Tải bản đầy đủ
Phê bình liệu pháp phân tâm

Phê bình liệu pháp phân tâm

Tải bản đầy đủ

lập ra những trường phái riêng, vì những người này cho rằng phân tâm học đã quá chú
tâm vào tầm quan trọng của sự phát triển tính dục (sexual development), cho đó là động
lực chính thúc đẩy cho cuộc sống. Nhất là phân tâm học đưa ra những ý niệm mơ hồ,
không có bằng chứng gì rõ ràng, như mặc cảm Oedipus và mặc cảm Electra thường xuất
hiện trong giai đoạn được gọi là thời kỳ dương vật (phallic stage) của những đứa trẻ.
Tuy nhiên, không thể nói rằng Freud đã không có lý khi chú trọng vào bản năng tính
dục như là một động lực mạnh mẽ luôn thúc đẩy đà sống của con người. Nếu không phải
như thế thì tại sao con người là sinh vật có khả năng làm tình bất cứ lúc nào chứ không
phải đợi đến mùa giao hợp (mating season) mới thực hiện được như nhiều sinh vật khác?
Hơn nữa, nếu tâm trí con người không thường bị ám ảnh với những vấn đề giới tính thì
tại sao hầu hết mọi chuyên cười tiếu lâm trong dân gian thường có ít nhất 85% là những
câu chuyện liên quan đến tình dục? Ngoài ra, rõ ràng tình dục vẫn là cái thường xuất hiện
trong các giấc mơ của con người như là những ẩn ức, những cấm kỵ từng bị đè nén trong
bản năng.
Về mặt tâm bệnh, phân tâm học chỉ đặc biệt chú trọng vào những hiện tượng gọi là
tâm căn (psychoneurotic). Tâm căn là hiện tượng làm phát sinh các loại bệnh như, bệnh
ngất xỉu (hysteria), là một loại rối loạn tâm lý được thể hiện dưới hình thức của sự rối
loạn và tê liệt cơ thể (conversion), và các dạng bệnh thuộc về lo lắng, hoảng hốt
(anxiety), sợ hãi (phobia), ám ảnh cưỡng bức (obsessive-compulsive neurosis), các dạng
bệnh trầm cảm (depressive disorders)…
Freud quan niệm rằng các loại bệnh trên phần lớn đều có căn nguyên từ các yếu tố
tâm lý từng bị đè nén, như những ẩn ức, chấn thương, cảm xúc, ước muốn, mơ mộng,
những kinh nghiệm khiến cá nhân cảm thấy đau đớn, xấu hổ, hay không thể chấp nhận
được. Dưới sự dồn nén và chế ngự của ý thức, chúng vẫn luôn tìm mọi cách để xuất hiện
ra bên ngoài, và khi không làm được bằng cách này thì chúng chuyển biến để thể hiện ra
bằng cách khác. Đây là cách mà Freud dùng để giải thích những tình trạng bị tê liệt, hư
hỏng của cơ thể mà không xác định được nguyên nhân. Ví dụ, cảm xúc sợ hãi và kinh
hoàng triền miên của một người lính đã từng chứng kiến các trận giao tranh ác liệt ngoài
mặt trận trước đây có thể là nguyên nhân khiến giờ này đôi mắt anh ta đột nhiên bị mù
nếu như không phải vì một tai nạn nào cả. Một ví dụ khác, một cô gái bị chứng rối loạn
tình dục vì hậu quả của sự đè nén lâu dài những ký ức đau đớn và xấu hổ khi bị người
anh rể ức hiếp tình dục lúc cô mới vừa chớm tuổi dậy thì.
Tuy nhiên, dù lý luận của Freud về nguyên nhân gây ra các rối nhiễu tâm lý tâm thần
cho ta cái nhìn có ý nghĩa và rộng rãi về rất nhiều trường hợp bất thường, chệch hướng,
184

