Tải bản đầy đủ
Phương pháp và kỹ thuật

Phương pháp và kỹ thuật

Tải bản đầy đủ

nếp suy nghĩ của thân chủ bằng cách sử dụng các ý niệm được Beck giới thiệu như là các
phương thức trị liệu căn bản dưới đây:
- Tính thực nghiệm trong hợp tác (collaborative empiricism): Đây là điểm
luôn được nhấn mạnh trong trường phái nhận thức. Như đã nói trên, CT đòi hỏi
tiến trình chữa trị phải có sự hợp tác tích cực giữa hai đối tượng, nhà trị liệu và
thân chủ, để cùng nhau đạt được mục tiêu đề ra trong hợp đồng trị liệu. Cả hai
cùng nhau kiểm nghiệm, trao đổi quan điểm, kinh nghiệm, chia sẻ những vướng
mắc, khó khăn. Thân chủ phải thực hành các bài tập được giao phó sau khi đã
đồng ý với kế hoạch gợi ý của nhà trị liệu, và nhà trị liệu cần có những ý kiến
phản ảnh trung thực và kịp thời.
- Hướng dẫn khám phá (guided discovery): Nhà trị liệu phải khích lệ và
hướng dẫn thân chủ cách sử dụng những nguồn tin tức khách quan và đúng đắn,
những sự kiện đã được kiểm nghiệm để nghiệm xét và so sánh với những thói
quen sai trái trong nếp suy nghĩ và lòng tin của mình. Hướng dẫn khám phá có
nghĩa là nhà trị liệu dùng các kỹ thuật khích lệ và tán trợ, mang tính chỉ dẫn, chứ
không phải là bắt buộc, thúc ép hay nài nĩ thân chủ làm theo các hướng dẫn của
mình.
- Trắc nghiệm thực tế (reality testing): CT đòi hỏi mọi vấn đề liên quan
đến tiến trình trị liệu phải được đánh giá trên căn bản của những sự kiện thực tế
chứ không dựa vào các sự kiện thuộc về hư cấu hay tưởng tượng. Thân chủ được
khuyến khích nên luôn suy xét và đánh giá mọi vấn đề trong tinh thần khách quan
và vô tư, không nên để thành kiến của mình tác động vào. Đối với những vấn đề
riêng của thân chủ cũng phải được thân chủ thành khẩn nêu ra để kiểm nghiệm và
đánh giá. Thân chủ cần thấy rõ tính cách sai trái, chủ quan trong nhận thức của
mình trước khi sẵn lòng có sự thay đổi.
- Chuyển đổi nhận thức (cognitive shift): Mục tiêu cuối cùng của CT là
làm sao chuyển đổi nếp suy nghĩ cố hữu của thân chủ. Nếu trong các giai đoạn
trước, bao gồm phát hiện đầy đủ những sai lệch trong nếp suy nghĩ và giúp thân
chủ thấy rõ đó là nguyên nhân của những vấn đề hiện tại, đồng thời hướng dẫn và
khuyến khích được ý muốn và ao ước thay đổi của thân chủ, thì đây là giai đoạn
mà nhà trị liệu cần giúp thân chủ chuyển đổi nhận thức. Chuyển đổi nhận thức
cũng có nghĩa là phải đi song đôi và đồng thời với sự chuyển đổi tình cảm và hành
vi, và mọi thay đổi như thế phải được cả hai bên cùng thừa nhận.
234

