Tải bản đầy đủ
Liệu pháp của trường phái tâm lý cá nhân

Liệu pháp của trường phái tâm lý cá nhân

Tải bản đầy đủ

- Hỗ trợ và khích lệ thân chủ có tinh thần biết quan tâm đến đời sống xã
hội bên ngoài, nhận thức được tính bình đẳng giữa người với người, và trở thành
người hữu ích cho xã hội.
Tiến trình trị liệu của trường phái tâm lý cá nhân có thể tạm chia ra làm 4 giai
đoạn:
- Thiết lập và duy trì tốt đẹp mối quan hệ.
- Phát hiện và phân tích các động cơ tâm lý của thân chủ, bao gồm lối sống,
những mục tiêu và ảnh hưởng của chúng đối với cuộc sống hiện tại của thân chủ.
- Giải thích và động viên để thân chủ nhận thức rõ.
- Tái định hướng cuộc sống của thân chủ.
4.1. Thiết lập mối quan hệ trị liệu
Cũng như một số các liệu pháp khác, liệu pháp tâm lý cá nhân xem sự
thành công của một ca trị liệu tùy thuộc phần lớn vào mối quan hệ giữa nhà trị liệu
và thân chủ. Adler cho rằng không có lý thuyết và kỹ thuật nào có thể gọi là quyết
định cho thành quả trị liệu, ngoại trừ mối quan hệ giữa hai đối tượng có những
biến số phù hợp cho công việc trị liệu. Đặc biệt, nhà trị liệu phải làm sao xây
dựng được lòng tin, niềm hy vọng và tình cảm trong lòng thân chủ trong suốt quá
trình tương tác. Muốn được vậy, nhà trị liệu phải là người thông minh, vững vàng
về cảm xúc, khách quan, không phê phán, và luôn có phong thái thân thiện. Nhà
trị liệu luôn tỏ ra ân cần và quan tâm đến thân chủ, nhưng không được để rơi vào
những trường hợp quá đáng, như các hình thức mơn trớn, nuông chiều kiểu trẻ
con, hay sự đối xử khiến thân chủ có cảm giác rằng mình là một nạn nhân của sự
xấu số. Để tạo cảm giác ngang hàng và thân thiện cho thân chủ, Adler đề nghị
trong khi trò chuyện nhà trị liệu nên đặt ghế ngồi đối diện trực tiếp với thân chủ
thay vì ngồi sau bàn giấy, như kiểu cách làm việc thông thường của quan chức.
Liệu pháp tâm lý cá nhân không coi trọng vấn đề chẩn đoán bệnh theo
phương thức y khoa, do đó không đặt vai trò nhà trị liệu trong vị trí của một bác sĩ
luôn phải được xem như là người có đầy đủ kiến thức và khả năng mầu nhiệm để
giải quyết mọi vấn đề, và không cho rằng đối tượng trị liệu là một con bệnh thụ
động. Adler quan niệm rằng mục đích của trị liệu tâm lý là phải khiến thân chủ
hành động, nghĩa là giúp thân chủ hiểu rằng họ phải có trách nhiệm tích cực trong
197

