quan hệ hỗ tương và chặt chẽ, chúng tác động và ảnh
hưởng lên nhau trong mọi tình huống. Chẳng hạn, Ellis nói rằng một niềm tin phi lý
(irrational belief) rất dễ dẫn đến những cảm xúc và hành vi bất thường, sai trái hay bệnh
hoạn. Nhưng niềm tin hay phán đoán của cá nhân lại thường là sản phẩm của những định
kiến, cảm nhận đã có sẵn. Nói cách khác, những kiểu cách suy nghĩ, phán đoán của cá
244

nhân, tùy theo chiều hướng và mức độ, có thể là nguyên nhân gây ra những vấn đề tâm lý
tâm thần cho chính họ. Ellis lý luận rằng khi trực diện với một sự cố, cá nhân sẽ có
những nhận định, phán đoán hoặc là hợp lý hay không hợp lý. Như thế, nếu phán đoán đó
hợp lý thì cá nhân đồng thời sẽ có những cảm xúc cũng như cách ứng xử hợp lý, và
ngược lại, sự phán đoán không hợp lý sẽ khiến cá nhân có những cảm xúc và cách ứng xử
không bình thường, sai trái hay bệnh hoạn (3).
REBT cho rằng có ba loại niềm tin thường dẫn đến những cảm xúc và hành vi sai
lệch và bệnh hoạn; đó là những niềm tin không có lý tính, niềm tin không có tính cách
thực tế trong cuộc sống, và niềm tin chủ quan tự làm hại bản thân. Chẳng hạn, có những
cá nhân luôn tin tưởng: “Để được mọi người chấp nhận và kính phục tôi phải luôn chứng
tỏ mình là người tốt nhất và giỏi nhất”, hay “Trong quan hệ, mọi người phải đối xử với
tôi thật tử tế, công bằng, dịu dàng đúng theo ý tôi muốn. Nếu không, tôi sẽ ruồng bỏ, xa
lánh, lên án hay tìm cách trừng phạt họ”, hay “Khi tôi muốn hay cần điều gì thì nhất định
tôi phải được, nếu không được vậy tôi sẽ điên tiết, hờn giận và tuyệt vọng”.
Ellis cho rằng mọi người đều có khả năng làm thay đổi các niềm tin, cảm xúc và
hành vi không hợp lý của mình. Ông tin rằng qua quá trình tương tác với nhà trị liệu, với
các công việc hướng dẫn, giáo dục, khám phá, tranh luận, so sánh, phân biệt, đắn đo và
chiêm nghiệm, thân chủ sẽ nghiệm ra được rằng những niềm tin bất hợp lý, tự bại trước
đây của mình chính là căn nguyên dẫn đến những cảm xúc và hành vi quá đáng, không
bình thường hay bệnh lý cho mình.
Giai đoạn tiếp theo là nhà trị liệu sẽ từng bước giao phó những bài tập cụ thể để
thân chủ thực hành hằng ngày sau các phiên trị liệu. Những bài tập được giao phó có mục
đích giúp thân chủ biết phấn đấu để tự thay đổi những niềm tin phi lý, những thành kiến,
nhận định độc đoán, sai trái trước đây của mình. Và bài tập giao phó về nhà cũng là một
biện pháp theo dõi và đánh giá sự tuân thủ các hướng dẫn trong trị liệu và mọi sự tiến bộ
nếu có của thân chủ. Thân chủ phải là người có lòng ao ước, tin tưởng và thật sự thực
hành những bài tập đã được nhà trị liệu thiết kế. Ellis tin tưởng rằng một khi thân chủ
thành tâm thực hành đầy đủ những bài tập được giao phó bên ngoài các phiên trị liệu thì
anh/cô ta sẽ nhận ra được sự khác biệt trong ngôn ngữ, cách tư duy, cảm nhận và ứng xử
của mình trước đây và bây giờ. Theo đó thân chủ sẽ ý thức rõ những gì từ đây mình nên
làm để có lợi ích cho bản thân.
Một điểm khác biệt đáng chú ý giữa REBT và CT là trong khi CT cho rằng nếp
suy nghĩ, cấu trúc tư tưởng của cá nhân là nguyên nhân chính yếu gây ra các triệu chứng
tâm lý bất thường thì REBT dù không chối bỏ vai trò quan trọng của phần tư tưởng,
245

