Tải bản đầy đủ
Phương pháp và kỹ thuật trị liệu

Phương pháp và kỹ thuật trị liệu

Tải bản đầy đủ

nghe và ghi chú những điểm cần thiết chứ tuyệt đối không có thái độ phê phán hay thành
kiến gì. Nhưng dù không có hành động đối chất trực tiếp, những khi thấy cần thiết nhà trị
liệu có thể có những nhắc nhở hay gợi ý để thân chủ có thể nhớ lại được những ký ức đã
bị lãng quên hay nói trở lại những điểm có thể họ đã cố tình bỏ qua.
Trong giai đoạn tiên khởi này, thời gian thường cho phép kéo dài từ 3 đến 6 tháng,
nhà trị liệu cần tìm hiểu được càng nhiều càng tốt các tình huống và những khó khăn
trong quá khứ và hiện tại, các chấn thương, ẩn ức, những giấc mơ, ước muốn, khát vọng,
những gì đã làm được hay không hoặc chưa làm được, kể cả những tình cảm, định kiến,
tính chất của các mối liên hệ với những người thân thuộc và tha nhân, và những gì có thể
được phỏng đoán là nguyên nhân của tình trạng hiện tại đang xảy ra cho thân chủ. Nhà trị
liệu cần nhận thức rằng mọi điều thân chủ nói ra hay có cử chỉ, thái độ đều hàm chứa
những ý nghĩa nào đó. Đặc biệt nhà trị liệu cần chú ý đến những hiện tượng gọi là cưỡng
chống (resistance), chuyên tâm (transference), và chuyên tâm ngược (countertransference).
Cưỡng chống là hiện tượng biểu hiện thái độ hay hành vi không đồng ý, miễn cưỡng
hay tiêu cực của thân chủ trong tiến trình trị liệu. Có nhiều hình thức cưỡng chống.
Chẳng hạn, những hành vi không chịu nói, không nói đầy đủ hoặc cố tình bỏ qua về một
sự kiện mà nhà trị liệu yêu cầu nói ra, hay ngược lại cố nhấn mạnh lui tới một vấn đề gì
đó trong các phiên trị liệu mà không cần thiết cho cuộc đàm đạo. Cưỡng chống cũng có
thể biểu hiện bằng thái độ là mặc dù thân chủ vẫn làm theo yêu cầu của nhà trị liệu,
nhưng với một tính cách miễn cưỡng, không thể hiện tính độc lập, tự chủ. Ngay cả việc
thân chủ thường bỏ hẹn hay thường trễ hẹn cũng được xem là một hiện tượng cưỡng
chống. Khác với quan niệm của các trường phái khác, liệu pháp phân tâm đặt các hành vi
và thái độ này lên hàng quan trọng, rất đáng để nhà trị liệu quan tâm vì chúng có thê
nhiều ít biêu hiện một số chất liệu nào đó đang bị dồn nén trong nội tâm của thân chủ.
Nhà trị liệu không bao giờ rời bỏ trách nhiệm giúp cho thân chủ thấy rõ mọi khía cạnh,
tích cực và tiêu cực, trong thái độ và hành vi của anh/cô ta.
Cũng cần phân biệt sự khác nhau giữa hiện tượng cưỡng chống và cơ chế tự vệ (Ego
defense mechanism). Cưỡng chống là một thái độ hay hành vi có chủ đích và ý thức,
nhưng thường rời rạc, chỉ xảy ra khi cá nhân không muốn thỏa mãn hay làm theo những
yêu cầu của nhà phân tâm trong tiến trình trị liệu mà thôi. Ngược lại, cơ chế tự vệ là một
hiện tượng tâm lý cố định có sẵn trong nhân cách của cá nhân, luôn có tính cách định
kiến, tự động, khuôn mẫu, và thường lặp đi lặp lại.

178

Sự cưỡng chống có thể có liên quan đến những ý tưởng, ký ức, cảm xúc nào đó mà
thân chủ muốn ngăn trở, muốn giữ nguyên trạng, không cho phép chúng thoát ra ngoài để
khỏi phải khỏi phải lo lắng, khỏi có những nguy cơ bị phát hiện và bị đối chất. Nhưng
hiện tượng cưỡng chống có thể làm cho công việc trị liệu trở thành ngưng đọng hay thất
bại nếu nhà trị liệu không chú ý để phát hiện được và không đặt thành vấn đề để thân chủ
ý thức và trực diện với nó, và để cùng nhau giải quyết.