việc thay đổi những vấn đề của chính họ. Cái gì chưa biết thì phải học, cái gì đã
học một cách sai trái và tồi tệ thì phải được học lại để sửa đổi. Những cảm nhận,
định kiến không phù hợp phải được nhận thức, hiểu rõ và thay thế.
Trong quan hệ trị liệu phải có đầy đủ sự hợp tác của đôi bên, và cả hai đối
tượng đều phải đóng vai trò tích cực. Tất nhiên không ai bị ép buộc phải ngồi vào
ghế trị liệu, nhưng một khi chính thân chủ đã quyết định tìm đến trị liệu thì họ
phải được lưu ý là phải hợp tác với nhà trị liệu trong tư thái tích cực và hòa đồng.
Vì vậy liệu pháp cá nhân cũng đặc biệt chú ý đến việc nhà trị liệu cần phải nhận
biết và giải quyết thỏa đáng, nếu trong tiến trình trị liệu có xảy ra các hiện tượng,
mà phân tâm học của Freud gọi là chống đối (resistance) và chuyển tâm
(transference), để nhà trị liệu và thân chủ cùng giải tỏa các ngăn trở hay bế tắc
trong mối quan hệ trị liệu.
Những cuộc tiếp xúc ban đầu sẽ là những dấu ấn quan trọng đối với mối
quan hệ trị liệu. Đây là thời gian để nhà trị liệu thâu thập đầy đủ các thông tin cần
thiết, và cũng là thời gian để thân chủ cảm thấy có sự tin tưởng, hy vọng, và quyết
tâm đi đến mục tiêu trị liệu. Để thân chủ có cảm giác tự chủ và tích cực trong hợp
tác, đặc biệt là trong giai đoạn đầu, nhà trị liệu không nên cư xử có tính cách đối
đầu bằng những câu hỏi liên tục buộc thân chủ phải cảm thấy khó khăn, đắn đo khi
trả lời. Thay vào đó, nhà trị liệu nên thể hiện sự tôn trọng, kiên trì lắng nghe và
giúp thân chủ thấy được những ưu điểm, vốn quí, và khả năng của bản thân họ.
4.2. Phát hiện và phân tích các động cơ tâm lý
Để phát hiện và phân tích các động cơ tâm lý trong vấn đề của thân chủ,
nhà trị liệu cần làm hai việc, hiểu rõ lối sống của thân chủ và hiểu rõ lối sống đó
đã ảnh hưởng như thế nào lên các khía cạnh sinh hoạt hiện tại của thân chủ.
Trong lúc thâu thập tin tức, trước tiên nhà trị liệu nên để thân chủ tự nhiên
trình bày những vấn đề của mình và khoan vội dùng những câu hỏi để dẫn dắt câu
chuyện của thân chủ đi vào ý muốn của mình. Adler gọi kỹ thuật này là hình thức
phỏng vấn chủ quan, nghĩa là tạo điều kiện cho thân chủ có cơ hội tự nói hết
những vấn đề gì quan trọng về họ. Mục đích trước tiên của hành động này là để
thân chủ cảm thấy họ là người làm chủ, là chuyên gia của cuộc đời họ, và họ luôn
đóng vai trò chủ động trong trị liệu. Họ sẽ cảm thấy thích thú khi thấy người
chuyên gia đang quan tâm lắng nghe câu chuyện của mình. Mục đích thứ hai là để
nhà trị liệu có thể nhận ra được vấn đề gì có thể là quan trọng và chính yếu đối với
198

thân chủ. Cho đến khi câu chuyện của thân chủ chấm dứt, hoặc vì không còn biết
gì để nói thêm, nhà trị liệu lúc đó sẽ bắt đầu đặt những câu hỏi để thấu hiểu cặn kẽ
hơn về con người của thân chủ.
Kế tiếp là vai trò tích cực của nhà trị liệu trong việc phát hiện và phân tích
những vấn đề của thân chủ. Adler gọi giai đoạn này là hình thức phỏng vấn
khách quan. Cũng như nhiều trường phái khác, liệu pháp tâm lý cá nhân cần một
cuộc phỏng vấn sâu rộng để thâu thập các nguồn tin tức liên quan đến những vấn
đề của thân chủ qua các khía cạnh thuộc về đời sống, bao gồm tiểu sử cá nhân,
bệnh tình, chấn thương, cuộc sống và những lý do đưa đến quyết định tìm kiếm trị
liệu vào lúc này… Nhưng liệu pháp tâm lý cá nhân đặc biệt chú trọng vào việc tìm
hiểu lối sống của thân chủ qua nhiều giai đoạn, và phải bắt đầu từ thời son tre
trong khung cảnh gia đình, tức là xem phả hệ gia đình (family constellation) là cái
gốc, cái bối cảnh tâm lý xã hội đầu tiên có ảnh hưởng nhiều đến tâm tính và lối
sống về sau của thân chủ. Về gia đình, nhà trị liệu cần tìm hiểu những điểm sau:
- Bối cảnh gia đình trong tuổi trẻ của thân chủ. Cha mẹ làm gì? Điều
kiện kinh tế xã hội và hoàn cảnh sống của gia đình? Mối quan hệ giữa cha
mẹ và cách nuôi dạy con cái của họ? Theo thân chủ cha mẹ có vẻ thương
đứa con nào nhất?
- Có mấy anh chị em trong gia đình? Thân chủ là con thứ mấy? Anh
chị em có hòa thuận hay thường chống đối nhau? Trong mấy anh em ai là
người có tánh tình giống và thân thiết nhất và ai là người thường kình
chống với thân chủ?
- Thân chủ có những ký ức gì về tuổi trẻ? Cảm nghĩ gì về gia đình
nói chung, về cha mẹ mình, và về anh chị em? Những trải nghiệm và tình
cảm nào là nổi bật nhất trong ký ức?
Sau khi ghi nhận đầy đủ thông tin, nhà trị liệu và thân chủ cùng làm một số
tóm lược về những ký ức trong thời thơ ấu của thân chủ, bao gồm những vấn đề
chính để căn cứ vào đó như là những gợi ý, giả thuyết cho sự phân tích và thảo
luận tiếp theo. Qua kết quả cuộc phỏng vấn, những vấn đề chính cần tóm lược lại
với sự đồng ý của thân chủ bao gồm:
- Thực trạng của bối cảnh gia đình trong tuổi thơ của thân chủ: Ví
dụ, thân chủ là đứa con đầu không có mẹ, sống với dì ghẻ và hai đưá em
199

