Tải bản đầy đủ
Phê bình và đánh giá liệu pháp nhận thức

Phê bình và đánh giá liệu pháp nhận thức

Tải bản đầy đủ

cảm. Ngoài ra, nhiều chuyên gia tâm lý ủng hộ mạnh mẽ các nhận định của Beck về mối
liên hệ trực tiếp giữa cảm giác tuyệt vọng và ý định tự vận, và kiểu nhận thức luôn có
tính cách tiêu cực của những người trầm cảm về thế giới, về bản thân họ, và tương lai của
chính họ.
Tuy nhiên, CT cũng có những khuyết điểm của nó trên nhiều khía cạnh. Trước hết, ta
cần đặt câu hỏi là có phải tất cả các dấu hiệu và triệu chứng tâm lý tâm thần đều là do hậu
quả của nếp suy nghĩ hay lòng tin sai lạc của cá nhân hay không? Hay trong nhiều trường
hợp, những nhận định và niềm tin sai lạc đó chính là hậu quả trực tiếp của các triệu
chứng rối loạn tâm thần tâm lý? Theo nhận xét từ các ca bệnh thực tế, cả hai yếu tố đều
có sự liên hệ hỗ tương và nhân quả, nghĩa là cả hai đều có thể vừa là nguyên nhân vừa là
hậu quả của nhau.
Ngoài ra, khi thay đổi nhận thức hay lòng tin sai lạc của cá nhân liệu rằng có thể thay
đổi hẳn tình trạng bệnh của họ hay không? Nhiều cuộc kiểm tra cho thấy các rối loạn tâm
thần tâm lý là những hiện tượng vô cùng phức tạp, khó truy tìm được nguyên nhân và có
tính mãn đời trong nhiều trường hợp; do đó, các biện pháp thay đổi nếp suy nghĩ cho cá
nhân theo CT có thể chỉ là bước đầu, có tính cách tương đối, hạn chế, nhất thời, và rõ
ràng không có thể bao quát được mọi vấn đề liên hệ đến lãnh vực tâm thần tâm lý của cá
nhân.
CT cũng bị chỉ trích vì chỉ quan tâm đến một lãnh vực sinh hoạt của con người mà bỏ
qua những lãnh vực khác cũng không kém phần quan trọng. Cuộc sống của một người
đâu chỉ có một mặt nhận thức, mà còn bao gồm nhiều mặt tâm lý khác liên quan đến các
nhu cầu bản năng thôi thúc và đòi hỏi của cơ thể, các mặt tình cảm, ham muốn, ao ước,
tưởng tượng, ý chí, động cơ và dự định...Như thế, chỉ một mặt nhận thức không thôi thì
chưa đủ để cá nhân chuyển đổi nếp suy nghĩ hay lòng tin của mình nếu không có những
mặt khác kết hợp để tạo đà thay đổi cho cá nhân.
Thêm một điểm đặc biệt khác, quan điểm về ý nghĩa của sự sống thường rất rộng rãi
và khác nhau trên từng cá nhân. Không phải ai cũng có quan niệm rằng cuộc sống phức
tạp của mình sẽ lành mạnh, bình thường nếu mọi suy nghĩ và nhận định của mình luôn
đạt được các tiêu chuẩn lý luận mà nhiều người khác cho là tích cực và hợp lý. Thực tế
vẫn có những người cho rằng cuộc sống của họ chỉ được trọn vẹn và có ý nghĩa nếu niềm
tin và nếp suy nghĩ cố hữu của họ, dù có thể không giống ai, vẫn luôn được giữ vững để
có tính đặc biệt và độc đáo.
---------------------------------239

240

Câu hỏi:
1- Anh/chị nghĩ sao khi Beck nói nhà trị liệu phải hiểu rõ mối liên hệ gắn bó giữa ba
23-

456-

yếu tố nhận thức, cảm xúc và hành động?
Những cá nhân có thói quen suy nghĩ “tái qui kết” thường hành động thế nào trong
cuộc sống thường nhật của họ?
Quan niệm về các triệu chứng rối loạn tâm lý tâm thần của trường phái nhận thức
có những thiếu sót gì? Còn những trường hợp triệu chứng rối loạn tâm lý tâm thần
nào không thể nói là có nguyên nhân từ yếu tố nhận thức?
Theo anh/chị thì loại thân chủ nào là thích hợp cũng như không thích hợp cho liệu
pháp nhận thức của Beck?
Liệu pháp hành vi và liệu pháp nhận thức có những điểm nào khác nhau?
Phương pháp và kỹ thuật trị liệu theo lối hướng dẫn và giáo dục của liệu pháp
nhận thức của Beck và liệu pháp cá nhân của Adler có những điểm nào khác
nhau?