Chuyển tâm (còn gọi là Sự chuyển di) là hiện tượng thân chủ đem cái định kiến về
một tình cảm xưa cũ nào đó của mình tới cho nhà trị liệu. Nói cụ thể hơn, thân chủ đột
nhiên cảm thấy có tình cảm, thương hoặc ghét, nhà trị liệu vì hình ảnh của nhà trị liệu
làm gợi lại hình ảnh của nhân vật nào đó trong quá khứ đã tạo cho thân chủ có tình cảm
như thế. Chẳng hạn, dáng điệu và thái độ cư xử ân cần của nhà trị liệu làm sống lại tình
thương yêu bao la của người mẹ quá cố đã dành cho thân chủ trước đây. Hiện tượng
chuyển tâm này khiến thân chủ giờ đây cảm thấy có sự gắn bó, thích thú trong quan hệ
với nhà trị liệu. Nhà trị liệu cần nhanh nhẹn nhìn thấy dấu hiệu của hiện tượng chuyên
tâm đê “khơi thông”, nghĩa là tìm hiểu, khám phá các yếu tố tâm lý vô thức kể từ thời
thơ ấu của thân chủ, giúp cho thân chủ nhận biết để cho mối quan hệ không định kiến
trong hiện tại giữa thân chủ với nhà trị liệu luôn được tốt đẹp.
Nhưng hiện tượng chuyển tâm thường thể hiện trên hai khía cạnh, tích cực và tiêu
cực. Chuyên tâm tích cực là khi thân chủ có tình cảm và lòng ao ước được thương yêu,
được nhà trị liệu đối xử như ý mình mong đợi. Như trong trường hợp vừa nêu trên, nếu
những tình cảm xưa cũ mà thân chủ chuyển đến cho nhà trị liệu không nằm trong các
dạng thức quá vồn vã, bám dính, bất bình thường và bệnh hoạn, thì chính hiện tượng tình
cảm này sẽ tạo ra nhiều điểm tích cực và thuận lợi cho công việc trị liệu. Ngược lại,
Chuyên tâm tiêu cực được biểu hiện như là sự sống lại và chuyển di tới nhà trị liệu những
cảm xúc mang tính chất hoảng sợ, hờn giận, ghét bỏ, ác cảm… mà thân chủ đã từng trải
nghiệm trong quá trình khôn lớn. Chẳng hạn, thân chủ đột nhiên cảm thấy hoảng sợ và
ghét bỏ nhà trị liệu vì khuôn mặt và thái độ của ông ta làm gợi lại hình ảnh ông thầy giáo
khắc nghiệt đã từng la mắng trừng phạt thân chủ trong thời thơ ấu khi thân chủ mới học
lớp vỡ lòng.
Liệu pháp phân tâm xem cả hai hiện tượng chuyển tâm tích cực và tiêu cực đều có thể
là cơ hội thuận lợi, hoặc ngược lại là chướng ngại đáng kể cho tiến trình trị liệu. Nó sẽ
thuận lợi khi nhà trị liệu biết dùng sự chuyển tâm tình cảm của thân chủ đề tìm kiếm đầy
đủ sự hợp tác trong việc khơi thông và diễn dịch các yếu tố thuộc về mối quan hệ, tình
cảm, ý tưởng, ký ức và chấn thương xưa cũ mà thân chủ đã quên lãng hay từng giấu kín,
và từ đó tiến trình trị liệu sẽ diễn biến theo chiều hướng thuận lợi. Ngược lại, khi sự
179

chuyển tâm trở nên đông cứng và bám chặt, không giải tỏa được các nét ngăn trở tiêu
cực, thì biện pháp tốt nhất là nhà trị liệu nên quyết định hội ý với đồng nghiệp hoặc
chuyển thân chủ qua cho một chuyên viên khác.
Chuyển tâm ngược (còn gọi là Chuyển di ngược) là hiện tượng mà nhà trị liệu đem
cái định kiến tình cảm xưa cũ của mình trao cho thân chủ. Dù cho các chuyên viên tâm lý
trị liệu thường được huấn luyện đầy đủ các kỹ năng tự chế ngự, điều hành tình cảm và
ứng xử của mình trong công việc tham vấn và tâm lý trị liệu, nhưng đã là con người thì
không có nghĩa là trong mọi trường hợp ai cũng đều phải một mực có những cư xử đúng
như ý muốn. Giống như thân chủ, nhà trị liệu cũng rất có thể có những cảm nhận và cảm
xúc không cưỡng lại được dưới hình thức chuyển tâm tích cực hay tiêu cực đối với đối
tượng mình đang tiếp xúc. Trong những trường hợp như thế, nhà trị liệu cần trực tiếp bàn
luận với đồng nghiệp hay cấp trên để có những giải quyết thích hợp. Nếu hiện tượng
chuyển tâm ngược không giải quyết được thì phải chuyển giao thân chủ qua chuyên viên
trị liệu khác.