nhưng lại cho rằng chính cảm xúc của cá nhân mới là mấu chốt tạo ra các bất thường tâm
lý.
Điểm khác biệt thứ hai là REBT luôn cho rằng vai trò của nhà trị liệu là cần phải
tích cực và độc đoán trong việc giáo dục, đối chất, tranh luận với thân chủ. Nhà trị liệu
phải thuyết phục, mạnh dạn bẻ gãy lối suy nghĩ lệch lạc cố hữu của thân chủ cho đến khi
nào chúng bị xóa sạch trong tư duy của thân chủ. Trong khi đó, nhà trị liệu CT luôn xem
thân chủ như là một người bạn hay một đồng nghiệp, nghĩa là luôn để thân chủ cùng
mình thảo luận vấn đề trong tinh thần bình đẳng, cùng nhau học hỏi, quan sát, chiêm
nghiệm để tiến đến mục tiêu chữa trị. Nói rõ hơn, vai trò của nhà trị liệu REBT phải luôn
có tính cách của một ông thầy cứng rắn, độc đoán và bắt buộc hơn vai trò của nhà trị liệu
CT (4).
Hơn nữa, REBT lại quả quyết rằng mọi triệu chứng rối loạn đều có nguyên nhân
từ những niềm tin, cảm xúc phi lý, do đó không cần thiết phải có cách tiếp cận trị liệu
khác nhau đối với hai loại thân chủ này. Nhưng lý thuyết của CT cho rằng mỗi một triệu
chứng rối loạn tâm lý tâm thần thường có một nội dung riêng biệt trong phần nhận thức
(tư duy) của cá nhân. Chẳng hạn, nội dung nhận thức của người bệnh trầm cảm khác với
nội dung nhận thức của người bị bệnh rối loạn lo âu, và như thế thì đòi hỏi phải có sự tiếp
cận khác nhau đối với hai loại thân chủ này.
2.3. Cách trị liệu của liệu pháp hành vi (BT)
Quan điểm của BT cho rằng hành vi là tấm gương phản chiếu trung thực nhất cho
mọi tư tưởng, cảm xúc và niềm tin bên trong của một cá nhân. Toàn bộ hành vi thể hiện
ra bên ngoài phản ảnh của nhân cách, bản ngã, cá tính hoặc những triệu chứng rối loạn
tâm lý tâm thần, nếu có, của một người. Hành vi được biểu hiện qua các hình thức, hoặc
công khai (lời phát biểu, chuyện trò, làm việc, run rẫy, khóc lóc, trốn chạy…) hoặc ẩn
giấu (những dấu hiệu, cử chỉ không lời, tình cảm, ý nghĩ, xúc cảm, mơ mộng… ). Nói
tóm lại, sửa đổi được hành vi là sửa đổi được con người đó. Nói cách khác nữa, muốn
giảm thiểu các triệu chứng rối loạn tâm lý tâm thần cho một cá nhân thì cách tốt nhất là
nên sửa đổi những hành vi nào có liên hệ với các triệu chứng đó, chứ không cần quan tâm
đến những yếu tố khác thuộc về di truyền, bẩm sinh, hay quá trình sang chấn…như quan
niệm của các liệu pháp khác (5).
Để sửa đổi hành vi của thân chủ, các chuyên gia BT sử dụng các hình thức và kỹ
thuật trong lý thuyết học tập, quan sát và bắt chước người mẫu của John B Watson,
Albert Bandura, huấn luyện từng hành vi của thân chủ theo các kỹ thuật của điều kiện
246