bệnh hoạn thuộc về nhân cách, cá tính và hành vi của một cá nhân, nhưng quan điểm của
ông về bệnh lý vẫn còn nhiều hạn chế so với một quang phổ rộng lớn của các loại bệnh
tâm thần tâm lý đã được nhân loại ghi nhận trong thực tế. Chẳng hạn, phân tâm học
không thể giải thích được nguyên nhân của các loại bệnh thuộc về di truyền, bẩm sinh
của thể chất, hay các loại rối loạn do điều kiện và tình huống môi trường sinh ra, như các
bệnh tự ky (autistic disorders), tâm thần phân liệt (schizophrenia), bệnh chậm trí (mental
retardation), bệnh trầm cảm (depression) (lưu ý: trầm cảm có loại tâm căn và có loại do
tình huống) v, v...
Đối tượng của liệu pháp phân tâm cũng bị hạn chế. Liệu pháp phân tâm chỉ có thể áp
dụng có hiệu quả cho những cá nhân đặc biệt có động cơ và lòng ham muốn vượt qua
những nỗi khó khăn của mình, những cá nhân có khả năng và trình độ để nói hết những
nỗi bí ẩn trong nội tâm mình. Liệu pháp phân tâm là một hình thức giao tiếp mà trong đó
có rất nhiều trường hợp nhà trị liệu có thể gây ra cho thân chủ sự khó chịu, bất mãn, tức
giận và chống đối. Thân chủ đòi hỏi phải chấp nhận cảm giác khó khăn này, cũng như
sẵn sàng diễn đạt một cách khách quan mọi ý nghĩ và cảm xúc của mình qua những cuộc
đối thoại. Nói rõ hơn, liệu pháp phân tâm không thể thích hợp cho những cá nhân thuộc
loại cố chấp, bốc đồng, tự cao tự đại, thích dối trá. Cũng như thế, những cá nhân có các
dạng bệnh tâm thần nặng, mãn tính, không còn khả năng nhận thức thực tại, như bệnh
chậm trí, tự kỷ, hoặc không hay chưa có đủ kiến thức để tự diễn đạt và phân tích các ý
nghĩ của mình, như những người mù chữ hay trẻ em sẽ không thích hợp với liệu pháp
phân tâm.
Liệu pháp phân tâm là hình thức trị liệu thường đòi hỏi nhiều thời gian, phí tổn tài
chánh, và thường khó có thể ấn định rõ ngày giờ kết thúc hợp đồng trị liệu. Về mặt hiệu
quả thì cũng như nhiều phương thức tâm lý trị liệu khác, có rất nhiều biến số phức tạp mà
thường bản thống kê không thể bao hàm hết được trong những cuộc điều tra nghiên cứu
về tính hiệu quả của các hình thức tâm lý trị liệu (8). Các cuộc nghiên cứu thường chỉ có
thể nêu lên được tính cách hiệu quả tổng quát của nó thôi. Chẳng hạn, chỉ có thể so sánh
được sự thay đổi của một vài yếu tố trong tư tưởng, cảm nhận và hành vi của một thân
chủ sau thời gian trải qua tiến trình trị liệu với phân tâm học. Ngoài ra, mục tiêu của phân
tâm học thường rất khiêm tốn, nỗ lực cuối cùng của nó chỉ là giúp cho thân chủ tìm thấy
được cách giải quyết các khó khăn, tranh chấp trong nội tâm, giúp thân chủ biết cách giữ
sự quân bình trong sinh hoạt tinh thần để từ đó thân chủ biết cách phối hợp, hoá giải và
vượt qua những vấn đề của mình.
Cuối cùng ta có thể tóm lược rằng cho dù tính cách trị liệu của liệu pháp phân tâm
thường thiếu tính trực diện và năng động, tốn nhiều thời gian và tiền bạc, và không thích
185

hợp với mọi loại đối tượng trị liệu, nhưng về mặt lý thuyết Freud đã có những khám phá
rất có tính thuyết phục về bản chất của con người trong cuộc sống và các chức năng trong
sinh hoạt tinh thần. Nói cách khác, cho đến ngày hôm nay phương thức phân tích các
hiện tượng tâm lý của phân tâm học vẫn được xem là kim chỉ nam đối với các chuyên gia
tâm lý tâm thần. Dù thuộc trường phái tâm lý trị liệu nào, các chuyên gia luôn cần dựa
vào phân tâm học khi phân tích và lý giải các yếu tố tâm lý tâm thần cho những đối tượng
đang chữa trị. Trong đời sống hằng ngày, có thể nói nếu biết sử dụng phân tâm học để
tìm hiểu các yếu tố tinh thần và các diễn biến trong ý nghĩ, tình cảm, cảm xúc… của
mình thì cá nhân có được khả năng suy ngẫm và hiểu biết nhiều hơn về bản thân mình.
-------------------------------------

