Tải bản đầy đủ
Bản chất con người

Bản chất con người

Tải bản đầy đủ

như thế, Freud quả quyết rằng những yếu tố tâm lý sinh hoạt bên trong, hay gọi là nội
tâm (intrapsychic) là phần to lớn và quan trọng, thường khống chế lên nhiều khía cạnh
trong đời sống hằng ngày của mỗi cá nhân.
Nhưng Adler lại cho rằng cần phải nhìn thấy bản chất của mỗi con người trên một
bình điện tổng thể (holism) chứ không thể nhìn theo lối tách rời ra từng phần như thế.
Mọi sinh hoạt của tinh thần và thể chất (ký ức, cảm xúc, hành vi ăn ngủ, đi đứng…) là
thể hiện cho một cái tôi toàn bộ. Nói cách khác, không nên hiểu cá nhân một cách phiến
diện qua những nhu cầu bản năng riêng tư, mà phải hiểu cá nhân như một con người
trong bối cảnh của xã hội, luôn có tính liên đới và tương tác với đồng loại của mình.
Trong cuộc sống, mỗi con người đều có ý hướng kết nối với tha nhân, và đều có lòng
mong ước cũng như trách nhiệm dẫn dắt cuộc sống của mình tiến đến một vị trí trong
cộng đồng xã hội. Ông khẳng định rằng bản chất bẩm sinh của mỗi con người đều có cái
thuộc tính xã hội, luôn tự xem mình là một phần tử của xã hội, vì thế nó khiến con người
luôn có sự quan tâm đến xã hội (social interest). Mọi hành vi của cá nhân đều có tính giao
thoa và tương hỗ với môi trường xã hội vì khi con người vừa sinh ra là đã nằm trong
khuôn khổ sinh hoạt của gia đình và xã hội rồi.
Về mặt phân tích những yếu tố tâm lý, Adler cũng có những nhận định khác biệt với
Freud về các ý niệm vô thức, ý thức, tinh thần và thể chất, tính tranh chấp của các lực
tâm lý. Ông cho rằng vô thức không phải là một cấu trúc to lớn khống chế hành vi cá
nhân trên nhiều mặt như phân tâm học đã nói. Ngược lại, ông tin vào tính sinh động của
phần sinh hoạt ý thức là phần có khả năng dẫn dắt cá nhân đi vào thực tại của cuộc sống.
Vô thức, đối với trường phái Adleian, chỉ là những gì đang còn mù mờ, không thể hay
chưa được hiểu, và ý thức là phần thể hiện đầy đủ tính hiểu biết và lòng ham muốn hoà
nhập với thực tại.
Ngoài ra, Adler cho rằng tính tranh chấp của các lực tâm lý trong nội tâm không tự nó
nổi lên một cách tự động như Freud mô tả, nhưng nó là những cảm xúc thường chỉ khởi
phát khi có sự tranh chấp, đối mặt nào đó giữa bản thân với thực tại bên ngoài. Nói khác
hơn, khi có một sự tác động từ bên ngoài, nghĩa là khi cá nhân rơi vào một trạng thái
lưỡng lự, bí lối, hay một tình huống “tiến thoái lưỡng nan” trong ý định thực hiện một
điều gì thì chính vào lúc đó những cảm giác, ý tưởng chống đối, tranh chấp mới xảy ra
trong tâm trí.
Freud nhấn mạnh đến tầm quan trọng của những nhu cầu tính dục trong tuổi thơ, hiện
tượng mặc cảm Oedipus (đứa trẻ trai có khuynh hướng thích mẹ và ganh tị với cha) và
190

