Tải bản đầy đủ
Nền tảng lý thuyết của liệu pháp hành vi

Nền tảng lý thuyết của liệu pháp hành vi

Tải bản đầy đủ

Thực tế trong cuộc sống, nhiều hành vi (tốt/xấu, vui/buồn, thích thú/chán nản) của
chúng ta thường được hình thành, thủ đắc một cách vô thức xuyên qua ảnh hưởng của
nguyên tắc điều kiện hóa cổ điển. Ví dụ, để người mua sắm tăng thêm sự chú ý và ham
thích cái xách tay mới làm ra, nhà sản xuất thường sử dụng những tấm bảng quảng cáo
với hình ảnh một cô gái sang trọng và trẻ đẹp (ktVĐK) đang đeo cái xách tay (ktĐK),
như là một lối đánh cặp hai sự kiện (ktVĐK + ktĐK) và cho quảng cáo khắp nơi. Bảng
quảng cáo cứ đập vào mắt hằng ngày làm khách đi mua sắm tự nhiên có cảm giác như bị
lôi cuốn, tăng phần ham thích phải mua cái xách tay đó. Giờ đây khi nhìn thấy những cái
xách tay ấy (ktĐK) được bày bán trong các cửa tiệm, nghĩa là chỉ cái xách tay không thôi
cũng trở thành sự ham muốn tự nhiên (puĐK) cho khách.
3.2. Lý thuyết điều kiện hóa thao tác:
Skinner thì cho rằng sự thao tác (operant) là một hành động, một phản ứng tự
nhiên của cá nhân đối với những kích thích có điều kiện đến từ môi trường bên ngoài, và
chính sự thao tác làm nên mọi hành vi của con người. Nhưng sự thao tác phải đi theo với
những yếu tố củng cố (reinforcements) thì sự học hỏi một điều gì hay một hành vi nào đó
mới mau được thành tựu, hoàn hảo, và bền vững. Củng cố được định nghĩa là bất cứ
những yếu tố, sự kiện gì đưa đến từ môi trường bên ngoài có tính cách liên tiếp, lặp đi lặp
lại dù thuận hay nghịch với sự mong đợi của cá nhân. Những yếu tố, sự kiện nào kích
thích vào để làm gia tăng hành vi thì gọi là cái củng cố (reinforcer) và những yếu tố, sự
kiện nào được đưa vào để làm giảm hành vi thì gọi là cái trừng phạt (punisher).
Skinner cũng lưu ý là cái củng cố hay cái trừng phạt đều có thể là tích cực
(positive) hay tiêu cực (negative). Nhưng tích cực không có nghĩa là cái gì tốt hay lợi lộc,
và tiêu cực cũng không có nghĩa là điều gì xấu xa hay thiệt hại. Tích cực trong lý thuyết
của điều kiện hóa thao tác chỉ có nghĩa là vật kích thích được tiếp tục sử dụng, và tiêu
cực chỉ có nghĩa là vật kích thích được loại bỏ hay tháo gỡ.
Theo đó, có hai loại củng cố: củng cố tích cực (positive reinforcer), nghĩa là liên
tiếp áp dụng vật kích thích với mục đích là để gia tăng hành vi, và cũng cố tiêu cực
(negative reinforce), nghĩa là liên tục giảm thiểu hay tháo gỡ vật kích thích cũng với mục
đích là để gia tăng hành vi.
Tương tự như vậy, cũng có hai loại trừng phạt: trừng phạt tích cực (positive
punisher), nghĩa là liên tục áp dụng vật kích thích với mục đích là để giảm thiểu hay gỡ
bỏ hành vi, và trừng phạt tiêu cực (negative punisher), nghĩa là liên tục giảm thiểu hay
tháo gỡ vật kích thích cũng với mục đích là để giảm thiểu hay gỡ bỏ hành vi.
214