186

Câu hỏi:
1- Quan điểm phân tâm học giải thích các hiện tượng sinh hoạt trong lãnh vực tinh
2-

3456-

78-

thần như thế nào? Anh/chị cho biết ý kiến của mình về cách giải thích này?
Freud cho rằng 4 yếu tố hình thành nên nhân cách của một người là tính đặt định,
tính năng động, tính di truyền, và các lực vô thức. Vậy là đã đủ chưa hay còn
những yếu tố nào anh/chị thấy cần phải nêu ra thêm?
Anh/chị nghĩ sao khi một số người cho rằng phân tâm học của Freud chỉ là một lý
thuyết về sự phát triển dục tính (theory of sexual development)?
Thế nào gọi là các triệu chứng tâm căn (neuroses) theo quan niệm của Freud?
Theo anh/chị thì giấc mơ có phản ảnh được điều gì về đời sống tâm lý của một
người không?
Tại sao liệu pháp phân tâm lại rất chú tâm vào những hành động hay cử chỉ cưỡng
chống của thân chủ trong tiến trình trị liệu? Theo ý anh/chị thì vấn đề này có thật
sự quan trọng như thế không?
Liệu pháp phân tâm có những điểm gì tích cực và tiêu cực?
Những thành phần thân chủ nào là thích hợp cho việc chữa trị bằng liệu pháp phân
tâm?

187

CHƯƠNG 10

TRƯỜNG PHÁI TÂM LÝ CÁ NHÂN
(INDIVIDUAL PSYCHOTHERAPY) (IP)
Trường phái tâm lý cá nhân, còn gọi là trường phái Adlerian, được sáng tạo bởi
chuyên gia tâm lý người Áo, Alfred Adler (1870-1937). Khởi đầu Adler là bác sĩ giải
phẫu mắt rồi sau đó ông chuyển qua lãnh vực thần kinh và tâm lý học. Ông là một thành
viên trong nhóm người nguyên thủy có cùng quan điểm với Sigmund Freud và đã có
thời kỳ làm chủ tịch Hội phân tâm học thành Viên, Áo quốc. Về sau, cùng với những
người nhận ra được một số khía cạnh bất cập trong lý thuyết phân tâm học, Adler bắt đầu
viết những bài phê phán một số khía cạnh trong lý thuyết của phân tâm học mà ông cho
là quá chủ quan về các giai đoạn phát triển dục tính của tuổi trẻ, về hiện tượng mặc cảm
Oedipus và mặc cảm Electra, và về các triệu chứng tâm căn (neuroses)…Từ điểm này,
ông và Freud thường có những tranh luận và thậm chí đã cãi vã nhau để đi đến hậu quả
là ông phải rời khỏi chức vụ chủ tịch Hội.
Như đã nói trong chương 8, Adler và nhóm người ly khai với Freud về sau đã trở
thành nhóm chuyên gia tâm lý gọi là trường phái tâm động (psychodynamic
psychotherapy) như Carl Jung, Karen Horney, Heinz Hartmann, Donald Fairbain, v,
v… Điều quan trọng là nhóm chuyên gia này vẫn luôn đánh giá cao vào tính năng động
của tiến trình phát triển tâm lý theo quan niệm của lý thuyết phân tâm học. Nói rõ hơn,
nhóm này, trong đó có Adler, vẫn tin vào tính sôi động và chuyển biến của các yếu tố
tâm lý, ý nghĩa của các hiện tượng chuyển tâm và chuyển tâm ngược, của giấc mơ, của
những chuyển biến tâm lý qua thời gian, và nhất là tin vào tầm quan trọng của lãnh vực ý
thức trong sinh hoạt tinh thần của con người. Tuy vậy, lý thuyết tâm lý cá nhân của
Adler vẫn có nhiều điểm khác biệt với phân tâm học của Freud.
Trái với cái nhìn có tính khách quan về bản chất con người của phân tâm học, trường
phái tâm lý cá nhân nhìn thấy bản chất con người theo hướng chủ quan. Adler cho
rằng mỗi cá nhân đều có khuynh hướng tự nhiên là muốn chọn lựa và củng cố cho mình
một vị trí trong cuộc sống với tha nhân và xã hội, và có tham vọng hoàn thành tối đa cuộc
sống của mình theo ước muốn. Những đồng nghiệp cùng thời với ông trong nhóm ly
khai, gọi là nhóm tân phân tâm học (neo-Freudians) cũng cho rằng Adler rất có lý khi
nói rằng trong cuộc sống hầu như ai cũng ước mong có được nhiều quyền năng, lợi ích,
188