hoá thao tác của B F Skinner, và điều kiện hoá cổ điển của Evan Pavlov. Tựu trung, ta
có thể tóm lượt một số các phương pháp và kỹ thuật trị liệu của BT như sau (6):
2.3.1 Kỹ thuật tự điều hành (self-control)
Nhà trị liệu huấn luyện cho thân chủ biết những cách tự kiêm tra (selfmonitoring or self-report) các mức độ triệu chứng của mình, cũng như biết cách sử
dụng các ky thuật tự củng cố (self-reinforcement), điều hành kích thích (stimulus
control) hay tự trừng phạt (self- punishment)…
- Ky thuật tự kiêm tra: Thân chủ được hướng dẫn cách viết lên giấy
tất cả các dấu hiệu, triệu chứng mình đang cảm nhận, với đầy đủ nội dung,
mức độ của chúng. Mục đích việc làm này là để thân chủ có cơ hội ý thức
rõ ràng những vấn đề của chính mình.
- Ky thuật điều hành kích thích: Kỹ thuật này giúp thân chủ biết điều
hành và chế ngự những kích thích. Ví dụ, một thân chủ muốn bỏ tật nghiện
thuốc lá được khuyến khích và hướng dẫn các cách thức làm sao tránh được
những tình huống, cơ hội, những gợi ý làm mình cảm thấy thèm thuốc hoặc
bị buộc phải hút thuốc trở lại. Có hai hình thức trong kỹ thuật này: -Hình
thức hạn chế: Ví dụ, thân chủ bị bị bệnh tim được gợi ý là không nên lái xe,
đi máy bay, và tránh chỗ đông đúc ồn ào. -Hình thức gợi ý gia tăng: Ví dụ,
để kích thích cậu bé tự kỷ gia tăng khả năng hoạt động, cha mẹ mua nhiều
đồ chơi và dụng cụ máy móc để sẵn trong phòng cho cậu bé có nhiều cơ hội
tìm tòi, soạn sửa, lục xạo.
- Ky thuật tự củng cố: Khuyến khích thân chủ tiếp tục tự thực hiện
những việc làm để gia tăng một tập quán tốt, một khả năng hay một tài
khéo. Ví dụ, khuyến khích một trẻ tự kỷ chậm trí hằng ngày tự sắp xếp và
lau dọn đồ đạt trong phòng để càng ngày càng tạo cho em một thói quen nề
nếp và gọn gàng.
- Ky thuật tự trừng phạt: Giúp thân chủ biết làm những điều gì để
nghiêm túc tự trừng phạt mình trong những lần sai phạm về một vấn đề gì
chính mình đã cam kết sẽ thực hiện. Ví dụ, một thân chủ muốn bỏ tật hay
chửi rủa và ức hiếp vợ con mình, hứa với nhà trị liệu rằng nếu tái phạm anh
ta sẽ tự phạt bản thân bằng cách tự tay ngồi viết đầy năm trang giấy với
những lời hối lỗi.
247