Ví dụ 1: Để huấn luyện cho con chó càng ngày càng biết vâng lời ngồi xuống mỗi
khi có lệnh của chủ (gia tăng hành vi), thì mỗi khi nó biết nghe lời người chủ sẽ tiếp tục
cho nó một miếng đồ ăn (áp dụng vật kích thích), hành động tiếp tục cho miếng đồ ăn
này để con chó gia tăng hành vi tuân lệnh được gọi là củng cố tích cực.
Ngược lại, để giúp đứa trẻ càng nhanh biết tự bước đi một mình (gia tăng hành vi),
người mẹ bắt đầu giảm dần cho đến khi có thể chấm dứt luôn hành động nắm tay dìu dắt
đứa trẻ lúc nó tập đi (tháo gỡ vật kích thích), hành động giảm dần sự hỗ trợ của người mẹ
được gọi là củng cố tiêu cực.
Ví dụ 2: Để con mèo ban đêm không còn tiếp tục cào vào cửa sau nhà (gỡ bỏ hành
vi) người chủ nhà gài một dòng điện vào cửa (áp dụng vật kích thích) để con mèo bắt đầu
thấy sợ và từ từ bỏ tật cào cửa. Hành động gài dòng điện của chủ nhà gọi là trừng phạt
tích cực.
Ngược lại, để đứa trẻ giảm bớt tật hay vòi vĩnh (gỡ bỏ hành vi) người mẹ được
nhà tâm lý khuyên nên bắt đầu có thái độ cứng rắn không thỏa mãn những gì đứa trẻ kêu
đòi (tháo gỡ vật kích thích). Hành động chấm dứt chiều theo những đòi hỏi của đứa trẻ
được gọi là trừng phạt tiêu cực.
Tập trình dưới đây sẽ tóm lượt lý thuyết của Skinner:
Hành vi gia tăng

Hành vi giảm thiểu

(Tích cực) áp dụng vật Củng cố tích cực
kích thích

Trừng phạt tích cực

(Tiêu cực) gỡ bỏ vật kích Củng cố tiêu cực
thích

Trừng phạt tiêu cực

Lý thuyết điều kiện hoá thao tác của Skinner còn đưa ra nguyên tắc gọi là học tập
phân biệt (discrimination learning), bằng cách rất đơn giản là sử dụng cái củng cố
(reinforcer) hay cái trừng phạt (punisher) để gia tăng hay giảm thiểu hành vi của đối
tượng, nghĩa là hành vi nào tốt hay cần thiết thì tiếp tục củng cố, và nếu xấu hay có hại
thì tiếp tục trừng phạt để loại bỏ; nói cách khác là giúp cho đối tượng thành lập được một
tập quán hành động tốt, gọi là có khả năng điều hành kích thích (stimulus control). Ví dụ,
215

hôm nào đứa trẻ làm xong bài tập ở nhà thì mẹ thưởng cho một lời khen, cái hôn, hay cái
bánh...(củng cố) để gia tăng tính tốt của trẻ; ngược lại, hôm nào trẻ không chịu làm xong
bài vở thì áp dụng các hình thức như cất phần bánh, không cho chơi trò chơi, không cho
xem TV… (trừng phạt) để giảm thiểu tính xấu.
3.3. Lý thuyết nhận thức xã hội
Lý thuyết nhận thức xã hội, còn có tên là lý thuyết học tập xã hội, giải thích rằng ý
thức trong học hỏi và khả năng phán xét, đánh giá tình huống là hai yếu tố quan trọng
quyết định cho hành vi của một người.
Bandura cho rằng hầu hết hành vi, tốt hay xấu, của cá nhân là do kết quả của một
tiến trình học hỏi qua các hình thức quan sát (vicarious learning), và bắt chước vai trò
kiểu mẫu (modeling). Con người có được kiến thức và biết cách ứng xử phần lớn là nhờ
vào khả năng quan sát và bắt chước từ thế giới bên ngoài. Trong một thí nghiệm,
Bandura quay phim một phụ nữ đánh đập tàn nhẫn con búp bê Bobo, sau đó đem chiếu
cho lũ trẻ xem. Về sau, khi đưa các em này vào trong một cái phòng có con Bobo, chúng
liền xúm nhau đánh đập con búp bê tàn nhẫn tương tự như chúng đã thấy ở hành động
của người phụ nữ. Như vậy hành vi của bọn trẻ rõ ràng là do quan sát và bắt chước chứ
không phải là do vấn đề thủ đắc được qua các hình thức mà chuyên gia Skinner gọi là
củng cố hay trừng phạt gì cả (5).
Bandura cho rằng đứa trẻ vừa sinh ra là bắt đầu biết quan sát và bắt chước người
lớn trong gia đình để học hỏi hầu hết mọi việc, từ cử chỉ, thái độ, ngôn ngữ, niềm tin,
quan niệm, việc làm, cách vui chơi, giải trí... Nếu sự quan sát và bắt chước không được
liên tục định hướng vào những gì có tính cách lành mạnh và bình thường thì theo đó, qua
quá trình bị tiêm nhiễm và học hỏi, hành vi của đứa tre sẽ có thê trở nên không bình
thường hay bệnh lý. Các nghiên cứu thống kê cho thấy đa số trẻ em đã từng chứng kiến
những hành động tàn ác, bạo lực của người lớn thì chúng cũng có khuynh hướng hành
động như vậy khi lớn lên. Những trẻ được chăm sóc, nuôi dưỡng bởi những người chậm
chạp, vụng về, thì dễ có nguy cơ là về sau khi lớn lên chúng cũng thường có lối ứng xử
kỳ quặc, không bình thường tương tự như vậy.
Tâm bệnh học cũng chứng thực một hiện tượng gọi là “folie à deux” (điên khùng
cả hai) để nói lên một số trường hợp của hai cá nhân sống chung với nhau, trong đó nếu
một người có hành vi biểu hiện những triệu chứng tâm thần thì người kia cũng rất dễ có
nguy cơ bị lây nhiễm những cách hành xử mang triệu chứng bệnh lý như vậy. Hiện tượng

