Tải bản đầy đủ
Phê bình và đánh giá liệu pháp hành vi:

Phê bình và đánh giá liệu pháp hành vi:

Tải bản đầy đủ

Hành vi trị liệu cũng có sự thiếu sót khi không có sự quan tâm đúng mức về nguyên
nhân của vấn đề. Đối với liệu pháp hành vi chỉ có vấn đề “bây giờ và tại đây” mới là
quan trọng, trong khi đó cuộc sống của một cá nhân rõ ràng là một chuỗi dây đan kết và
dang trải từ quá khứ đến hiện tại. Mỗi cá nhân đều có những biến số đặc biệt bao gồm
tính bẩm sinh và sự kế thừa của thể chất và tinh thần từ lúc sinh ra, cộng với những trải
nghiệm riêng tư trong suốt quá trình sống…tất cả đều là những yếu tố có liên hệ xa gần
với hành vi hiện tại của họ. Điều này cho thấy liệu pháp hành vi thường không có hiệu
nghiệm trị liệu đối với các bệnh tâm thần phân liệt, rối loạn khí sắc…là những bệnh mà
nguyên nhân phát khởi của chúng thường rất phức tạp, có thể mang gốc rễ từ bẩm sinh
hay từ những chấn thương tinh thần trong quá khứ.
Liệu pháp hành vi cũng có khuyết điểm là không đặt tầm quan trọng chính yếu vào
tính chất của mối quan hệ trị liệu giữa thân chủ và nhà trị liệu. Đây cũng là một sự thiếu
sót vì nhiều nghiên cứu, và kiểm tra cho thấy kết quả của các hợp đồng tâm lý trị liệu hầu
như chỉ có thể thành tựu nếu đã được xây dựng trên cơ sở tốt đẹp và trong sáng của mối
quan hệ trị liệu.
Liệu pháp hành vi về sau đã được một số chuyên gia kết hợp với liệu pháp nhận thức
để hình thành liệu pháp nhận thức hành vi, gọi tắc là CBT (cognitive behavioral
therapy). Sự ra đời của liệu pháp nhận thức hành vi đã có nhiều đóng góp to lớn vào lãnh
vực tâm lý trị liệu về sau này. Hiện nay tại Hoa Kỳ có khoảng 10% các chuyên gia áp
dụng liệu pháp nhận thức hành vi trị liệu trong công việc chữa trị (10). Liệu pháp này
càng ngày càng trở nên phổ biến vì trong trị liệu nó luôn chú trọng đến sự biến chuyển
đồng thời của cả ba yếu tố nhận thức, tình cảm và hành vi của thân chủ. Tuy vậy, phạm vi
áp dụng của liệu pháp hành vi cũng không phải vì thế mà bị thu hẹp, nó vẫn còn được áp
dụng phổ biến và có hiệu quả đối với các ca trị liệu cho trẻ em ở lứa tuổi chưa có đầy đủ
nhận thức, cũng như đối với việc huấn luyện và thuần hóa súc vật.
------------------------------------------

224

Câu hỏi:
1- Theo anh/chị giữa ba nền tảng lý thuyết của liệu pháp hành vi thì nền tảng nào có
23-

4-

5-

vẻ hợp lý nhất?
Quan điểm hành vi cho rằng “hành vi” của một cá nhân chính là “nhân cách” của
cá nhân đó. Anh/chị có ý kiến gì về quan điểm đó?
Phương pháp và kỹ thuật trị liệu của “liệu pháp cá nhân” của Adler và “liệu pháp
hành vi” nói chung đều có tính cách giáo dục, nhưng đặc biệt có những điểm khác
nhau ra sao?
Liệu pháp hành vi quan niệm rằng cá nhân bị bệnh tâm lý tâm thần là do đã có quá
trình học hỏi và thủ đắc những điều sai trái, bất bình thường và bệnh hoạn.
Anh/chị nhận định ra sao về quan niện này?
Theo anh/chị thì những thành phần thân chủ nào sẽ thích hợp và gặt hái được lợi
ích với cách tiếp cận của liệu pháp hành vi?