6.3. Những kỹ thuật căn bản
CT đòi hỏi nhà trị liệu phải có nhiều kiến thức và kinh nghiệm đặc biệt trong các
phương pháp giáo dục và huấn luyện. Nhà trị liệu phải tìm hiểu và nhận diện những ý
nghĩ máy móc và tiêu cực, hiểu rõ mối liên hệ giữa nhận thức, tình cảm, và hành động,
giúp thân chủ biết suy xét và thấy được những vấn đề sai lệch đó, giải thích và khuyến
khích thân chủ học hỏi các kiểu cách nhận thức mới dựa trên tinh thần tích cực và phù
hợp hơn với thực tại cuộc sống.
Beck khuyến khích nhà trị liệu đối thoại và đàm đạo với thân chủ theo kiểu cách
mà ông đặt tên là đối thoại Socrates (Socratic dialogue) (Socrates là nhà hiền triết người
Hy Lạp vào khoảng thế kỷ thứ Tư trước Công Nguyên. Để giúp đối phương thấy được sự
sai trái và hạn chế trong nhận thức của bản thân, thay vì bác bỏ hay chỉ trích thẳng vấn đề
(vì như thế dễ làm cho đối tượng phật ý) ông sử dụng sự khôn khéo trong lý luận của
mình để đặt ra những câu hỏi liên tục cho đến lúc đối tượng rốt cuộc bí thế, không còn
cách trả lời). Áp dụng trong CT, đàm đạo kiểu Socrates sẽ giúp thân chủ nhận dạng được
những khía cạnh sai lệch, tiêu cực trong tư tưởng, lòng tin, và những qui kết, phỏng đoán
của họ. (Lưu ý, đặt câu hỏi cho đến khi thân chủ thấy rõ vấn đề không đồng nghĩa với
hình thức chất vấn, tra khảo, dồn thân chủ vào thế bí…)
Beck cũng đề nghị một số kỹ thuật sau đây để giúp chuyển đổi nhận thức của thân
chủ:
- Tái phục hồi (decatastrophizing): Beck cho rằng cách đặt câu hỏi “what
if” (giá như, nếu như, giả thiết rằng…) là một cách giúp thân chủ mở rộng tầm suy
nghĩ của họ. Ví dụ, một thân chủ có nếp suy nghĩ là cuộc đời mình luôn gặp phải
những người xấu, mọi người luôn tìm cách lường gạt mình, cho nên thân chủ luôn
có ý tưởng chán ghét người đời. Nếu nhà trị liệu đặt câu hỏi “nếu như ngày mai cô
gặp một người thật sự có lòng tốt thì cô sẽ cảm thấy ra sao và sẽ đối xử với họ như
thế nào?”. Câu hỏi này sẽ giúp thân chủ có dịp xem lại tính cách tiêu cực, có hại
và thiếu khách quan, thiếu cân bằng trong suy nghĩ của mình.
- Tái qui kết (reattribution): CT cho rằng những bệnh nhân trầm cảm và lo
âu thường có lối suy nghĩ “qui kết”, nghĩa là luôn có cảm tưởng chuyện gì xảy ra
chung quanh cũng là do sự tác động nào đó của bản thân mình, mình là nguyên
nhân của mọi biến cố. Nhà trị liệu CT phải đả phá ý tưởng bất lợi này bằng cách
giải thích và hướng dẫn thân chủ làm những trắc nghiệm cụ thể với mọi sự kiện và
tình hình để sửa đổi lối suy nghĩ qui kết của thân chủ.
235