mặc cảm Electra (đứa trẻ gái có khuynh hướng thích cha hơn mẹ), và đứa bé gái cũng
thường có mặc cảm thua kém vì nó không có bộ phận dương vật (penis envy).
Adler phản bác những ý niệm trên. Ngược lại, ông nhấn mạnh đến những ảnh hưởng
và tác động của những ký ức và trải nghiệm trong bối cảnh gia đình mà đứa trẻ đã từng
trải qua trong tuổi thơ. Ông xem gia đình là một bối cảnh tâm lý xã hội quan trọng đầu
tiên có tác động to lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách về sau của cá nhân. Đó
là khung cảnh xã hội đầu tiên mà đứa trẻ được uốn nắn về mọi mặt, từ học ăn, học nói,
học cách quan hệ cư xử, và đó cũng là nơi để đứa trẻ phát triển và hình thành trí tuệ, nhận
thức, niềm tin, cảm xúc và khuynh hướng sống, v, v… Nhưng vì mỗi đứa trẻ đều có
những trải nghiệm riêng tùy theo vị trí của nó trong gia đình, và theo đó khi lớn lên nhân
cách và tính tình cũng như cách sống của chúng cũng thường khác nhau.
Những đồng nghiệp của Adler, như Dreikurs, Heinz, và Ambacher, đều đồng ý với
nhận định rằng thứ tự sinh ra trong gia đình của đứa trẻ sẽ cho chúng những ký ức và trải
nghiệm khác nhau và điều này sẽ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách và
khuynh hướng sống về sau của nó. (3).
Các chuyên gia trên cho rằng đứa con đầu là đứa thường được hưởng rất nhiều về sự
chăm sóc, quan tâm và nuông chiều của cha mẹ. Cha mẹ thường đặc biệt đầu tư cho
tương lai của nó trên nhiều phương diện, từ vật chất đến tinh thần. Chính vì thế mà đứa
trẻ thường bất bình, ganh tị với đứa em mới sinh ra khi thấy cha mẹ lại bắt đầu san sẻ tình
thương và sự chăm sóc cho em nó. Hiện tượng tâm lý này có thể ảnh hưởng đến tính tình
về sau của đứa con đầu. Trong khi đó, đứa con thứ hai lại có những cảm nhận khác với
anh/chị nó. Nhận thức được mình không phải là đứa con được ưu tiên về mọi mặt trong
sự chăm sóc của cha mẹ, tâm lý của nó là phải tranh giành ảnh hưởng với anh/chị để
chiếm lấy vị trí trọng tâm trong gia đình. Tính cách này làm cho đứa con thứ hai thường
có khuynh hướng luôn phấn đấu để vượt trội. Từ hiện tượng tâm lý đó, đứa con thứ hai
thường là đứa có nhiều khả năng và dễ thành công về sau. Những đứa con kế tiếp trong
gia đình lại thường có tâm lý thua thiệt với anh/chị mình và về sau dễ phát triển những
mặc cảm tiêu cực trong các mối quan hệ với tha nhân và xã hội. Tuy nhiên, đứa con út lại
là đứa thường được cha mẹ đặc biệt cưng chiều, và kết quả là những đứa con út trong gia
đình thường có cá tánh lệ thuộc, thiếu quyết đoán trong cuộc sống.
Đối với Adler, quan niệm về ý nghĩa và hậu quả của các hiện tượng ganh đua giữa
các đứa con trong gia đình là sự phản ảnh trung thực những gì thực tiễn về tính cạnh
tranh nhau của con người trong xã hội bên ngoài. Rõ ràng các con em chúng ta thường
được khích lệ phải luôn phấn đấu và rèn luyện để vượt trội, để trở thành hạng nhất, để
191

mọi người biết đến, để nổi danh về một tài năng nào đó… và những ai đạt được những
yêu cầu đó thì ta cho là người thành công, là người có cuộc sống tốt và ý nghĩa trong xã
hội, và ngược lại thì là những kẻ thất bại và bệnh hoạn.
Tuy thế, Adler lại không đồng ý rằng những đứa trẻ không thành công là những đứa
trẻ thất bại hay bệnh hoạn, mà chúng chỉ là những đứa đã từng có những trải nghiệm tiêu
cực trong môi trường gia đình mà thôi. Bởi vì ở tuổi thơ, trẻ chưa có sự phát triển đầy đủ
nhận thức nên chúng thường có những xét đoán và kết luận vội vã, lầm lẫn, hoặc chỉ
đúng một phần. Như thế trong tiến trình lớn lên, những cảm nhận và kết luận của chúng
về bản thân mình và về cái thế giới khách quan bên ngoài rất dễ có tính cách chủ quan và
định kiến.
2. Nhân cách và lối sống
Freud nhận định rằng các yếu tố bẩm sinh của thể chất luôn có vai trò to lớn trong
quá trình hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân. Từ điểm này ông có cái nhìn bi
quan về nhân cách và lối sống của con người, nghĩa là hầu như mọi hành vi của cá nhân,
vô thức hay ý thức, đều ít nhiều phải chịu sự tác động xấu do sự đòi hỏi của các nhu cầu
bản năng, mà theo ông các nhu cầu bản năng bẩm sinh này thường là những ham muốn
liên quan đến các nhu cầu vật chất và tính dục, chúng luôn có tính tham lam, ích kỷ, và
kêu đòi.
Adler không đồng ý rằng các yếu tố bẩm sinh là quan trọng đối với sự hình thành
nhân cách và kiểu sống của cá nhân. Trái lại, ông có cái nhìn vừa chủ quan vừa lạc quan
hơn Freud về nhân cách con người. Ông cho rằng, như đã nói ở phần trên, bất cứ con
người nào tự bẩm sinh cũng có khuynh hướng nối kết và hoà đồng cuộc sống của mình
với tha nhân và xã hội. Và do cái yếu tố tâm lý đó, trong cuộc sống hầu như mọi hành vi
của cá nhân đều có ý hướng và mục đích, nghĩa là cá nhân luôn có lòng tin và sự phấn
đấu cho những mục tiêu mình đang mong muốn để vượt trội, theo đó quá trình sinh hoạt
này sẽ thể hiện bản chất của nhân cách hay lối sống (life style) của cá nhân.
Adler phân ra 4 kiểu sống của con người như sau: a) tin vào những điều kiện hiện có
của chính bản thân, b) tin vào những điều kiện lý tưởng, những gì mình mong ước hay có
bổn phận, trách nhiệm phải đạt tới, c) tin vào tính chất khách quan của thiên nhiên, thế
giới, và tha nhân, những yêu cầu gì mà cộng đồng xã hội muốn mình thực hiện, d) có
lòng tin về những giá trị đạo đức, những tiêu chuẩn đúng/sai trong mọi hành vi (4).