3.2. Giai đoạn làm sáng tỏ
Giai đoạn này sẽ bắt đầu sau khi đã thu thập và hiểu được những thông tin về quá
trình sinh hoạt tinh thần, những nhu cầu, ý tưởng, chấn thương, cảm xúc, ký ức đan kết
với nhau thành một chuỗi có liên hệ nhân quả trong các phần vô thức và ý thức của thân
chủ từ những quá khứ xa xôi cho đến hiện tại. Nếu có một số vấn đề còn mù mờ, chưa
được hiểu biết rốt ráo, thì vào lúc này nhà trị liệu cần phải khơi lại, đem ra bàn thảo lui
tới để nhận thức có thêm sự đúng đắn và ý nghĩa. Đây là giai đoạn kết hợp thật sự giữa
đối chất và làm sáng tỏ. Nhà trị liệu cần đặt ra nhiều câu hỏi và sau đó thảo luận với thân
chủ để hiểu được những gì đang còn khúc mắc. Chẳng hạn, nhà trị liệu cần chú ý đến
những hiện tượng mà Freud gọi là lỡ lời hay trượt lời (slip of the tongue) vì chúng rất có
thể có một ý nghĩa nào đó trong phần sinh hoạt vô thức của thân chủ. Phân tâm học cho
rằng hiện tượng này là vô ý nói hay viết ra một chữ hay một lời, mà nó tượng trưng hay
có ý nghĩa gì đó từ trong vô thức của cá nhân.
Các vấn đề nhỏ lớn có liên quan đến các hiện tượng cưỡng chống và chuyển tâm
cũng được tiếp tục bàn thảo và cần làm sáng tỏ trong giai đoạn này. Liệu pháp phân tâm
đặt tầm quan trọng vào những hiện tượng này trong công việc chữa trị cho thân chủ, vì
cho rằng mọi hành vi cố ý hay vô ý đều luôn luôn có những mấu chốt liên hệ. Làm sáng
tỏ hiện tượng cưỡng chống sẽ làm giảm khả năng đề phòng hay chối bỏ và đồng thời làm
gia tăng các cơ hội hợp tác của thân chủ trong trị liệu. Ví dụ, để hiểu được thân chủ có
thái độ như thế nào, thật tình cởi mở hay còn tránh né đối với cách trị liệu phân tâm, nhà
180

trị liệu cũng cần thăm dò, yêu cầu thân chủ giải thích về các hành vi của mình, chẳng hạn
như thường trễ hẹn, hay thái độ thường muốn ngồi nán lại trong các phiên gặp, v, v, …
Làm sáng tỏ các hiện tượng chuyển tâm sẽ giúp thân chủ phân biệt được những gì
thuộc về tưởng tượng với những gì là thực tế trong hiện tại, và làm thân chủ thấy rõ
những nhu cầu vô thức bị đè nén, như những ước muốn, mơ tưởng thiếu thực tế và khó
chấp nhận không từng dám hé lộ trong thời thơ ấu của thân chủ. Như vậy, nếu có hiện
tượng chuyển tâm tình cảm của thân chủ, nhà trị liệu phải nhanh chóng phát hiện và công
khai đặt vấn đề với thân chủ để tìm hiểu và làm sáng tỏ cho thân chủ có sự nhận thức
đúng đắn. Ví dụ, nhờ công khai chất vấn thái độ ác cảm, nghi ngờ, và né tránh mỗi khi
thân chủ làm việc với nhà trị liệu mà rốt cuộc thân chủ đã tiết lộ một chấn thương từng
được giấu kín từ xa xưa khi thân chủ bị ức hiếp tình dục bởi một người anh họ trông
không khác gì nhà trị liệu.
3.3. Giai đoạn giải thích
Sau khi dữ kiện về thân chủ đã được đầy đủ và có thể tạm sắp xếp chúng thành
một chuỗi liên tục, một khuôn mẫu để có thể đưa ra những phỏng đoán tổng quát về các
yếu tố sinh hoạt tinh thần và các nét đặc thù của cá tính đã đưa đến các triệu chứng tâm
thần tâm lý hiện tại, nhà trị liệu vào lúc này bắt đầu công việc diễn dịch và giải thích.
