Tải bản đầy đủ
Quan niệm về bệnh lý

Quan niệm về bệnh lý

Tải bản đầy đủ

quyết định của mình. Ông cho rằng những người này chỉ là những người có cá tánh tự ti
và định kiến do hậu quả của những trải nghiệm sai trái trong quá trình sống chứ họ không
phải là những con người bệnh hoạn. Trong cuộc sống, ngay cả những người thành công
nhất cũng thường mắc phải những triệu chứng như vậy mỗi khi họ không có thêm những
cơ hội để được thành công hơn. Rõ ràng một sinh viên trong khi lo lắng, sợ sẽ bị hỏng
trong một cuộc thi cũng có những triệu chứng tâm căn như vậy.
Cũng như thế, Adler cho rằng những cảm xúc như yêu thương hay buồn khổ, v, v…
cũng đều có cơ sở của sự nhận thức của lý trí, do đó không thể kết luận rằng con người là
“nạn nhân” hay “bị bệnh” vì có những cảm xúc đó. Ông tin rằng cảm xúc nói chung là
yếu tố thuộc về bản chất tự nhiên của con người, nó thường xuất hiện để hỗ trợ tinh thần
cho cá nhân trong quá trình đạt đến những mục tiêu mong muốn.
Adler không cho rằng các hiện tượng tâm lý mà Freud gọi là cơ chế tự vệ (Ego
defense mechanism) là những yếu tố nổi lên tự nhiên từ vô thức. Adler không cho rằng
những cá nhân có cá tánh hay tự bào chữa, chê bai, nói xấu, đổ lỗi người khác, hay tìm
cách xa lánh, rút lui, v, v… là những người có dấu hiệu bất thường hay bệnh hoạn về mặt
tâm lý. Ông xem những phản ứng như thế chỉ là những yếu tố tâm lý có tính cách bu trừ
(compensation), hay là một phương tiện đê giải quyết vấn đề mà cá nhân thường sử dụng
chúng một cách có ý thức để bảo vệ cho uy tín, danh dự, hay cho sự an toàn của bản thân.
Khác với phân tâm học, Adler quan niệm hiện tượng giấc mơ như là một hiện tượng
tâm lý có tính cách tập dược cho một diễn biến hành động xảy ra trong tương lai, tương
tự như một sự dự báo hay cơn báo mộng, và những gì mà cá nhân thường muốn xua
đuổi, né tránh, không muốn hành động thì giấc mơ sẽ làm cá nhân hoảng sợ bằng một
cơn ác mộng. Như vậy, ông cho rằng giấc mơ là một hành động giải quyết vấn đề có định
hướng tương lai, nghĩa là chức năng của nó luôn có tính cách cá nhân và có mục đích;
trong khi đó, quan điểm của Freud cho rằng giấc mơ là một hành vi tâm lý thể hiện cách
giải quyết thụ động của cá nhân về một vấn đề gì đó thuộc về quá khứ.
Triệu chứng loạn thần (psychosis), theo sự phỏng đoán của Adler, cũng chỉ là dấu
hiệu phản ảnh của một trạng thái tâm lý muốn vượt trội, muốn khác biệt trong cuộc sống
của cá nhân mà thôi. Ông nói rằng thật ra nó là một hiện tượng tâm lý cần thiết mà cá
nhân phải có để thành tựu trong cuộc sống chứ nó không phải là dấu hiệu của bệnh tâm
thần. Ông lý luận: “ Sự nổi lên những trạng thái tâm lý vượt ra ngoài sự bình thường của
cá nhân thường xảy ra khi họ mất tin tưởng vào lý trí của chính mình, mất tin tưởng vào
khả năng nhạy cảm và những phương thức thực tế để giải quyết vấn đề, và mất tin tưởng
vào sự đối xử bình đẳng của tha nhân…” (5).
194