cùng cha khác mẹ. Trong tuổi trẻ thân chủ là người thường bị người lớn ức
hiếp, chửi mắng, v, v…
- Hồi ức về thời thơ ấu: Ví dụ, thân chủ nhớ mãi một lần, lúc cha đi
vắng, bị dì ghẻ đánh đập thậm tệ và bỏ đói suốt một ngày chỉ vì chuyện cãi
cọ không đâu vào đâu với đứa em…
- Những sai lệch căn bản: Ví dụ, thân chủ luôn có ý tưởng rằng lòng
trắc ẩn, thương xót là giả tạo, bản chất con người đều là xấu và ác độc…
- Điêm mạnh và vốn quí cá nhân: Ví dụ, thân chủ có quá trình tự lập
thân, phấn đấu và có học lực trung bình…
Để tiếp tục phân tích và giúp thân chủ nhận hiểu được cách sống sai lầm
của mình, trong những phiên trị liệu kế tiếp, nhà trị liệu cũng cần tiếp tục thăm dò
và thảo luận với thân chủ về các vấn đề liên quan đến những ý tưởng, giấc mơ,
những nỗi đau, tiếc nuối, sợ hãi, tóm lại là những vấn đề gì đã từng có tác động
lớn đến sinh hoạt thường nhật của thân chủ.
4.3. Giải thích và động viên thân chủ
Tiến trình trị liệu là một chuỗi liên tục, không ngắt quãng và cũng không có
nghĩa là mỗi giai đoạn chỉ có những công việc nhất định phải làm xong và không
thể có sự trở lại. Tất cả những gì đã phát hiện, phân tích, và thảo luận vẫn chưa có
thể là đã đủ để biến sự hiểu biết thành hành động cho thân chủ.
Liệu pháp tâm lý cá nhân đặt tầm quan trọng vào khả năng của nhà trị liệu
trong việc khuyến khích và động viên thân chủ thực hiện tích cực những điều đã
được học hỏi, nghĩa là phải biến lý thuyết thành hành động. Cũng như phân tâm
học, Adler sử dụng khả năng nội thị (insight) để mô tả một dạng nhận thức đã đến
mức có thể chuyển sang những hành động tích cực. Nó phản ảnh sự thấu hiểu của
thân chủ về nguyên nhân và bản chất của những hành vi và các định kiến đã tác
động như thế nào khiến thân chủ mắc phải những sai lầm, chệch hướng trong cuộc
sống và đồng thời nó đang tạo động cơ cho một sự thay đổi.
Nhà trị liệu khuyến khích và động viên thân chủ bằng những lời khuyên
trực tiếp và thẳng thắn, nhưng không có tính cách đổ lỗi hay thóa mạ làm thân chủ
nản lòng, mà phải luôn duy trì niềm hy vọng cho thân chủ. Đặc biệt, nhà trị liệu
cần nhấn mạnh đến sự can đảm thân chủ cần phải có để tạo ra những bước thay
200