- Tái định nghĩa (redefining): Mỗi ý tưởng hay câu nói nào không phù hợp,
có tính cách bất lợi cho thân chủ cũng cần được nhà trị liệu giúp tái định nghĩa lại
cho cụ thể và có ích hơn cho thân chủ. Ví dụ, thân chủ nói: “tôi thấy chẳng ai thèm
ngó ngàng gì đến tôi cả”, có thể được nhà trị liệu thay đổi bằng cách nói: “ chắc cô
muốn nói rằng cô đang mong muốn những người đang có quan hệ với cô cần phải
quan tâm đến cô nhiều hơn phải không?”.
Mặc dù CT là loại liệu pháp tập trung phần lớn vào các kỹ thuật sử dụng trong đối
thoại (verbal techniques), nhưng nhiều nhà trị liệu CT cũng quan tâm đến việc áp dụng
một số kỹ thuật của hành vi trị liệu để hỗ trợ cho tiến trình thay đổi nhận thức. Đây là
những kỹ thuật được liệu pháp nhận thức/hành vi (Cognitive-Behavioral Therapy) áp
dụng và sẽ được trình bày trong chương kế tiếp.
6.4. Các giai đoạn trị liệu
CT là phương thức trị liệu có tổ chức và được sắp xếp với khung thời gian ngắn
hạn nên những công việc và mục tiêu của nó cũng được nêu rõ ngay từ đầu. Với khoảng
thời gian có hạn định, tiến trình trị liệu của CT có thể chia ra làm ba giai đoạn:
- Giai đoạn đầu: Đây là thời gian, có thể kéo dài từ 5 đến 7 phiên gặp, để
phát triển mối quan hệ trị liệu giữa hai đối tượng. CT là loại liệu pháp có tính chất
trực tiếp, tích cực, tập trung vào những vấn đề trong hiện tại có liên quan với nhận
thức, lòng tin sai lạc của thân chủ. Do đó, CT không chú tâm vào cách thức trị liệu
theo lối thám hiểm, khám phá để hiểu thấu về quá khứ của thân chủ. Nhưng nhà trị
liệu CT cần bắt đầu mối quan hệ trị liệu bằng cách giới thiệu rõ ràng và đầy đủ
với thân chủ về bản thân và công việc làm của mình cung những phương thức và
các yêu cầu, điều kiện trong trị liệu. Tất nhiên cũng không quên thăm hỏi thân chủ
về sức khỏe, cảm tưởng ban đầu cũng như những ý kiến và trông đợi gì về những
vấn đề của họ. Công việc chính trong phiên gặp đầu tiên này là thu thập đầy đủ tin
tức, bao gồm những chi tiết về tiểu sử cá nhân có liên quan đến những vấn đề hiện
tại để có sự chẩn đoán thích hợp, đồng thời thăm dò và nhận xét thái độ và động
cơ của thân chủ trong mối quan hệ trị liệu.
Đặc biệt, ngay từ buổi đầu nhà trị liệu cần tìm hiêu rõ ràng tình trạng cảm
xúc và khí sắc của thân chủ, nếu có sự khẩn cấp, nguy ngập thì nhà trị liệu phải ưu
tiên nhanh chóng can thiệp ngay. Chẳng hạn, ý định tự vận của thân chủ phải được
hoá giải trước và các triệu chứng trầm cảm theo đó sẽ được tuần tự giải quyết sau.

236

Ngay trong phiên gặp đầu tiên, nhà trị liệu CT phải trao đổi với thân chủ
những điều sau đây: -quan điểm của CT về tâm bệnh, -mối tương quan giữa nhận
thức và hành vi, -giới thiệu phương thức và kỹ thuật trị liệu của CT, -thăm hỏi và
giải đáp mọi thắc mắc của thân chủ, - khuyến khích sự hợp tác của thân chủ. Như
đã nói trên, mọi vấn đề của thân chủ cần phải được nhà trị liệu làm sáng tỏ bằng
những câu hỏi theo kiểu Socrates và đặt ra những giả thiết để cùng thảo luận,
đồng thời khích lệ và hướng dẫn thân chủ các cách thức giải quyết vấn đề thực tế
và hữu lý.
Các bài tập yêu cầu thân chủ thực hiện gồm có việc theo dõi và ghi lại
những ý tưởng và tình cảm đột biến, máy móc, xảy ra hằng ngày, cùng với những
phản ứng của thân chủ. Những bài tập tiếp theo bao gồm việc khuyến khích thân
chủ thực hiện một chương trình hành động để chống lại tính tiêu cực cố hữu trong
nếp suy nghĩ và lòng tin sai lạc của họ. Chẳng hạn, thân chủ bắt đầu thay đổi giờ
giấc ăn ngủ trong ngày để gia tăng năng lực trong sinh hoạt, thay đổi cách ứng xử
khó chịu, bẳn gắt với các thành viên trong gia đình để tạo không khí vui vẻ, tích
cực hơn trong cuộc sống, đặt cho mình một chương trình thể dục và quan hệ, tiếp
xúc với bên ngoài để nâng cao tính năng động trong cuộc sống…
- Giai đoạn giữa: Khi thân chủ đã nhận thấy được tầm quan trọng của tính
tương quan nhân quả giữa những vấn đề trong hiện tại của bản thân với nếp suy
nghĩ và lòng tin đã được cho thấy là sai lạc của mình, và chấp nhận thực hiện
những bài tập thực hành được yêu cầu, thì đây chính là lúc tiến trình trị liệu đang
đi vào giai đoạn tiến triển theo chiều hướng tốt đẹp. Tuy nhiên, mọi công việc nên
được tiếp tục như từ đầu, nghĩa là nhà trị liệu vẫn không quên tiếp tục thăm dò
những vấn đề phức tạp hơn liên quan đến những khía cạnh thuộc về tư duy, đôi
khi không nằm trong phần ý thức nhận biết của thân chủ, đồng thời cũng tiếp tục
theo dõi tiến triển các triệu chứng bệnh của thân chủ. Nhà trị liệu tiếp tục kiểm tra
cụ thể các bài thực tập được giao phó cho thân chủ. Trong giai đoạn này nhà trị
liệu cần chuyển đổi từ vai trò chỉ dẫn, giáo dục sang vai trò cố vấn, và thân chủ
được khuyến khích phải tích cực hơn trong vai trò chuyển đổi nhận thức của mình.
- Giai đoạn kết thúc: Các cuộc gặp có thể thưa dần khi tình trạng tiến triển
của thân chủ có chiều hướng lạc quan. Đây là giai đoạn mà thân chủ đã phát triển
được những đặc tính tự chủ trên nhiều lãnh vực thuộc về nhận thức, cảm xúc và
hành vi. Ngay từ đầu, thân chủ đã được thông báo về khung thời gian điều trị theo
liệu pháp nhận thức, và mức thời gian dài hay ngắn đều hoàn toàn lệ thuộc vào
mọi nỗ lực của thân chủ. Do đó, khi mục tiêu điều trị đã được sự đồng ý của hai
237