225

CHƯƠNG 12

TRƯỜNG PHÁI NHẬN THỨC
(COGNITIVE THERAPY) (CT)
1. Khái quát:
Trường phái nhận thức cho rằng tư tưởng con người luôn là yếu tố chủ đạo, và hành
vi bên ngoài chỉ là sản phẩm, là kết quả của những gì cá nhân từng suy nghĩ trong tư
tưởng. Nói cách khác, muốn hiểu được hành vi của một người thì phải hiểu được nội
dung, tính chất và tiến trình tư tưởng của người ấy. Trường phái nhận thức tin rằng những
dấu hiệu hay triệu chứng bất thường trong hành vi của một cá nhân đều có nguyên nhân
xuất phát từ những ý tưởng và niềm tin sai lạc hay bệnh hoạn. Quan điểm nhận thức rất
tâm đắc với ý niệm mà khoa xã hội học thường nói đến là sự qui kết (attribution). Từ ngữ
“qui kết” có nghĩa là một lòng tin có tính cách định kiến của những người luôn cho rằng
mọi việc xảy ra trong cuộc sống đều phải có lý do của nó dù cho họ không thể chứng
minh được điều gì cụ thể, và họ cũng không tin rằng trong thực tế vẫn thường có những
sự việc xảy ra hoàn toàn ngẫu nhiên và khách quan.
Theo quan điểm nhận thức, chính cái thói quen nhìn thấy mọi sự việc đều xảy ra theo
lối qui kết như thế sẽ tạo ra những tác động thiếu khách quan, thiển cận, lệch lạc và tai
hại cho bản thân người thân chủ. Do đó, phương pháp trị liệu của trường phái nhận thức
là thực hiện một tiến trình trị liệu trong đó có những trắc nghiệm cụ thể và thực tế để tiến
đến giải quyết một cách tích cực những vấn đề liên quan đến các góc cạnh nhận thức của
thân chủ.
Liệu pháp nhận thức (CT) được xây dựng trên ba nguồn lý thuyết chính: khoa tâm lý
hiện tượng, khoa phân tích cấu trúc tâm lý, và khoa tâm lý nhận thức.
Tâm lý hiện tượng học là khoa nghiên cứu về sự tác động và ảnh hưởng của phần tâm
lý cá nhân đứng trước những hiện tượng khách quan đang diễn ra trước mắt. Ý niệm này
đã khởi phát từ thời triết học khắc kỷ cổ đại Hy Lạp và đến thế kỷ 18 đã được nhà triết
học Imanuel Kant nhắc lại và diễn tả nó trong cụm từ: kinh nghiệm chủ quan có ý
thức, với ý nghĩa rằng cái thế giới tự nhiên đang diễn ra bên ngoài là cái thế giới của hiện
tượng (phenomena), nhưng cái thế giới mà cá nhân ta đang cảm nhận được từ các giác
quan của ta mang lại, là cái thế giới của sự định danh (noumena) (1). Như vậy theo Kant
226

thì thế giới định danh chỉ là cái thế giới xuyên qua sự nhận thức của cá nhân chứ chưa
hẳn đã là cái thế giới thật (khách quan) bên ngoài. Ý niệm này cũng vẫn được nhiều
chuyên gia tâm lý trong thời hiện đại thừa nhận.
Nguồn thứ hai rút ra từ khoa phân tích cấu trúc tâm lý của Sigmund Freud. Trong
phân tâm học, Freud nói rằng sự nhận thức là thuộc về chức năng của tầng ý thức trong
sinh hoạt tinh thần, và nó tuân theo một khuôn mẫu sinh hoạt gọi là tiến trình tư tưởng
nhị đẳng (secondary process thinking), nghĩa là nó biểu hiện một tầm hoạt động và phát
triển các khả năng nhận thức của trí tuệ.
Nguồn thứ ba là lý thuyết về tâm lý nhận thức được giới thiệu bởi các chuyên gia
George Kelly (1955), William Mischel (1973) và Richard Lazarus (1984) (2, 3, 4).
Tựu trung, lý thuyết này nhấn mạnh đến tầm quan trọng và tính tiên khởi của yếu tố tri
giác (nhận thức), nghĩa là yếu tố tri giác luôn có trước, dẫn đầu cho mỗi sự thay đổi có
thể xảy ra của các yếu tố cảm xúc và hành động. Các tác giả này còn cho rằng lòng tin
của cá nhân, hay còn gọi là tính tự định dạng (đã đề cập ở chương 11), luôn có vai trò tác
động to lớn đối với vấn đề thay đổi hành vi.
Tác giả của liệu pháp nhận thức (CT) là tiến sĩ Aaron Beck, nguyên thủy ông là một
chuyên gia của liệu pháp phân tâm học. Vào đầu thập niên 1960, qua nhiều thí nghiệm và
quan sát trực tiếp về hành vi của một số bệnh nhân thuộc dạng lo âu và trầm cảm, ông
nhận thấy phần lớn các bệnh nhân này đều có những kiểu cách suy nghĩ và cảm nhận
luôn ở trạng thái tiêu cực có tính thành kiến và chủ quan, và lối suy nghĩ đó đã trở thành
khuôn mẫu cho mọi hành động trong cuộc sống. Beck đi đến kết luận rằng chính tư
tưởng của cá nhân mới là yếu tố then chốt làm cho các hành vi của họ trở thành bất
thường, sai lạc, và mắc phải những rối loạn tâm lý tâm thần, chứ không phải hay không
nhất thiết là do những tranh chấp, xung khắc của những nhu cầu bản năng vô thức
nghiêng nặng về tính dục như Freud đã nói trong phân tâm học.
2. Quan điểm vê nhân cách của CT:
Beck cho rằng cấu trúc nhân cách của cá nhân là kết quả của một quá trình tương tác
không ngừng giữa một bên là các yếu tố thể chất đã được đặt định từ bẩm sinh của cá
nhân và một bên là môi trường sống bên ngoài. Những đặc điểm trong tính chất của một
nhân cách phải được hiểu như là cái phản ảnh của những khuôn mẫu và kiểu cách mà cá
nhân thường phản ứng với những sự cố kích thích đến từ môi trường bên ngoài (5). Nhân
cách cá nhân chịu ảnh hưởng và tác động to lớn đối với cái gọi là nếp suy nghĩ (schemas)
của cá nhân, tức là cái cấu trúc tư tưởng của cá nhân, bao gồm nhận thức, ý tưởng, lòng
227