đổi. Giải thích để giúp thân chủ hiểu tính chất tốt đẹp và vẻ vang của sự đứng dậy
vững vàng sau những lần vấp ngã bằng những ví dụ cụ thể, chứ không bằng cách
lấy nghĩa lý và đạo đức ra để dạy bảo. Trong đối thoại, để tránh sự dằng co và bế
tắc nhà trị liệu cũng nên tránh dùng các hình thức lý luận để tranh chấp với thân
chủ, bởi vì theo kinh nghiệm, những lý lẽ của thân chủ luôn được pha trộn với
những cảm xúc riêng tư nên chúng không tuân theo qui tắc hay hình thức nào cả
trong cuộc tranh luận.
4.4. Tái định hướng lối sống của thân chủ
Giai đoạn này là thời điểm giúp thân chủ tìm một hướng mới cho cuộc sống
của mình. Công việc này không đơn giản vì không có nghĩa là những gì đã làm
trong các giai đoạn trước được xem như đã hoàn tất. Trái lại, thân chủ cần được
tiếp tục giải thích, hướng dẫn thông tin, tái đánh giá nhiều vấn đề, và động viên để
từ đó có đủ lòng can đảm tạo ra sự khác biệt và quyết định cho mình một hướng
hành động tốt hơn.
Liệu pháp Adlerian đưa ra rất nhiều gợi ý về kỹ thuật tham vấn để nhà trị
liệu có thể áp dụng trong tiến trình khuyến khích và động viên thân chủ của mình
vượt qua được sự tự ti, định kiến, và kiểu sống co rút, khác biệt, vô trách nhiệm
với tha nhân và xã hội. Nhà trị liệu phải thật uyển chuyển, nhẹ nhàng nhưng phải
mạnh dạn trong khi cố gắng làm cho thân chủ thấy rõ những phần sai trái trong
nhận thức và lối sống của họ. Ngoài các kỹ thuật thông thường như, khuyên can
(advising), đối mặt (confronting), động viên (encouraging), làm bài tập ở nhà
(homework giving), im lặng (silence), hài hước (humoring), phân tích ký ức thời
thơ ấu (early recollection analysis)… Adler đề nghị thêm một số kỹ thuật khác
trong tham vấn như:
- Ý định nghịch lý (paradoxical intention) hay còn gọi là thực hành
phủ định (negative practice), nghĩa là nhà trị liệu đề nghị thân chủ cứ tiếp
tục gia tăng hành vi xấu hay sai lạc mà họ đang cố gắng sửa đổi; ví dụ, đề
nghị cặp vợ chồng đang tham vấn về nhà cứ tiếp tục cãi vã để xem thử kết
cuộc sẽ đi tới đâu.
– Tạo hình ảnh (creating image), nghĩa là nhà trị liệu nên gán cho
thân chủ một hình ảnh, ví dụ, thân chủ là người có nhiều tham vọng không
tưởng thì được gán cho biệt hiệu “siêu nhân”, cách này vừa có vẻ hài hước

201

cho nhẹ bớt tầm quan trọng của vấn đề và vừa làm cho thân chủ luôn nhớ
rõ mục tiêu cần phải thay đổi của mình.
- Kỹ thuật bấm nút (the push-button technique), nghĩa là giúp thân
chủ thấy được rằng cảm xúc của mình luôn phù hợp với điều mình đang
nghĩ tới; ví dụ, đề nghị thân chủ nhắm mắt và thật sự làm sống lại trong
tâm trí một biến cố làm mình đau đớn hay tức tối, căm giận nào đó đã xảy
ra trong quá khứ rồi viết ra cảm xúc kèm theo của mình. Xong lại đề nghị
thân chủ tự tạo ra trong ý nghĩ một tình huống thật sự đang làm mình đau
lòng, hay tủi hổ, và cũng viết ra cảm xúc kèm theo sau đó. Theo đó thân
chủ sẽ nhận thấy cả hai hành động đều tạo ra những cảm xúc tương tự. Việc
làm này sẽ giúp thân chủ hiểu rằng chính mình là người thường sáng tạo ra
cảm xúc chứ không phải là nạn nhân của cảm xúc, nghĩa là mình nghĩ sao
thì cảm xúc của mình cũng sẽ vậy; nói cách khác, mình là người chủ của
chính mọi hành vi của mình.
- Hành động như là (acting as if), nghĩa là đề nghị thân chủ đóng
giả một vai tuồng hay làm một việc gì đó khác với thường ngày nhưng tốt
hơn; ví dụ, khuyến khích một thân chủ có lối sống ích kỷ hằng tuần hãy tích
cực tham gia vào các công tác từ thiện trong cộng đồng. Việc làm này sẽ
giúp thân chủ dần dà có thói quen tốt và cảm thấy có những thay đổi trong
nhận thức và phong cách sống của bản thân.
Adler còn đề nghị nhiều kỹ thuật khác nữa để phân tích và giúp thân chủ
nắm bắt được những sai lầm trong cách sống hiện tại của họ, đồng thời khuyến
khích và động viên thân chủ có những quyết định tích cực cho sự thay đổi. Nói
khác hơn, sau khi nhận thấy thân chủ đã hiểu thấu mọi vấn đề và sẵn sàng có động
cơ để thay đổi (tức là có khả năng nội thị) thì đây là thời gian tái định hướng,
nghĩa là nhà trị liệu và thân chủ sẽ cùng nhau bàn thảo một hướng sống mới cho
thân chủ.
Nhưng cần lưu ý là nhiệm vụ của nhà trị liệu trong liệu pháp tâm lý cá nhân
chủ yếu là tạo được động cơ thay đổi cho thân chủ, còn thân chủ phải là người
thực sự thực hiện sự thay đổi, tháo gỡ cái xấu cái cũ và thay vào đó cái tốt cái mới.
Điều này cho thấy liệu pháp tâm lý cá nhân khác với liệu pháp hành vi. Trong khi
chủ trương của liệu pháp hành vi chủ yếu là thay đổi hành vi của cá nhân thì liệu
pháp tâm lý cá nhân lại nhắm vào sự thay đổi những ý tưởng, quan niệm, và mục
tiêu của cá nhân.
202