sự nhận biết và trọng vọng của người khác trong xã hội (1). Nhà tâm động học cải biên
(brief psychodynamic psychotherapy) Erich Fromm cũng nói ông đồng quan điểm với
Adler khi nói về khuynh hướng tự nhiên của mỗi cá nhân là luôn muốn hòa nhập và gắn
liền thân phận của mình với số phận chung của nhân loại (2).
Khoảng một thập niên sau khi rời khỏi hội phân tâm học thành Vienne, Adler cùng
với một số đồng nghiệp khác lập ra những trung tâm nghiên cứu và phát triển các quan
điểm và lập trường của họ về tâm lý trị liệu, và đồng thời cũng thiết lập những trung tâm
cộng đồng tham vấn trẻ em và gia đình dưới sự điều hành của các tâm lý gia trong nhóm.
Do những kết quả thực tiễn trong công việc, các trung tâm này càng ngày càng được bành
trướng tại nhiều nơi. Sau cuộc chiến thế giới thứ 1 thì các trung tâm phục vụ tâm lý trẻ
em và gia đình theo mô hình của trường phái Adlerian hầu như đã có mặt trên gần 20
quốc gia ở Âu Châu. Sau khi Đức quốc xã chiếm nước Áo vào năm 1934 thì Adler chạy
sang Hoa Kỳ và từ đó ông làm việc cho Đại học Y khoa Long Island tại tiểu bang New
York. Trong thời gian này Adler đã viết thêm nhiều bài vở và tổ chức những buổi thuyết
giảng để phổ biến quan điểm của trường phái tâm lý cá nhân mà ông đã sáng tác và
nghiên cứu trong nhiều năm qua.
Cách tốt nhất để hiểu rõ quan điểm và lập trường của trường phái tâm lý cá nhân là
chúng ta hãy so sánh một số quan điểm khác biệt dưới đây giữa Adler và Freud:
1. Bản chất con người
Freud quan sát và phân tích bản chất con người qua một lăng kính khách quan, nghĩa
là đặt cái nhìn từ bên ngoài vào cái tôi chủ thể của mình. Trước hết, Freud cho rằng mỗi
cá nhân đều phải thủ đắc một sự đặt định (determinism) về các yếu tố di truyền và bẩm
sinh, tức là cái phần nguyên thủy then chốt có sẵn mà cá nhân phải nhận lấy khi sinh ra
đời, cá nhân không thể có sự lựa chọn gì hơn; và do đó mọi sự hình thành và phát triển
nhân cách về sau của cá nhân, ít nhiều, đều có liên hệ nhân quả với những yếu tố đã được
áp đặt này.
Thứ đến, sinh hoạt tinh thần của mỗi cá nhân được hình thành theo dạng thức của ba
tầng cấu trúc. Cấu trúc to lớn và quan trọng nhất là lãnh vực vô thức và tiềm thức, là nơi
đồn trú của cấu trúc Dị ngã (the Id), bao gồm các nhu cầu bức thiết của bản năng và các
động lực tâm lý tiềm ẩn (thường là xấu). Freud cho rằng các nhu cầu bản năng này là
động lực chính thúc đẩy và can thiệp vào hầu hết các sinh hoạt trong sự sống của mỗi cá
nhân. Bên cạnh đó là lãnh vực ý thức, là phạm vi của cấu trúc Thực ngã (the Ego) nhỏ bé
nhưng có khả năng nhận biết và nối kết với thực tại thế giới bên ngoài. Với quan niệm
189