216

này được phỏng đoán là do hậu quả của quan sát và bắt chước xuyên qua điều kiện sống
gần gũi và thân mật hằng ngày.
Tóm lại, ý niệm về học hỏi qua quan sát và qua vai trò kiểu mẫu của Bandura là
trọng tâm của lý thuyết nhận thức xã hội, và ý niệm này đã được hoan hô và áp dụng rộng
rãi trong các chương trình giáo dục cho trẻ em tại nhiều nước trên thế giới cho đến ngày
hôm nay. Nhiều cuộc kiểm tra cho thấy lý thuyết nhận thức xã hội của Bandura có
những hiệu quả thực tế trong nỗ lực chuẩn bị và xây dựng cho tuổi trẻ có một nhân cách,
cá tánh và hành vi lành mạnh và tốt đẹp về sau.
4. Phương pháp và kỹ thuật của hành vi trị liệu:
Đối với liệu pháp hành vi, thân chủ phải đóng vai trò tích cực trong suốt quá trình
chữa trị. Thân chủ phải đồng ý và xác định cho chính mình lòng mong muốn theo đuổi
đến cùng mục tiêu đã được hai bên đồng ý trong hợp đồng trị liệu. Chuyên viên hành vi
trị liệu phải là người giỏi về lâm sàng, tài khéo và nhạy cảm. Và cũng giống như chuyên
viên thuộc các trường phái khác, chuyên viên hành vi trị liệu phải là cá nhân có đủ những
đức tính cần thiết để tạo được mối quan hệ tốt đẹp với thân chủ, xuyên qua những hành vi
biểu hiện sự quan tâm, chân thành, tin cậy, khiêm tốn và đức hạnh. Khác với phong cách
của các nhà trị liệu theo các liệu pháp phân tâm và tâm động, nhà trị liệu của liệu pháp
hành vi cần phải có mối tương tác trực tiếp và tích cực, nồng nhiệt và cởi mở hơn với
thân chủ trong tiến trình trị liệu. Nói rõ hơn, hành vi trị liệu là một hình thức giáo dục
và tập luyện thân chủ qua các phương pháp cung cấp thông tin, trực tiếp hướng dẫn,
tạo vai trò kiểu mẫu, thực hành và thư nghiệm, quan sát, đánh giá, khích lệ, sưa đổi
hành vi trong suốt tiến trình trị liệu.
4.1. Nhận dạng và đánh giá:
Công việc đầu tiên là nhận diện và hiểu rõ những vấn đề hiện tại của thân chủ.
Nhà trị liệu cần tìm hiểu đầy đủ mọi thông tin liên hệ đến vấn đề, chẳng hạn như nguyên
nhân nào đã tạo ra vấn đề, mức độ và cường độ của nó…Dù không quá chú trọng vào quá
khứ, nhưng nhà trị liệu hành vi cũng cần hiểu rõ về những trải nghiệm quá khứ của thân
chủ, ít ra là ở mức độ cho biết điều gì là nguyên nhân trực tiếp của vấn đề. Nhà trị liệu
cũng cần biết thân chủ đã làm những gì để giải quyết vấn đề, đã nghĩ như thế nào và đã
được trị liệu lần nào chưa. Nhà trị liệu sử dụng cách đặt những câu hỏi ngắn gọn nhưng
phải có ý nghĩa và đi vào trọng tâm, theo lối hỏi “thế nào, tại sao, khi nào, ở đâu, cái gì”,
và dựa vào sự trả lời của thân chủ để đánh giá vấn đề, cùng những ý nghĩ, nhận thức, trí
xét đoán, tình cảm, ước mơ, khả năng tự tin và quyết định của thân chủ.