5. Phê bình và đánh giá liệu pháp tâm lý cá nhân
Liệu pháp tâm lý cá nhân đã nhận được rất nhiều sự tán trợ của các chuyên gia vì đã
nói lên được đầy đủ tính chất và ý nghĩa về cuộc sống, xem mỗi cá nhân con người là
một tổng thể phối hợp đa diện với đầy đủ mọi đặc tính thuộc về cá nhân, xã hội, nhân
văn, môi trường, mục tiêu và phong cách sống. Lý thuyết gia Viktor Frankl nói rằng
những đóng góp trong lý thuyết của liệu pháp cá nhân cho kiến thức của nhân loại có tầm
quan trọng như lý thuyết về trái đất quay chung quanh mặt trời của Copernicus trong thế
kỷ 15. Ông xem Adler như là nhà lý luận tiên phong cho phong trào gọi là tâm thần hiện
sinh (existential-psychiatric movement) (7).
Chuyên gia tâm lý Abraham Maslow thì nói: “Theo tôi, càng nghiên cứu lý thuyết
của trường phái tâm lý cá nhân tôi càng thấy giá trị của nó càng to lớn, bởi vì nó đã mô tả
và nhận diện đúng về tính tổng thể của cá nhân con người.” (8).
Lý thuyết tâm lý cá nhân nghiêng hẳn về những phần tích cực mà lại bỏ qua những
phần tiêu cực về bản chất của con người, xem mỗi con người là một thực thể độc đáo,
nhất quán, có khả năng sáng tạo, có sự lựa chọn và trách nhiệm trong hành động của
mình. Nói cách khác, mỗi cá nhân tự xây dựng nên kiểu sống cho mình theo nhận thức,
lòng tin, thành kiến, và những khám phá chủ quan của mình; từ quan điểm đó, mục tiêu
của liệu pháp tâm lý cá nhân là phát hiện và phân tích các khía cạnh sai trái trong lối sống
cũ của thân chủ, khích lệ và động viên thân chủ thấy rõ vấn đề để quyết định thay đổi số
phận của mình, vạch ra một hướng sống mới có lợi ích cho cả bản thân, cũng như cho tha
nhân và xã hội.
Trường phái tâm lý cá nhân thể hiện một hệ thống lý thuyết mang đủ tính chất đa diện
về văn hóa, xã hội và thích hợp với mọi thời gian. Là một chuyên gia thời hậu phân tâm
học, Adler cũng giữ lại một số phương pháp phân tích tâm lý của Freud, nhưng ông đã
đi xa hơn phân tâm học khi phân tích về các khía cạnh xã hội, các khả năng sáng tạo, học
hỏi, lựa chọn, và quyết định thuộc về bản chất của mỗi con người. Vì vậy mà một số
chuyên gia xem lý thuyết tâm lý cá nhân như là một liệu pháp có nội dung bao quát về ý
nghĩa và mục tiêu hàm chứa trong một số các liệu pháp sau này như hiện sinh/nhân văn
(existential/humanistic therapy), nhân vị trọng tâm (client-centered therapy), liệu pháp
hình thái đồng nhất (gestalt therapy), liệu pháp thực tế (reality therapy), liệu pháp cảm
xúc duy lý (rational emotive therapy)…
Đặc biệt, liệu pháp tâm lý cá nhân rất thích hợp trong các môi trường thuộc về trường
học, học viện, gia đình, sinh hoạt nhóm, và đôi lứa trong hôn nhân. Trong nhiều năm qua
203