bên, nhà trị liệu có thể sắp xếp một hay hai phiên gặp cuối cùng để tóm lượt và
thảo luận những gì đã xảy ra trong quá trình trị liệu, những nét tích cực và tiêu
cực, những điều mà thân chủ cần tiếp tục thực hành để nâng cao chức năng nhận
thức và sinh hoạt thường nhật, và đặc biệt không nên quên việc thảo luận với thân
chủ những trường hợp tái bệnh có thể xảy ra, cùng với những thông tin về các nơi
liên hệ khi thân chủ thấy cần có sự giúp đỡ. Nói tóm lại, nhà trị liệu cần phải thực
tế và chân thành thảo luận mọi vấn đề, kể cả những vấn đề liên quan đến tính cách
tương đối của công cuộc trị liệu vừa qua, để thân chủ hiểu rõ và tự tiếp tục phấn
đấu sau khi hợp đồng trị liệu được chấm dứt.
7. Phê bình và đánh giá liệu pháp nhận thức
CT là loại liệu pháp ngắn hạn, tập trung vào việc giải quyết những vấn đề cụ thể trong
hiện tại và rất thích hợp cho những ca trị liệu thuộc về dạng trầm cảm (depression), lo âu
(anxiety), rối loạn khí sắc lưỡng cực (bipolar disorders), các dạng rối loạn nhân cách và
cá tánh (personality disorders), những ca nghiện ngập (addiction), và một số các trường
hợp khó khăn, rắc rối về nhận thức, tình cảm, và ứng xử. Cũng như liệu pháp hành vi, CT
là loại liệu pháp có thể dùng các hình thức trắc nghiệm tại chỗ để kiểm tra từng bước
thành quả trong khi đang tiến hành các bước trị liệu. CT cũng thích hợp cho những ca
bệnh mà thân chủ không chấp nhận hoặc không thể dùng dược lý trị liệu.
CT rất thích hợp cho những thân chủ có trình độ học vấn, kiến thức tổng quát về lãnh
vực sinh hoạt tâm lý của con người, có ước muốn thay đổi phương hướng sống của mình
theo chiều hướng phù hợp với thực tại, những thân chủ sẵn sàng chấp nhận đối diện với
những sai lầm trong nhận thức, tình cảm và hành động, và quyết tâm thực hành những bài
tập được giao phó trong hợp đồng trị liệu. CT cũng rất hiệu nghiệm để trị liệu những
trường hợp khẩn cấp liên quan đến cá nhân hay gia đình, như ý định tự tử, đổ vỡ mối
quan hệ, những khó khăn tranh chấp về công việc,…
Dù cho sự hình thành của CT có những yếu tố vay mượn từ các ý niệm lý thuyết của
khoa tâm động và những kỹ thuật của hành vi liệu pháp, CT đã nổi lên như là một liệu
pháp thực tiễn và phổ thông hiện nay. Tại Hoa Kỳ hiện nay đang có khoảng 10% các
chuyên gia tâm lý sử dụng liệu pháp này trong công tác trị liệu của họ (10).
CT bao hàm được một quang phổ rộng rãi của cấu trúc lý thuyết về nhân cách và
khoa tâm lý bệnh học, và áp dụng được một loạt các phương pháp và kỹ thuật trị liệu
thực tiễn. Những cuộc kiểm tra gần đây tại Hoa Kỳ đều cho thấy tính hiệu quả của CT,
đặc biệt là phương thức trị liệu của nó phù hợp với lý thuyết mô tả về các rối loạn trầm
238