192

Adler cũng đặc biệt chú trọng vào hai yếu tố tâm lý có tác động tiêu cực đến sự hình
thành nhân cách và hướng sống về sau của cá nhân. Yếu tố thứ nhất là cái cảm nhận mà
ông gọi là sự tự ti (inferiority feeling), là cái cảm nhận tiêu cực và thất bại về con người
của mình mà các chuyên gia tâm lý tâm thần thường xem nó như là dấu hiệu của bệnh lý.
Cảm giác này thường hình thành và phát triển dần qua thời gian ngay từ trong môi trường
gia đình, trong nền văn hóa, trong sinh hoạt cộng đồng xã hội của chúng ta. Chẳng hạn,
cha mẹ thường dạy bảo con cái những thái độ sống tiêu cực như “con chim nhát là con
chim sống”; các nền văn hóa luôn đề cao “sức mạnh của nam tính” và xem thường sự yếu
đuối của nữ tính; sinh hoạt xã hội thường có những biểu hiệu răn đe, cảnh giác, ngăn
chặn những nỗ lực, sáng kiến khác biệt của cá nhân, v, v…
Đó là những yếu tố tạo ra sự trái ngược, phản lại cái tôi lý tưởng (self-ideal) khiến cho
cá nhân luôn có cảm giác thứ yếu, phụ thuộc. Adler kể rằng nhiều thân chủ của ông
thường thốt ra những lời nói thể hiện rõ tính tiêu cực trong lòng tin của họ, như “giá như
tôi được quyền bình đẳng với đàn ông thì tôi sẽ…”; hoặc “tôi thật bất mãn với chiều cao
của mình”; hay “tôi thấy mình chẳng làm được gì cho thành tựu vì đời sống có quá nhiều
cạm bẫy, rủi ro, nguy hiểm”…
Yếu tố thứ hai là định kiến (biased apperceptions). Những định kiến về cái tôi, về tha
nhân, về xã hội và thế giới bên ngoài là những yếu tố tạo ra cho mỗi cá nhân những nét
đặc thù về nhận thức, tình cảm, thái độ, và mục tiêu trong mọi sinh hoạt của cá nhân ấy.
Trong quá trình ảnh hưởng của định kiến, theo Adler, lối sống của mỗi cá nhân có thể
chuyển động trên một trong hai hướng khác nhau, hoặc có ích hoặc vô ích cho chính bản
thân mình cũng như cho xã hội. Hướng có ích nghĩa là cá nhân luôn có một phong cách
sống hài hòa, bình đẳng, và phù hợp với lợi ích của xã hội; và hướng vô ích là cá nhân
luôn hành xử vì lợi ích của cái tôi, vị kỷ, không hợp tác và đối nghịch với lợi ích của
người khác và xã hội nói chung. Nhưng như đã nói ở trên, Adler cũng không xem những
cá nhân hành xử theo chiều hướng vô ích là những người bất thường, bệnh hoạn, mà xem
họ chỉ là những thành phần có phong cách sống chệch hướng, khiếm khuyết, không thuận
lợi và chỉ cần được khuyến khích, học hỏi, tập luyện để sửa chữa lại.

3. Quan niệm vê bệnh lý
Những ý niệm về các triệu chứng tâm căn (neurotic symptoms) mà trong phân tâm
học cho là bệnh lý thì theo Adler là có tính phóng đại. Theo ông, các triệu chứng tâm căn
chỉ là những hiện tượng lưỡng lự của tâm trí thường xảy ra cho các loại người có cá tính
hay do dự trước mọi vấn đề, những người thường có lối suy nghĩ hay thường nói :“
vâng… nhưng mà…”, nghĩa là những cá nhân không bao giờ có sự dứt khoát trong các
193