- Ky thuật diễn tuồng (role playing): Ví dụ, nhà trị liệu gợi ý cho một
cặp vợ chồng thân chủ diễn lại trung thực những gì đã xảy ra trong một
cuộc cãi vã tại nhà mới đây. Mục đích việc làm này là để hai bên thấy lại
những suy nghĩ, cảm xúc và cách ứng xử sai trái, nếu có, của họ trước sự
phân tích và giúp đỡ ý kiến của một chuyên gia.
2.3.2. Kỹ thuật tiêm phòng chống stress (stress inoculation training)
Nhà liệu pháp hành vi Meichenbaum đề nghị ba bước để giúp hạ thấp
những cơn bốc đồng, cảm xúc đột xuất ngoài ý muốn. Những thân chủ hay có
những cơn giận dữ, hiếu chiến, thèm khát, sợ hãi, tinh thần căng thẳng…cần được
huấn luyện kỹ thuật này. Ông đề nghị ba bước cần thực hiện: - Bước đầu gọi là
giai đoạn chuẩn bị nhận thức (cognitive preparation), tức là học hỏi để nhận thức
rõ những sai trái trong cách suy nghĩ, tư duy thiên lệch, thành kiến, hạn hẹp trước
đây của mình. –Bước hai gọi là giai đoạn tạo dựng ky năng (skill acquisition), tức
là học hỏi nhiều phương pháp làm sao để xây dựng một tư duy tích cực, chọn lựa
các hình thức thư giãn tinh thần phù hợp với ý thích của mình. –Bước ba là giai
đoạn thực hành (practice), thân chủ bắt đầu đi vào chương trình thực hành với
những bài tập giao phó và sự theo dõi, giám sát của nhà trị liệu.
2.3.3. Kỹ thuật phản hồi sinh học (biofeedback techniques)
Huấn luyện cho thân chủ biết sử dụng những dụng cụ kỹ thuật để đo và
theo dõi nhịp tim, áp suất máu, độ căng thẳng bắp thịt, nhiệt độ thân thể, lượng
đường trong máu… Sau đó huấn luyện thân chủ biết cách tự mình điều hòa, ổn
định lại các trạng thái thay đổi của cơ thể. Ví dụ, thân chủ bị bệnh tiểu đường biết
cách dùng dụng cụ đo lượng đường trong máu hằng ngày để hạn chế những thức
ăn có chứa nhiều loại đường có hại.
2.3.4. Kỹ thuật giải cảm có hệ thống (systematic desensitization)
Kỹ thuật này cũng có mục đích giúp giảm thiểu các trạng thái căng thẳng
như kỹ thuật tiêm phòng chống stress, nhưng cách thực hiện lại khác nhau. Có hai
cách chính sau đây:
- Giải cảm trực tiếp (in vivo desensitization): Từng bước một tập
cho thân chủ đương đầu với vấn đề hay sự cố cho đến khi quen thuộc. Ví
dụ, hằng ngày tiếp tục đưa đứa trẻ có triệu chứng mất nói chọn lựa
(selective mutism) vào lớp học và cho tiếp xúc với cô thầy giáo, bạn bè

248

cùng lớp để đứa trẻ có cơ hội phải đối thoại, chuyện trò cho đến khi triệu
chứng mất dần.
- Giải cảm tràn ngập (flooding): Đưa ngay thân chủ vào hiện trường
của vấn đề hay sự cố để thân chủ trực tiếp chịu đựng cho đến khi quen
thuộc. Ví dụ, hằng ngày đưa một sinh viên có triệu chứng sợ nói chuyện
trước đám đông (social phobia) ra trước lớp học trình bày các đề tài tự
chọn.
2.3.5. Kỹ thuật điều kiện hoá thao tác (operant conditioning
techniques)
Gồm nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hai hình thức thông dụng nhất
là:
- Ky thuật thưởng bằng hiện vật (token economy): Dùng quà, tiền,
thực phẩm, hay đồ chơi giải trí… để thưởng cho những cá nhân làm những
việc tốt, như bỏ tật xấu, biết nghe lời, tuân thủ luật lệ…Ví dụ, thưởng một
món quà cho đứa trẻ lúc nào nó hoàn thành các bài tập giao phó làm ở nhà .
- Ky thuật gây chán ghét (Aversion therapy): Kỹ thuật này thường áp
dụng cho những trường hợp nghiện ngập, ham muốn, đam mê làm những
thói hư, tật xấu…Ví dụ, bôi một loại thuốc hôi nhưng không độc vào các
ngón tay để đứa trẻ có tật cắn móng tay không còn ham muốn cái cảm giác
quen thuộc đó nữa.
2.3.6. Kỹ thuật kê đơn thuốc nghịch lý (paradoxical prescribing)
Đây là một kỹ thuật trị liệu tương tự như kỹ thuật ý định nghịch lý
(paradoxical intention) hay thực hành phủ định (negative practice) được áp dụng
trong liệu pháp tâm lý cá nhân của Adler. Cách làm của kỹ thuật này là nhà trị liệu
khuyến khích, mở đường cho thân chủ tiếp tục làm cho tình trạng hay triệu chứng
của mình trở nên trầm trọng hơn. Ví dụ, khuyến khích thân chủ cứ tiếp tục tạo
nhiều cơ hội để đi máy bay trong khi thân chủ này cho biết cô ấy thường có triệu
chứng sợ đi máy bay vì luôn cảm thấy khó thở, ngột ngạt và lo lắng. Kỹ thuật này
xuất phát từ ý niệm rằng chính sự lo lắng, ám ảnh trong tâm trí thường làm cho
vấn đề trở nên trầm trọng hơn; do đó, khuyến khích thân chủ tiếp tục thực hành
điều họ không muốn sẽ rốt cuộc điều chỉnh nhận thức và cảm xúc, và từ đó các