241

CHƯƠNG 13

TRƯỜNG PHÁI NHẬN THỨC-HÀNH VI
(COGNITIVE-BEHAVIORAL THERAPY) (CBT)

1. Khái quát
Như đã có nói qua trong chương liệu pháp nhận thức, trường phái nhận thức-hành vi
(CBT) là một hình thức chữa trị mang tính chất phối hợp và pha trộn giữa các liệu pháp
nhận thức (cognitive therapy) (CT), liệu pháp hành vi cổ điên (behavioral therapy) (BT)
và liệu pháp duy lý cảm xúc hành vi (Rational Emotive Behavior Therapy) (REBT) của
nhà tâm lý Albert Ellis.
Nhưng dù cho có sự phối hợp, các liệu pháp này vẫn luôn có sự phân biệt rõ ràng về
mặt lý thuyết. Từ nguyên thủy, liệu pháp nhận thức và liệu pháp duy lý cảm xúc hành vi,
ngoài một vài khác biệt về kỹ thuật tiếp cận, chỉ tập trung vào việc sửa đổi phần tư duy,
nhận thức của cá nhân. Nói rõ hơn, phương thức và kỹ thuật của hai liệu pháp này là làm
sao tái cấu trúc những nếp suy nghĩ nào đã gây ra các hành vi, ứng xử và cảm xúc sai trái,
bất thường và bệnh lý cho cá nhân. Ngược lại, liệu pháp hành vi lại chỉ tập trung vào việc
sửa đổi hành vi chứ không quan tâm đến việc sửa đổi tư duy, nhận thức. Phương pháp và
kỹ thuật sửa đổi của liệu pháp hành vi đặt căn bản trên việc sử dụng các lý thuyết về học
tập (learning theory) của Bandura, lý thuyết điều kiện hóa thao tác (operant
conditioning) của Skinner, và lý thuyết điều kiện hoá cổ điên (classical conditioning) của
Pavlov.
Nói rõ hơn, CBT là một tập hợp và pha trộn của các phương thức và kỹ thuật trị liệu
đã có sẵn trong các liệu pháp nhận thức, liệu pháp hành vi, và liệu pháp cảm xúc duy lý
hành vi. Trong đó, các phương thức và kỹ thuật trị liệu chủ yếu thường được áp dụng
gồm có: sửa đổi nếp suy nghĩ sai trái và bệnh hoạn của cá nhân, thay đổi lòng tin sai lạc,
huấn luyện các kỹ thuật tự điều hành (self-control techniques), kỹ thuật tiêm phòng
chống stress (stress inoculation training), kỹ thuật phản hồi sinh học (biofeedback
techniques), kỹ thuật giải cảm có hệ thống (systematic desensitization), kỹ thuật điều kiện
hóa thao tác (operant conditioning techniques), kỹ thuật kê đơn thuốc nghịch lý
(paradoxical prescribing), kỹ thuật làm theo người mẫu (modeling techniques), v, v…

242

Tuy rằng CBT có những phương cách và kỹ thuật tiếp cận đa dạng, nhưng tựu trung
tất cả những kiểu cách này đều có những thuộc tính chung nhất; chẳng hạn, trong các mối
quan hệ trị liệu luôn cần có sự cộng tác chặt chẽ giữa hai đối tượng, luôn tập trung vào nỗ
lực làm sao thay đổi được cả hai khía cạnh nhận thức và hành vi của thân chủ; nội dung
và tiến trình trị liệu luôn có tính chất chỉ dẫn, giáo dục và luôn chủ trương vai trò thực
hành của thân chủ là chủ yếu trong tiến trình trị liệu để mang lại thành quả cho mục tiêu
đề ra trong hợp đồng trị liệu; và sau hết là khung thời gian trị liệu của CBT thường ngắn
hạn so với các loại liệu pháp khác, trung bình là từ 15-20 phiên gặp.
2. Các phương thức và kỹ thuật trị liệu của CBT
Qua phần giới thiệu khái quát ở trên, dưới đây ta sẽ lần lượt trình bày từng phương
thức và kỹ thuật trị liệu căn bản đã được các chuyên gia CBT rút ra từ ba liệu pháp CT,
REBT, và BT. Các chuyên viên sở trường về liệu pháp này cho rằng trị liệu theo CBT
đơn giản chỉ là biết áp dụng nhuần nhuyễn sự phối hợp của ba liệu pháp nêu trên.
2.1. Cách trị liệu của liệu pháp nhận thức (CT)
Tác giả của CT là Arron Beck quan niệm rằng mọi tình trạng rối loạn nhân cách
và các triệu chứng tâm lý tâm thần của cá nhân là hậu quả của một nếp tư duy có tính
cách qui kết và thành kiến, hay là một cấu trúc tư tưởng không đúng cách, bất thường,
chệch hướng, méo mó và máy móc. Để làm giảm thiểu hay chữa lành các triệu chứng rối
loạn tâm thần tâm lý này, trọng tâm công việc của nhà trị liệu là phải tìm cách chuyển đổi
lối suy nghĩ, nhận thức có sẵn của thân chủ (1).
Beck đề nghị một số kỹ thuật căn bản cho các chuyên viên CT sử dụng như sau
(2):
- Nhà trị liệu luôn phải có vai trò tích cực trong quan hệ tương tác với thân
chủ. Khuyến khích và hướng dẫn thân chủ nhận thức rõ những ý tưởng máy móc,
tự động, những cảm nhận sai trái, méo mó đã từng nảy sinh trong tâm trí của thân
chủ.
- Nên sử dụng lối đàm đạo với thân chủ theo kiêu cách đối thoại Socrates,
nghĩa là khéo léo đặt ra những câu hỏi để thân chủ lần lượt trả lời cho đến khi nào
bí lối, không còn cách sao để biện bạch thêm được. Làm như thế sẽ dễ cảm hoá
thân chủ hơn là đối chất thẳng thừng gây ra sự chống đối của thân chủ. Beck cho
rằng cách đối thoại này sẽ giúp thân chủ rốt cuộc nhận dạng được những khiá cạnh
sai trái, tiêu cực trong tư tưởng, lòng tin, nhận thức của họ.
243