Như thế, lý thuyết tâm lý cá nhân của Adler cho rằng những trạng thái như, hưng
cảm (manic), hoang tưởng tự cao (delusion of grandeur), hoang tưởng bị bách hại
(persecutory delusion), các hiện tượng ảo giác (hallucinations), v, v… chỉ là những kiểu
cách biểu hiện khác biệt với các trạng thái tâm lý bình thường thôi chứ không nên cho
rằng chúng là những dấu hiệu bệnh lý như sự chẩn đoán của khoa tâm lý tâm thần.
Tóm lại, lý thuyết tâm lý cá nhân của Adler bác bỏ cách định nghĩa về một số các
hình thức bệnh lý và mức độ trầm trọng của chúng theo quan điểm các bệnh về tâm thần
tâm lý của y học. Lý thuyết này cũng bác bỏ quan điểm của Freud cho rằng nguyên nhân
của các triệu chứng tâm căn xuất xứ từ sự rối loạn của các lực tâm lý thuộc bản năng tính
dục.
Lý thuyết tâm lý cá nhân chú tâm vào những trải nghiệm có tính chất tiêu cực của cá
nhân từ trong bối cảnh gia đình và những định kiến hình thành trong tiến trình cá nhân
tương tác với tha nhân và xã hội. Những yếu tố này khiến cho cá nhân có tính tự ti và
thành kiến trong nhận thức, cảm xúc và hành vi, và kết quả là cá nhân định hướng cho
mình một lối sống khiếm khuyết và chệch hướng, đối nghịch với cái bản chất tự nhiên
của mình là luôn quan tâm đến tha nhân và xã hội. Adler khẳng định rằng triệu chứng
tâm căn không có gì khác hơn là do hậu quả của sự sai trái hay thiếu sót trong học hỏi và
nhận thức khởi đi từ tuổi trẻ, và cũng là hậu quả của việc cá nhân không bắt kịp với nền
văn minh đang diễn tiến bên ngoài.
Những người tán trợ lý thuyết tâm lý cá nhân, như Mozak và Maniacci, cho rằng quá
trình dai dẳng của các hiện tượng tự ti và định kiến làm cho cá nhân mắc phải những sai
lầm căn bản (basic mistakes) trong nhận thức và lối sống của mình. Những sai lầm này
lâu dần trở thành huyền thoại cho phong cách sống của cá nhân vì chúng luôn được cá
nhân cho là đúng, là sự thật (6). Các chuyên viên này đã nêu ra một số ví dụ về các
trường hợp sai lệch căn bản trong nhận thức và lối sống như sau:
- Khái quát hóa quá đáng: Ví dụ, “Đời là bể khổ”, hay “Người ta ai cũng xấu
và độc ác”…
- Ý tưởng sai về sự an toàn của bản thân: Ví dụ, “Mình luôn làm vừa lòng
mọi người mà sao ai cũng ghét mình”, hoặc “Đã không được đăng ký vào lớp học đó
là đời mình tàn rồi”…

195

- Nhận định sai lạc về cuộc sống và những yêu cầu của cuộc sống: Ví dụ,
“Cuộc sống luôn có quá nhiều khó khăn và nguy cơ”, hoặc “Sống là phải luôn hy
sinh, phải luôn chịu thiệt thòi”.
- Quá tự ti, hạ thấp giá trị bản thân: Ví dụ, “Mình là đứa ngu muội có ráng
học đến đâu rồi cũng chỉ là đứa dốt thôi”, hoặc “mình xấu xí không có gì xứng đáng
để được ai yêu thương”.
- Nhận thức sai lầm về các tiêu chuẩn giá trị: Ví dụ, “Mình phải luôn chiếm
hạng nhất trong mọi cuộc thi cử”, hoặc “Mình phải thật giàu thì thiên hạ mới nể
trọng”.
4. Liệu pháp của trường phái tâm lý cá nhân
Trường phái tâm lý cá nhân quan niệm mỗi con người là một cá nhân độc đáo, sáng
tạo, có trách nhiệm, có tính nhất quán, làm chủ số phận của mình, và luôn có khuynh
hướng sống hoà mình với tha nhân và xã hội. Nói cách khác, nhà trị liệu phải nhận xét và
hiểu rõ cá nhân như là một thực thể thống nhất không tách rời, một tổng thể phối hợp đa
dạng, bao gồm các yếu tố nhân văn, xã hội, môi trường, các động lực thúc đẩy hành vi và
phong cách sống. Trái với quan điểm y học về các trường hợp bệnh lý tâm lý tâm thần,
liệu pháp tâm lý cá nhân cho rằng các thân chủ của họ không phải là những bệnh
nhân mà chỉ là những cá nhân có lối sống xa rời, chệch hướng, khác biệt với dòng
chảy chung của cuộc sống trong xã hội vì cá tánh tự ti mặc cảm và những định kiến
có sẵn của họ. Do đó mục đích của liệu pháp tâm lý cá nhân là sử dụng các biện pháp
khích lệ, động viên, hỗ trợ, và giáo dục để tái cấu trúc lối sống sai trái, lệch lạc của cá
nhân, đưa cá nhân trở về với ý thức chung của xã hội, quan tâm và hòa nhập vào cuộc
sống trong thực tại của tha nhân và xã hội. Nói rõ hơn, liệu pháp tâm lý cá nhân là một
tiến trình giảng dạy bao gồm các mục tiêu sau:
- Giúp thân chủ giảm thiêu tâm trạng tự ti (inferiority feelings) và sự nản
lòng, nâng cao khả năng nhận thức và biết sử dụng những ưu điêm và vốn quí của
bản thân.
- Giúp thân chủ thay đổi lối sống (life style), nghĩa là thay đổi các định
kiến (biased apperceptions) dai dẳng đã tạo nên hướng sống sai lệch trong hiện
tại.
- Giúp thay đổi các quan niệm sai lầm của thân chủ về các tiêu chuẩn giá
trị trong cuộc sống.
196