249

triệu chứng của họ sẽ được phục hồi. Tuy nhiên, kỹ thuật kê đơn thuốc nghịch lý
chỉ áp dụng trong những trường hợp hiếm hoi, khi không còn cách nào khác.
2.3.7. Kỹ thuật làm theo người mẫu (modeling techniques)
Kỹ thuật này giúp thân chủ từng bước học hỏi, bắt chước làm theo những
kiểu mẫu hay người mẫu được nhà trị liệu chuẩn bị cụ thể. Ví dụ, trước khi muốn
giúp đứa trẻ tự kỷ học cách làm sao để rửa mặt và chải răng, nhà trị liệu đề nghị
người mẹ của đứa trẻ luôn cho đứa trẻ chứng kiến và thấy rõ từng bước một cách
làm của cô ta cứ vào mỗi buổi sáng và tối cho đến khi em cảm thấy quen thuộc với
những hình ảnh đó. Giai đoạn thứ hai là tập cho đứa trẻ thực hành từng bước.
2.3.8. Liệu pháp thôi miên (hypnotherapy)
Các chuyên gia hành vi liệu pháp truyền thống cổ điển còn sử dụng hình
thức thôi miên để trị liệu các triệu các chứng tâm lý thuộc dạng rối loạn tâm phân
(dissociative disorders), rối loạn stress hậu sang chấn (posttraumatic stress
disorder), và các trường hợp thuộc về nghiện ngập, như nghiện cờ bạc, thuốc
phiện, nhục dục…
Thôi miên là cách làm cho đối tượng rơi vào trạng thái hoàn toàn thư giãn
trong sự thức tỉnh có hạn chế, chứ không phải là một trạng thái hoàn toàn mê
muội, không còn ý thức gì. Trong trạng thái này cá nhân vẫn còn tâm trí để nghe,
nhận biết và đối đáp với nhà trị liệu, nhưng lại bị mất khả năng gọi là ý thức ngoại
biên (peripheral awareness), nghĩa là ngoài sự tương tác với nhà trị liệu thì thân
chủ không biết gì khác đang xảy ra chung quanh bên ngoài. Tóm lại, có thể nói cá
nhân đang nằm trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê (trance-like state). Nói rõ hơn,
thôi niên tạo ra ba yếu tố: a) tâm trí cá nhân bị cuốn hút (absorption), bị dính chặc
vào một sự việc. b) tinh thần bị tâm phân (dissociation), nghĩa là bị ở trạng thái
xáo trộn và thay đổi. c) mất ý thức kiểm soát và bị rơi vào trạng thái nghe theo sự
gợi ý (suggestibility) của nhà trị liệu (7).
Thôi miên liệu pháp được cho là một hình thức trị liệu để giúp thân chủ nhớ
lại được những ký ức và chấn thương tình cảm từng bị đè nén, chôn vùi trong phần
vô thức của tâm trí. Chuyên gia thôi miên liệu pháp phải qua nhiều huấn luyện để
có sự thuần thục trong thực hành. Tuy nhiên, nhiều cuộc kiểm tra cho thấy phần
lớn hiệu quả của thôi miên chỉ xảy ra cho một số thân chủ, nghĩa là hoàn toàn lệ
thuộc vào những yếu tố tâm lý đặc thù của thân chủ chứ không phải liên hệ nhiều
đến khả năng chuyên nghiệp của người chuyên viên. Ngoài ra, liệu pháp thôi miên
250