Công việc này bao gồm giải thích cho thân chủ hiểu được ý nghĩa của những sự kiện vô
thức, như những cảm xúc, ký ức và giấc mơ, và tính liên hệ của chúng đối với hành vi và
nhân cách trong hiện tại của thân chủ. Nói cách khác, nhà trị liệu nhận diện, làm sáng tỏ
và cắt nghĩa tại sao những gì đã diễn biến trong cuộc sống nội tâm của thân chủ chính là
những nguyên nhân cho những khó khăn trong sinh hoạt hiện tại của anh/cô ta. Điều
quan trọng cần lưu ý là trước khi quyết định bắt đầu giai đoạn giải thích, nhà trị liệu phải
chắc chắn rằng đây là thời điểm mà thân chủ mình sẽ sẵn sàng lắng nghe, dù có điều gì
làm thân chủ cảm thấy khó nghe, trái ý, hay xấu hổ… nhưng rõ ràng thân chủ vẫn có khả
năng chịu đựng và tiếp nhận.
Để giảm thiểu không khí căng thẳng, nhà trị liệu nên bắt đầu bằng cách giải thích
những vấn đề có tính cách chung chung trước. Đầu tiên nên nói về lợi ích và ý nghĩa của
phương pháp liên tưởng tự do, về vấn đề thuộc về những tác động của phần sinh hoạt vô
thức, về ý nghĩa của hiện tượng chuyển tâm, về ý nghĩa của các giấc mơ và những nỗi sợ
hãi… Chẳng hạn, giải thích cho thân chủ hiểu tầm quan trọng của giấc mơ theo quan
niệm của liệu pháp phân tâm. Giấc mơ là một hiện tượng hết sức bình thường, nó xảy ra
trong mỗi giấc ngủ của mọi người ở mọi lứa tuổi, và nó thường mang tính cách hỗn tạp,
không thứ lớp, mang tính hư thực, lẫn lộn về thời gian và không gian, và thường không
181

thể hoặc rất khó cắt nghĩa lý do của nó. Người ta thường quan niệm hiện tượng giấc mơ
theo lối mê tín dị đoan, tin rằng nó như là một điềm báo về một sự kiện gì đó. Nhưng đối
với nhà trị liệu phân tâm thì giấc mơ luôn hàm chứa những nội dung với những chất liệu
súc tích và hỗn độn, biểu hiện những hình ảnh, cảm xúc, nhu cầu và động cơ trong nội
tâm của một cá nhân. Do đó, muốn cho thân chủ hiểu được vô thức là gì và tầm quan
trọng trong sự tác động của nó trong mọi sinh hoạt thường nhật, nhà trị liệu cần khuyến
khích và thảo luận đầy đủ với thân chủ về những giấc mơ mà anh/cô ta đã trải nghiệm.
Freud cho rằng sinh hoạt của tâm trí không bao giờ có sự ngơi nghỉ, nhưng tầm
mức hoạt động của nó mỗi lúc một khác nhau. Khi đang ngủ thì những gì bị dồn nén
trong nội tâm thường hiện ra vì lúc ấy các cơ chế tự vệ của phần ý thức hoàn toàn vắng
mặt trong tâm trí người ngủ. Các chất liệu bị dồn nén đó có thể là những ước muốn bắt
nguồn từ tính dục của tuổi ấu thơ, những hình ảnh đã chứng kiến, những ký ức xa xôi,
những nỗi sợ hãi, những xung lực thuộc về tính tham vọng, hiếu chiến, những ấn tượng,
cảm xúc thương yêu hoặc ganh ghét, uất hận… pha trộn lại với nhau, hoặc bị bóp méo,
ngụy trang để hiện ra thành những hình ảnh lẫn lộn, kỳ lạ và khó hiểu (6).