như thế, Freud quả quyết rằng những yếu tố tâm lý sinh hoạt bên trong, hay gọi là nội
tâm (intrapsychic) là phần to lớn và quan trọng, thường khống chế lên nhiều khía cạnh
trong đời sống hằng ngày của mỗi cá nhân.
Nhưng Adler lại cho rằng cần phải nhìn thấy bản chất của mỗi con người trên một
bình điện tổng thể (holism) chứ không thể nhìn theo lối tách rời ra từng phần như thế.
Mọi sinh hoạt của tinh thần và thể chất (ký ức, cảm xúc, hành vi ăn ngủ, đi đứng…) là
thể hiện cho một cái tôi toàn bộ. Nói cách khác, không nên hiểu cá nhân một cách phiến
diện qua những nhu cầu bản năng riêng tư, mà phải hiểu cá nhân như một con người
trong bối cảnh của xã hội, luôn có tính liên đới và tương tác với đồng loại của mình.
Trong cuộc sống, mỗi con người đều có ý hướng kết nối với tha nhân, và đều có lòng
mong ước cũng như trách nhiệm dẫn dắt cuộc sống của mình tiến đến một vị trí trong
cộng đồng xã hội. Ông khẳng định rằng bản chất bẩm sinh của mỗi con người đều có cái
thuộc tính xã hội, luôn tự xem mình là một phần tử của xã hội, vì thế nó khiến con người
luôn có sự quan tâm đến xã hội (social interest). Mọi hành vi của cá nhân đều có tính giao
thoa và tương hỗ với môi trường xã hội vì khi con người vừa sinh ra là đã nằm trong
khuôn khổ sinh hoạt của gia đình và xã hội rồi.
Về mặt phân tích những yếu tố tâm lý, Adler cũng có những nhận định khác biệt với
Freud về các ý niệm vô thức, ý thức, tinh thần và thể chất, tính tranh chấp của các lực
tâm lý. Ông cho rằng vô thức không phải là một cấu trúc to lớn khống chế hành vi cá
nhân trên nhiều mặt như phân tâm học đã nói. Ngược lại, ông tin vào tính sinh động của
phần sinh hoạt ý thức là phần có khả năng dẫn dắt cá nhân đi vào thực tại của cuộc sống.
Vô thức, đối với trường phái Adleian, chỉ là những gì đang còn mù mờ, không thể hay
chưa được hiểu, và ý thức là phần thể hiện đầy đủ tính hiểu biết và lòng ham muốn hoà
nhập với thực tại.
Ngoài ra, Adler cho rằng tính tranh chấp của các lực tâm lý trong nội tâm không tự nó
nổi lên một cách tự động như Freud mô tả, nhưng nó là những cảm xúc thường chỉ khởi
phát khi có sự tranh chấp, đối mặt nào đó giữa bản thân với thực tại bên ngoài. Nói khác
hơn, khi có một sự tác động từ bên ngoài, nghĩa là khi cá nhân rơi vào một trạng thái
lưỡng lự, bí lối, hay một tình huống “tiến thoái lưỡng nan” trong ý định thực hiện một
điều gì thì chính vào lúc đó những cảm giác, ý tưởng chống đối, tranh chấp mới xảy ra
trong tâm trí.
Freud nhấn mạnh đến tầm quan trọng của những nhu cầu tính dục trong tuổi thơ, hiện
tượng mặc cảm Oedipus (đứa trẻ trai có khuynh hướng thích mẹ và ganh tị với cha) và
190