nhiều học viện tại Âu châu và Hoa Kỳ đã mở ra các chương trình để huấn luyện chuyên
viên và giáo chức về các nguyên tắc giáo dục làm sao giúp sửa sai những hành vi của
con trẻ và tạo cho chúng một cuộc sống lành mạnh với tinh thần luôn biết quan tâm đến
lợi ích xã hội. Các chuyên viên liệu pháp tâm lý cá nhân cũng giúp các gia đình và những
tổ chức nhóm học hỏi được nhiều điều lợi ích để cải thiện các mối quan hệ liên cá nhân
giữa vợ chồng, con cái, và người thân.
Cụ thể là các chương trình có tên STEP (systematic training for effective parenting)
(chương trình huấn luyện cách nuôi dạy con cái có hiệu quả) và STET (systematic
training for effective teaching) (chương trình huấn luyện công tác giáo dục hiệu quả).
Chuyên gia Henri Ellenberger còn cho rằng Adler, tác giả của liệu pháp tâm lý cá nhân,
là người đi tiên phong trong kinh nghiệm chữa trị các trường hợp tội phạm (9). Chính
Adler cũng đã từng viết và đi diễn giải nhiều nơi về các vấn đề liên quan đến tội phạm,
nghiện ngập thuốc cấm, chiến tranh, ý thức hệ về chính trị, tôn giáo, tinh thần quốc gia,
chủng tộc, tính lãnh đạo, và tâm lý nhóm, v, v …
Lý thuyết tâm lý cá nhân có nhiều lợi ích ngay cả trong những trường hợp ngăn ngừa,
nghĩa là nó cũng giúp cho những cá nhân dù chưa có dấu hiệu hay triệu chứng gì về một
cuộc sống lạc hướng, vẫn có cơ hội hiểu biết bản thân mình, học hỏi thêm và có tầm nhìn
sâu rộng vào ý nghĩa và triết lý của sự sống để lớn mạnh, phát triển và nâng cao thế đứng
của mình trong sự hoà nhập với đời sống của mọi người trong xã hội. Nói khác hơn,
Adler cho rằng một liệu pháp mà chỉ nhắm vào việc chữa lành một căn bệnh, hay sửa đổi
một hành vi thì chưa thể gọi là đã hoàn thành vì nó vẫn chưa tạo được cho cá nhân một
quan niệm rõ ràng, một nhân sinh quan tích cực về một cuộc sống có ý nghĩa.
Tuy nhiên, liệu pháp tâm lý cá nhân cũng có nhiều khuyết điểm trên nhiều phương
diện. Trước hết, Adler đã khiếm khuyết khi bỏ qua tầm quan trọng của yếu tố di truyền
và bẩm sinh đối với những trường hợp rối nhiễu tâm lý tâm thần. Thống kê hằng năm cuả
WHO (world health organization) cho thấy có một số bệnh về tâm lý tâm thần luôn được
chia đều trên mọi quốc gia, không phân biệt chủng tộc, giới tính, thành phần kinh tế và
điều kiện, hoàn cảnh sống. Chẳng hạn con số thống kê về bệnh tâm thần phân liệt
(schizophrenia) trong mọi cộng đồng dân tộc luôn ở mức độ 1% đối với dân số của cộng
đồng đó. Sự phát hiện này cho thấy rõ ràng tính di truyền và bẩm sinh liên quan đến bệnh
tật của con người là có thật, chứ không phải do các bối cảnh tâm lý xã hội của gia đình
hay nền văn hoá có tính chủ quan và cá biệt như Adler đã nhấn mạnh.
Thứ đến, trong khi Adler không chấp nhận những hình thức bệnh lý tâm lý tâm thần
và cách chữa trị theo phương thức y học thì trên thực tế, tâm lý học lâm sàng đã khám
204