Phân tâm học chia giấc mơ ra làm hai loại, một loại giấc mơ có những nội dung rõ
ràng, trực tiếp và hiển nhiên, như nằm mơ hay ác mộng về một vấn đề đã gặp hôm trước,
ví dụ một tai nạn, một điều gì đang lo nghĩ, một cảm xúc mạnh…Những hiện tượng giấc
mơ loại này là thông thường và ai cũng tự hiểu được. Loại thứ hai là loại giấc mơ có nội
dung tiềm ẩn và hỗn tạp, lẫn lộn. Freud quan tâm chú ý vào hiện tượng giấc mơ này vì
nó giúp cho sự hiểu biết được các chất liệu chìm ẩn trong phần vô thức của thân chủ. Vì
vậy mà ông đã có lời tuyên bố rằng “Giấc mơ là con đường hoàng kim dẫn đến cõi vô
thức” (7). Nếu những nội dung tiềm ẩn này có cơ hội được khơi dậy, phân tích và làm
sáng tỏ thì việc làm này sẽ giúp cho thân chủ có cơ hội tháo gỡ những gì đã từng bị dồn
nén, đẩy chúng ra khỏi ý thức và cố quên đi. Hiểu được tính liên hệ giữa những chất liệu
này với những sự kiện xảy ra trong hiện tại và lý giải được ý nghĩa của các triệu chứng
đang có của thân chủ là công việc then chốt của nhà phân tâm.
3.4. Giai đoạn phối hợp hoá giải
Giai đoạn cuối cùng của tiến trình trị liệu là giúp thân chủ phát triển được khả
năng nhìn thấy được tính cách sinh hoạt của các yếu tố tinh thần của mình trong suốt quá
trình khôn lớn. Giúp thân chủ biết đào sâu vào những chất liệu từng được nung nấu trong
phần vô thức, biết kết nối và hiểu được tính liên hệ có ý nghĩa của các chất liệu đó đối
với hành vi hiện tại, và biết làm sao để thay đổi tính cách sinh hoạt tinh thần của mình
cho phù hợp với mong muốn của thực tại.
182

Tóm lại, nhà phân tâm trị liệu không chỉ có khả năng phân tích các yếu tố tối sáng
đan kết trong chuỗi sinh hoạt tâm lý của thân chủ, mà trọng tâm công việc là rốt cuộc
phải biến nó thành khả năng của chính thân chủ, nghĩa là thông qua tiến trình trị liệu,
thân chủ giờ đây phải đạt được khả năng nội thị (insightfulness), tức là tự thấy được nội
tâm mình, thấy rõ bản chất của dòng sinh hoạt tâm lý bên trong của mình, tự mình biết
làm sao để điều hòa các động lực tâm lý đang thôi thúc để có biện pháp thay đổi và hoá
giải, vượt qua các triệu chứng của mình. Điều lưu ý là dù trong giai đoạn cuối, nhà trị liệu
vẫn phải luôn luôn sử dụng các kỹ thuật đã áp dụng trong các giai đoạn trên, như đối
chất, làm sáng tỏ và giải thích mỗi khi thấy cần thiết phải làm như thế. Chẳng hạn, nhà
phân tâm cần giải thích lui tới nhiều lần để thân chủ hiểu rõ và chấp nhận có sự liên quan
giữa biến cố, theo lời kể của thân chủ, đã gây sự sợ hãi cho thân chủ vào lúc 5 tuổi là có
liên hệ đến chứng sợ đám đông (social phobia) hiện nay của thân chủ.
4. Phê bình liệu pháp phân tâm
Không ai có thể phủ nhận được giá trị to lớn của học thuyết phân tâm học trong cái
nhìn có tính khách quan về bản chất con người, trên những phương diện phân tích và mổ
xẻ các hiện tượng tâm lý, bao gồm việc phân chia các tầng cấu trúc vô thức, ý thức và
tiềm thức, và quan điểm về các lực tâm lý sinh động thuộc về các nhu cầu, xung lực và
thôi thúc của bản năng, cùng với quan điểm về những hiện tượng gọi là cơ chế tự vệ.
Trên phương diện lịch sử, phân tâm học đã mở đầu cho một phương pháp phân tích và
giải thích khúc chiết về các yếu tố phức tạp trong dòng sinh hoạt tâm lý và sự hình thành
nhân cách cá nhân cùng với những đặc tính cá biệt của mỗi con người. Điểm đặc biệt là
dù cho những ý niệm được Freud nêu lên ở trên có tính cách trừu tượng, khó có thể kiểm
chứng và đo lường theo thực nghiệm khoa học, nhưng cũng rất có ý nghĩa và không ai có
thể bác bỏ được.
Phân tâm học xuất hiện với sự hoan hô và ủng hộ của hầu như toàn thể những nhà trí
thức đương thời, nhưng đồng thời cũng là một sự kinh ngạc cho nhiều người vì Freud đã
đưa ra một số quan điểm có tính cách quá quyết đoán và không thể kiểm chứng được về
sự khống chế của các khoái cảm thuộc về tính dục trong tiến trình phát triển của đứa trẻ.