217

Nói tóm lại là nhà liệu pháp hành vi thu thập tin tức bằng cách trực tiếp thăm hỏi
và dựa vào lời khai báo, tường thuật của thân chủ, và không nên thu thập tin tức bằng
cách sử dụng các dụng cụ trắc nghiệm loại dùng để chẩn đoán tâm lý tâm thần, như
MMPI, các dụng cụ trắc nghiệm thần kinh tâm lý, và các dụng cụ đo lường loại phóng
chiếu như Rorschach, TAT, Bender Gestalt, v, v… Các loại dụng cụ này thường chỉ cho
biết mức độ của vấn đề (triệu chứng của bệnh), nhưng trọng tâm tìm hiểu của nhà liệu
pháp hành vi lại là muốn có những tin tức cần thiết về các chức năng trong hành vi hiện
tại của thân chủ, như khả năng cá nhân, tính tự định hình và tính tự hiệu ứng (tất cả đã
được giải thích ở phần trên), để phân tích và đánh giá vấn đề. Tuy nhiên, sau những giai
đoạn trị liệu thì có thể được sử dụng các loại dụng cụ trắc nghiệm thường dùng cho việc
đo lường sự tiến bộ của hành vi hay triệu chứng, như các bảng câu hỏi, bảng tự thuật BDI
của Beck,v, v,… để đánh giá hiệu quả của việc chữa trị.
4.2. Phương pháp và kỹ thuật:
Các phương pháp và kỹ thuật trong liệu pháp hành vi bao gồm rất nhiều hình thức
khác nhau, và một số cũng được áp dụng chung cho liệu pháp nhận thức hành vi
(cognitive-behavioral therapy) (xem thêm ở đoạn cuối chương). Thông thường các
chuyên gia hành vi có thể chọn lựa một số trong những phương pháp và kỹ thuật dưới
đây để áp dụng trong trị liệu tùy theo tính cách đặc thù của mỗi ca bệnh.
a. Kỹ thuật tự điều hành (self-control): Bao gồm những kỹ thuật huấn
luyện cho thân chủ đóng vai trò chủ động điều hành trong việc chữa trị, gồm có ky
thuật tự kiêm tra (self-monitoring hay là self-report), điều hành kích thích
(stimulus control), tự củng cố (self-reinforcement), và tự trừng phạt (selfpunishment).
- Ky thuật tự kiêm tra (self-report) là cách yêu cầu thân chủ phải tự ghi
nhận trên giấy đầy đủ tính chất và nội dung của mỗi vấn đề (hành vi, triệu
chứng…) bất cứ lúc nào nó xảy ra. Cách làm này có mục đích giúp thân chủ có ý
thức đầy đủ về những vấn đề đang xảy ra của chính mình.
- Ky thuật điều hành kích thích (stimulus control) là phương cách để sửa
đổi tính chất tương quan giữa kích thích và phản ứng (stimulus-response
relationship) của một hành vi hay để tạo ra một hành vi mới với mục đích là làm
gia tăng hay giảm thiểu vấn đề của thân chủ. Ví dụ, một thân chủ nghiện cờ bạc
được khuyên nhủ là không nên tiếp tục đi đến các sòng bài và tránh tiếp xúc với

218