cũng có tính chống chỉ định (contraindications) nên không thể áp dụng cho các
trường hợp trị liệu các bệnh nhân đang có những triệu chứng trầm trọng thuộc các
dạng hoang tưởng, ảo giác, tâm thần phân liệt, rối loạn khí sắc hay ám ảnh cưỡng
bức…(8).
3. Phê bình và đánh giá liệu pháp CBT
Hình thức trị liệu bằng sự phối hợp của các liệu pháp nhận thức, duy lý cảm xúc, và
hành vi là một nỗ lực có giá trị, không những nó phù hợp với lý thuyết về tính tương
quan nhân quả giữa các yếu tố ý tưởng, cảm xúc, và hành động của khoa tâm thần vận
động (psychomotor) và khoa tâm lý cảm xúc (psychognosis), mà nó còn tỏ ra có hiệu quả
cho công việc trị liệu trong thực tế trên nhiều trường hợp triệu chứng và rối loạn tâm lý
tâm thần khác nhau.
CBT thường được các chuyên gia xem như là một trong bốn “lực” chính yếu trong
lãnh vực tâm lý trị liệu vì nó có quan điểm, nội dung và hình thức tiếp cận rõ ràng và độc
lập. Ba lực trị liệu nòng cốt còn lại là quan điêm tâm động trị liệu (psychodynamic
psychotherapy), quan điêm hiện sinh-nhân văn trị liệu (existential-humanistic therapy),
và quan điêm hệ thống gia đình trị liệu (family-system therapy).
Tại Hoa Kỳ hiện nay có khoảng 10% các chuyên gia chuyên áp dụng liệu pháp nhận
thức-hành vi trong công tác trị liệu, và cũng có nhiều cơ quan, học viện, trường đại học
đang mở ra để giảng dạy lý thuyết và thực hành liệu pháp này. Ngoài ra, còn có những
hiệp hội, chẳng hạn Hiệp hội nhận thức-hành vi (Association of Behavioral Cognitive
Therapy) (ABCT), và Hiệp hội liệu pháp hành vi nâng cao (Association of Advanced
Behavioral Therapy) (AABT)…đã được các chuyên gia thiết lập để tiếp tục nghiên cứu,
thí nghiệm, huấn luyện, và cổ vũ cho trường phái nhận thức-hành vi (9).
Tuy có nhiều ưu điểm trong thực hành và thực nghiệm, liệu pháp nhận thức-hành vi
cũng vẫn còn có nhiều hạn chế và thiếu sót trong vấn đề trị liệu các triệu chứng tâm lý
tâm thần khác nhau, nhất là những dạng bệnh tâm lý tâm thần trầm trọng, cho con người.
Nội dung lý thuyết của CBT không thể bao quát được tính phức tạp toàn bộ của nhân
cách và đời sống của một cá nhân khi nó bỏ qua, không đặt tầm quan trọng đến các yếu
tố di truyền, bẩm sinh, xã hội, văn hóa, và những kinh nghiệm, chấn thương sâu đậm mà
nhiều thân chủ rất có thể đã phải trải qua trong quá trình phát triển và khôn lớn của họ.
Liệu pháp nhận thức-hành vi có thể đem lại nhiều thành công khi áp dụng cho các
trường hợp chữa trị cho trẻ em với những khuyết tật tâm lý tâm thần bẩm sinh, những trẻ
251

em có tập quán xấu hay hành vi hư hỏng, bất thường, chệch hướng, hay các trường hợp
nghiện ngập của người lớn, những triệu chứng rối loạn tâm lý tâm thần ở mức độ nhẹ,
như ám ảnh, sợ hãi, lo buồn… do tác động của những nghịch cảnh trong môi trường
sống. Nhưng cách tiếp cận vừa mang tính giáo dục lại vừa mang tính đối đầu và độc đoán
của nhà trị liệu, trong nhiều trường hợp, sẽ không phù hợp và có thể gặp phải nhiều phản
ứng chống đối của một số thân chủ. Đây là điểm cần lưu ý cho bất cứ chuyên viên nào
muốn lựa chọn quan điểm CBT là lãnh vực sở trường cho công việc trị liệu tâm lý của
mình.
-----------------------------------------

252