Nói rộng ra, Freud cho rằng trong cuộc sống, hành vi của mỗi cá nhân đều luôn có sự
thúc đẩy, nhiều hay ít, công khai hay che giấu, bởi các động lực tâm lý thuộc về tính dục,
mà cội nguồn của chúng là từ một vị trí tự nhiên và bẩm sinh mà ông đặt tên là nguồn
dục năng (libido).
Đây chính là điều mà sau thời kỳ gọi là hoàn kim của phân tâm học với sự hợp tác của
nhiều chuyên gia trên thế giới, một số tông đồ của Freud đã dần dần ly khai với ông để
183

lập ra những trường phái riêng, vì những người này cho rằng phân tâm học đã quá chú
tâm vào tầm quan trọng của sự phát triển tính dục (sexual development), cho đó là động
lực chính thúc đẩy cho cuộc sống. Nhất là phân tâm học đưa ra những ý niệm mơ hồ,
không có bằng chứng gì rõ ràng, như mặc cảm Oedipus và mặc cảm Electra thường xuất
hiện trong giai đoạn được gọi là thời kỳ dương vật (phallic stage) của những đứa trẻ.
Tuy nhiên, không thể nói rằng Freud đã không có lý khi chú trọng vào bản năng tính
dục như là một động lực mạnh mẽ luôn thúc đẩy đà sống của con người. Nếu không phải
như thế thì tại sao con người là sinh vật có khả năng làm tình bất cứ lúc nào chứ không
phải đợi đến mùa giao hợp (mating season) mới thực hiện được như nhiều sinh vật khác?
Hơn nữa, nếu tâm trí con người không thường bị ám ảnh với những vấn đề giới tính thì
tại sao hầu hết mọi chuyên cười tiếu lâm trong dân gian thường có ít nhất 85% là những
câu chuyện liên quan đến tình dục? Ngoài ra, rõ ràng tình dục vẫn là cái thường xuất hiện
trong các giấc mơ của con người như là những ẩn ức, những cấm kỵ từng bị đè nén trong
bản năng.
Về mặt tâm bệnh, phân tâm học chỉ đặc biệt chú trọng vào những hiện tượng gọi là
tâm căn (psychoneurotic). Tâm căn là hiện tượng làm phát sinh các loại bệnh như, bệnh
ngất xỉu (hysteria), là một loại rối loạn tâm lý được thể hiện dưới hình thức của sự rối
loạn và tê liệt cơ thể (conversion), và các dạng bệnh thuộc về lo lắng, hoảng hốt
(anxiety), sợ hãi (phobia), ám ảnh cưỡng bức (obsessive-compulsive neurosis), các dạng
bệnh trầm cảm (depressive disorders)…
Freud quan niệm rằng các loại bệnh trên phần lớn đều có căn nguyên từ các yếu tố
tâm lý từng bị đè nén, như những ẩn ức, chấn thương, cảm xúc, ước muốn, mơ mộng,
những kinh nghiệm khiến cá nhân cảm thấy đau đớn, xấu hổ, hay không thể chấp nhận
được. Dưới sự dồn nén và chế ngự của ý thức, chúng vẫn luôn tìm mọi cách để xuất hiện
ra bên ngoài, và khi không làm được bằng cách này thì chúng chuyển biến để thể hiện ra
bằng cách khác. Đây là cách mà Freud dùng để giải thích những tình trạng bị tê liệt, hư
hỏng của cơ thể mà không xác định được nguyên nhân. Ví dụ, cảm xúc sợ hãi và kinh
hoàng triền miên của một người lính đã từng chứng kiến các trận giao tranh ác liệt ngoài
mặt trận trước đây có thể là nguyên nhân khiến giờ này đôi mắt anh ta đột nhiên bị mù
nếu như không phải vì một tai nạn nào cả. Một ví dụ khác, một cô gái bị chứng rối loạn
tình dục vì hậu quả của sự đè nén lâu dài những ký ức đau đớn và xấu hổ khi bị người
anh rể ức hiếp tình dục lúc cô mới vừa chớm tuổi dậy thì.
Tuy nhiên, dù lý luận của Freud về nguyên nhân gây ra các rối nhiễu tâm lý tâm thần
cho ta cái nhìn có ý nghĩa và rộng rãi về rất nhiều trường hợp bất thường, chệch hướng,
184