- Sử dụng lối đặt câu hỏi “giả sử, giá như, nếu như, giả thiết rằng…” (what
if…) để giúp thân chủ mở rộng tầm suy nghĩ, nghĩa là giúp thân chủ biết sử dụng
lối suy nghĩ đa chiều và bao quát để luôn thấy được nhiều khía cạnh khác nhau khi
đứng trước một vấn đề gì. Beck gọi kỹ thuật này là tái phục hồi
(decatastrophizing).
- Nhà trị liệu phải chỉ cho thân chủ thấy rõ lối suy nghĩ sai trái theo kiểu
“qui kết” của thân chủ; nói cách khác là phải giải thích và hướng dẫn thân chủ
thực hiện những trắc nghiệm cụ thể để thấy rõ lối suy nghĩ theo những định kiến
có sẵn là không hợp lý, bất thường và bệnh hoạn.
- Nhà trị liệu cần chú ý vào những ý tưởng hay câu nói nào của thân chủ tỏ
ra không phù hợp, bất lợi hay có hại và giúp thân chủ sửa lại hay tái định nghĩa
(redefining) tính chất nội dung của ý tưởng hay câu nói đó.
- CT cũng áp dụng hình thức bài tập để giao phó cho thân chủ thực hành
những kỹ năng mới trong suy nghĩ và hành động. Nhà trị liệu động viên, khuyến
khích và kiểm tra, đánh giá mọi tiến bộ trong sự thực tập của thân chủ.
2.2. Cách trị liệu của liệu pháp duy lý cảm xúc hành vi (REBT)
Nhà tâm lý Albert Ellis là người sáng lập ra REBT. Xuất thân là một tông đồ của
phân tâm học, Ellis dần dần thay đổi quan điểm trị liệu của mình vì nhận thấy phân tâm
học không chú trọng nhiều vào yếu tố nhận thức mà ông cho rằng đó là phần rất quan
trọng trong việc giúp cho cá nhân thay đổi được hành vi và cảm xúc của họ. Bên cạnh đó,
ông nhận thấy quan niệm trị liệu của ông có một số điểm tương đồng với một đồng
nghiệp đương thời là tiến sĩ Arron Beck, tác giả của liệu pháp nhận thức CT vừa nói ở
trên. Cả hai ông đều tin rằng mục tiêu trị liệu cho những vấn đề tâm lý tâm thần là phải
tích cực can thiệp trực tiếp vào những phần tư tưởng nào mang mầm bệnh lý chứ không
lắng nghe thân chủ một cách thụ động và chỉ phân tích những vấn đề của thân chủ theo
kiểu gián tiếp như liệu pháp phân tâm học đã làm.
REBT là lý thuyết dựa trên sự giả định rằng nhận thức, cảm xúc và hành vi của
con người là ba yếu tố luôn có mối quan hệ hỗ tương và chặt chẽ, chúng tác động và ảnh
hưởng lên nhau trong mọi tình huống. Chẳng hạn, Ellis nói rằng một niềm tin phi lý
(irrational belief) rất dễ dẫn đến những cảm xúc và hành vi bất thường, sai trái hay bệnh
hoạn. Nhưng niềm tin hay phán đoán của cá nhân lại thường là sản phẩm của những định
kiến, cảm nhận đã có sẵn. Nói cách khác, những kiểu cách suy nghĩ, phán đoán của cá
244