cảm. Ngoài ra, nhiều chuyên gia tâm lý ủng hộ mạnh mẽ các nhận định của Beck về mối
liên hệ trực tiếp giữa cảm giác tuyệt vọng và ý định tự vận, và kiểu nhận thức luôn có
tính cách tiêu cực của những người trầm cảm về thế giới, về bản thân họ, và tương lai của
chính họ.
Tuy nhiên, CT cũng có những khuyết điểm của nó trên nhiều khía cạnh. Trước hết, ta
cần đặt câu hỏi là có phải tất cả các dấu hiệu và triệu chứng tâm lý tâm thần đều là do hậu
quả của nếp suy nghĩ hay lòng tin sai lạc của cá nhân hay không? Hay trong nhiều trường
hợp, những nhận định và niềm tin sai lạc đó chính là hậu quả trực tiếp của các triệu
chứng rối loạn tâm thần tâm lý? Theo nhận xét từ các ca bệnh thực tế, cả hai yếu tố đều
có sự liên hệ hỗ tương và nhân quả, nghĩa là cả hai đều có thể vừa là nguyên nhân vừa là
hậu quả của nhau.
Ngoài ra, khi thay đổi nhận thức hay lòng tin sai lạc của cá nhân liệu rằng có thể thay
đổi hẳn tình trạng bệnh của họ hay không? Nhiều cuộc kiểm tra cho thấy các rối loạn tâm
thần tâm lý là những hiện tượng vô cùng phức tạp, khó truy tìm được nguyên nhân và có
tính mãn đời trong nhiều trường hợp; do đó, các biện pháp thay đổi nếp suy nghĩ cho cá
nhân theo CT có thể chỉ là bước đầu, có tính cách tương đối, hạn chế, nhất thời, và rõ
ràng không có thể bao quát được mọi vấn đề liên hệ đến lãnh vực tâm thần tâm lý của cá
nhân.
CT cũng bị chỉ trích vì chỉ quan tâm đến một lãnh vực sinh hoạt của con người mà bỏ
qua những lãnh vực khác cũng không kém phần quan trọng. Cuộc sống của một người
đâu chỉ có một mặt nhận thức, mà còn bao gồm nhiều mặt tâm lý khác liên quan đến các
nhu cầu bản năng thôi thúc và đòi hỏi của cơ thể, các mặt tình cảm, ham muốn, ao ước,
tưởng tượng, ý chí, động cơ và dự định...Như thế, chỉ một mặt nhận thức không thôi thì
chưa đủ để cá nhân chuyển đổi nếp suy nghĩ hay lòng tin của mình nếu không có những
mặt khác kết hợp để tạo đà thay đổi cho cá nhân.
Thêm một điểm đặc biệt khác, quan điểm về ý nghĩa của sự sống thường rất rộng rãi
và khác nhau trên từng cá nhân. Không phải ai cũng có quan niệm rằng cuộc sống phức
tạp của mình sẽ lành mạnh, bình thường nếu mọi suy nghĩ và nhận định của mình luôn
đạt được các tiêu chuẩn lý luận mà nhiều người khác cho là tích cực và hợp lý. Thực tế
vẫn có những người cho rằng cuộc sống của họ chỉ được trọn vẹn và có ý nghĩa nếu niềm
tin và nếp suy nghĩ cố hữu của họ, dù có thể không giống ai, vẫn luôn được giữ vững để
có tính đặc biệt và độc đáo.
---------------------------------239