tin, những giả định, phỏng đoán, và định kiến từng được xây dựng và phát triển trong
suốt quá trình sống kể từ tuổi ấu thơ.
Nếp suy nghĩ của một cá nhân có thể có chiều hướng thích ứng hay lệch lạc, hoặc cả
hai chiều hướng đó cũng có thể cùng tồn tại và thường tranh chấp nhau trong cùng một cá
nhân. Nếp suy nghĩ thường ẩn chìm, nằm tiềm tàng trong những giai đoạn mà tâm trí cá
nhân không bị bận rộn, căng thẳng, nhưng nó sẽ trở nên rất năng động, khống chế tâm trí
cá nhân khi nó bị tác động và kích thích bởi những tình huống bên ngoài.
Chẳng hạn, một cá nhân có dạng rối loạn nhân cách chống đối xã hội (anti-social
personality) thông thường rất có thể có những điểm đặc biệt không bình thường trong nếp
suy nghĩ của anh ta như: không có thiện ác trên đời này, mọi người đều là xấu, ở đời
không có ai thương ai hết, mình không gây thiệt hại cho người ta thì rồi người ta cũng sẽ
gây thiệt hại cho mình, mình phải bảo vệ mình trước đã còn ai ra sao thì mặc họ … Với
lòng tin mất cân bằng, lệch lạc như vậy anh ta sẽ sẵn sàng làm những chuyện ác độc mà
không cần có sự đắn đo suy nghĩ để chống lại người khác, nhất là khi phải đối đầu với
những tình huống làm cho tâm trí anh ta bị căng thẳng, xáo trộn, hoảng hốt và kích động.
Beck chú ý đến hai dạng nhân cách thường có liên quan đến rối loạn trầm cảm và một
số rối loạn tâm lý khác: dạng lệ thuộc xã hội (social dependence) và dạng tự chủ
(autonomy). Qua nghiên cứu, Beck và đồng nghiệp phát hiện rằng những cá nhân có
nhân cách dạng lệ thuộc xã hội thường dễ mắc chứng trầm cảm nếu trong cuộc sống
chẳng may họ gặp phải những thất bại hay bị đứt đoạn, đổ vỡ về các mối quan hệ giữa
người với người. Trong khi đó, những cá nhân có dạng nhân cách tự chủ và độc lập lại
thường không bị buồn khổ hay trầm cảm nặng với những mối quan hệ bị đổ vỡ, nhưng cá
nhân này lại dễ bị rơi vào trạng thái buồn khổ, trầm cảm khi họ gặp phải những khó khăn
và thất bại hay khi không thể thực hiện được mục đích nào đó mà họ từng ao ước phải đạt
tới (6).
Tóm lại, Beck thừa nhận rằng nhân cách là một cấu trúc được xây dựng và hình thành
từ kết quả của những yếu tố thuộc về bẩm sinh của thể chất, quá trình phát triển của cá
nhân, và các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài. Nhưng ông đặc biệt nhấn mạnh vào
tầm quan trọng của những kinh nghiệm mà cá nhân đã thu nhận, học hỏi và luôn được
củng cố trong suốt quá trình sống. Những kinh nghiệm này làm nên nếp suy nghĩ của cá
nhân, tức là những kiểu cách mà cá nhân đã nhận thức và giải thích ý nghĩa về các biến
cố nổi bật đã xảy ra trong đời họ. Thực tế cho thấy do tính chất khác biệt của cấu trúc tư
tưởng mà mỗi cá nhân thường có một cách hiểu biết và giải thích khác nhau khi cùng
đứng trước một sự cố. Nói cách khác, nhân cách của cá nhân là cái phản ảnh của kiểu
228