- Hỗ trợ và khích lệ thân chủ có tinh thần biết quan tâm đến đời sống xã
hội bên ngoài, nhận thức được tính bình đẳng giữa người với người, và trở thành
người hữu ích cho xã hội.
Tiến trình trị liệu của trường phái tâm lý cá nhân có thể tạm chia ra làm 4 giai
đoạn:
- Thiết lập và duy trì tốt đẹp mối quan hệ.
- Phát hiện và phân tích các động cơ tâm lý của thân chủ, bao gồm lối sống,
những mục tiêu và ảnh hưởng của chúng đối với cuộc sống hiện tại của thân chủ.
- Giải thích và động viên để thân chủ nhận thức rõ.
- Tái định hướng cuộc sống của thân chủ.
4.1. Thiết lập mối quan hệ trị liệu
Cũng như một số các liệu pháp khác, liệu pháp tâm lý cá nhân xem sự
thành công của một ca trị liệu tùy thuộc phần lớn vào mối quan hệ giữa nhà trị liệu
và thân chủ. Adler cho rằng không có lý thuyết và kỹ thuật nào có thể gọi là quyết
định cho thành quả trị liệu, ngoại trừ mối quan hệ giữa hai đối tượng có những
biến số phù hợp cho công việc trị liệu. Đặc biệt, nhà trị liệu phải làm sao xây
dựng được lòng tin, niềm hy vọng và tình cảm trong lòng thân chủ trong suốt quá
trình tương tác. Muốn được vậy, nhà trị liệu phải là người thông minh, vững vàng
về cảm xúc, khách quan, không phê phán, và luôn có phong thái thân thiện. Nhà
trị liệu luôn tỏ ra ân cần và quan tâm đến thân chủ, nhưng không được để rơi vào
những trường hợp quá đáng, như các hình thức mơn trớn, nuông chiều kiểu trẻ
con, hay sự đối xử khiến thân chủ có cảm giác rằng mình là một nạn nhân của sự
xấu số. Để tạo cảm giác ngang hàng và thân thiện cho thân chủ, Adler đề nghị
trong khi trò chuyện nhà trị liệu nên đặt ghế ngồi đối diện trực tiếp với thân chủ
thay vì ngồi sau bàn giấy, như kiểu cách làm việc thông thường của quan chức.
Liệu pháp tâm lý cá nhân không coi trọng vấn đề chẩn đoán bệnh theo
phương thức y khoa, do đó không đặt vai trò nhà trị liệu trong vị trí của một bác sĩ
luôn phải được xem như là người có đầy đủ kiến thức và khả năng mầu nhiệm để
giải quyết mọi vấn đề, và không cho rằng đối tượng trị liệu là một con bệnh thụ
động. Adler quan niệm rằng mục đích của trị liệu tâm lý là phải khiến thân chủ
hành động, nghĩa là giúp thân chủ hiểu rằng họ phải có trách nhiệm tích cực trong
197