Tải bản đầy đủ
d. Cơ chế tự vệ (Ego defense mechanism)

d. Cơ chế tự vệ (Ego defense mechanism)

Tải bản đầy đủ

Đè nén (repression): Hiện tượng này được Freud xem như gốc gác, mấu
chốt cho các hiện tượng khác. Đè nén là cố chận lại, dìm xuống hay đẩy ra khỏi
tâm khảm những cảm xúc, ý tưởng nào làm cho cá nhân cảm thấy bị đe dọa, đau
đớn, xấu hỗ, v, v…
Chối bỏ (denial): Cá nhân thường có khuynh hướng phủ nhận hay không
muốn tin vào sự thật, vào những điều gì làm mình lo lắng, bối rối hay đau khổ.
Chẳng hạn, cá nhân không muốn tin ngay rằng mình bị một bạo bệnh dù cuộc trắc
nghiệm y tế sâu rộng vừa qua tại bệnh viện đã xác nhận.
Mơ tưởng (fantasy): Khi không thể hành động để thỏa mãn các ham muốn,
hiện tượng mơ ước (tưởng tượng, nằm mơ, nhớ lại…) thường xảy ra để bù đắp cho
tâm lý đang bị hụt hẫng của cá nhân. Ví dụ, những lúc đói kém thường nhớ lại
những buổi ăn sung túc, ngon miệng.
Phóng chiếu (projection): Gán cho người khác những ý tưởng, ước muốn
xấu hay sai trái mà chính mình đang có để tạo cho mình cảm giác an tâm hơn.
Hợp lý hoá (rationalization): Có khuynh hướng biện bạch, giải thích sao
cho hợp lý về những hành vi sai trái, xấu xa, hoặc bị tổn thương danh dự và uy tín
mà mình đã thực hiện để giảm thiểu cảm giác lo lắng, bối rối và để được người
ngoài chấp nhận.
Dời chỗ (displacement): Đây là hiện tượng “giận cá chém thớt”, chuyển
cảm xúc của mình từ đối tượng mà mình sợ hay không thể làm gì được sang đối
tượng khác để cảm thấy vơi đi trạng thái căng thẳng, hay cảm thấy an toàn hơn.
Chẳng hạn, vì bực bội với ông chủ công ty của mình nhưng đã không làm gì được
với ông ấy, nên cá nhân về nhà bắt đầu chửi mắng và đánh đập con cái cho hả cơn
giận.
Thành lập phản ứng (reaction formation): Hành động hoàn toàn trái ngược
với ý tưởng thật sự đang dấu bên trong để khỏi phải đối diện với cảm giác căng
thẳng, lo âu. Chẳng hạn, cá nhân muốn che dấu tính ganh tị đối với những ai trong
công ty có khả năng chuyên môn cao hơn mình, nhưng ngoài mặt vẫn tỏ ra vui vẻ,
tôn trọng họ.
Đồng hoá (identification): Trái với hiện tượng phóng chiếu, đồng hoá là
hiện tượng thừa nhận, thỏa hiệp hay hùa theo với những tiêu chuẩn giá trị, ý nghĩ
159

hay hành động của người mà trước đây mình cho là sai trái, để cảm thấy an tâm,
giảm bớt cảm giác bị đe dọa hoặc để giữ được mạng sống và hưởng lợi. Ví dụ,
những những tù nhân Do thái, gọi là “capos” đã thỏa hiệp với chính sách tàn ác
của đối phương để hành hạ những người tù Do thái khác đồng chủng với mình
trong các trại tập trung thời phát xít Đức.
Thoái lui (regression) : Khuynh hướng quay lại thời kỳ trẻ thơ để tránh
cảm giác căng thẳng, lo âu, hoặc khỏi phải gánh chịu bổn phận, trách nhiệm nào
đó. Chẳng hạn, khi phải đối mặt với những vấn đề quá căng thẳng, khó khăn, hay
bị một tai nạn, một căn bệnh nặng, cá nhân thường có hành vi, khuynh hướng ứng
xử như mình còn ở trong thời kỳ trẻ dại để giảm thiểu cảm giác lo âu, bối rối hay
để trốn thoát trách nhiệm.
Bù trừ quá đáng (overcompensation): Cá nhân làm những việc quá đáng,
không thiết thực, không phù hợp với nhiệm vụ, khả năng, vị trí được yêu cầu để có
cảm giác bù trừ cho cái mình đang bị yếu kém. Chẳng hạn, anh giám đốc bệnh
viện cố ngụy trang tình trạng yếu kém về chuyên môn của mình bằng cách luôn cư
xử hết sức khắt khe, gây sự sợ hãi thường trực cho nhân viên để cảm thấy mình
vẫn luôn là người có uy tín và quyền năng.
Thăng hoa (sublimation): Freud cho rằng thăng hoa cũng là hiện tượng có
cội nguồn từ những nhu cầu, khát vọng của bản năng, nhưng hướng phát triển của
nó luôn có sự can thiệp của hai lãnh vực thực ngã và siêu ngã, vì vậy những hành
động của nó thường được biểu hiện phù hợp với những giá trị và lý tưởng của nền
văn hoá và văn minh trong xã hội. Chẳng hạn, một cá nhân bị thất tình có thể trở
thành một nhà tu hành chân chính, hay một thanh niên có tính hiếu chiến có thể trở
thành một nhà thể thao cừ khôi.
Thực ngã là cấu trúc tâm lý có chức năng nhận biết, cân nhắc, hướng dẫn và hòa
giải. Nó được mô tả như là viên trọng tài, là nhân tố làm trung gian cho hai lực tâm lý
thường đối kháng và tranh chấp nhau, đó là những nhu cầu ích kỷ của bản năng và những
nhu cầu cao thượng thuộc về lương tri của cá nhân. Nếu nó ngã theo yêu cầu của bản
năng mù quáng thì nó sẽ bị sự phê phán hay trừng phạt của lương tâm, ví dụ làm cho cá
nhân có cảm giác tội lỗi. Ngược lại, nếu nó chiều theo tiếng gọi của lương tâm thì cá
nhân lại cảm thấy tâm trạng luôn bị căng thẳng với sự kêu đòi, thôi thúc của những nhu
cầu bức thiết cần giải quyết của dị ngã. Vì vậy, cơ chế tự vệ là một phản ứng tâm lý tự
động và tự nhiên, là một phương tiện cần thiết của cấu trúc thực ngã để đời sống tinh thần
160

của cá nhân được thăng bằng và ổn định. Nó là một lối thoát tâm lý để cá nhân cảm thấy
yên tâm, giảm thiểu lo sợ, hay để tự thỏa mãn về mình và sự tồn vong của bản thân.
Phân tâm học cho rằng tất cả các lực tâm lý của ba tầng cấu trúc dị ngã, thực ngã
và siêu ngã đều sinh hoạt trong khuôn khổ của ba lãnh vực: vô thức (the unconscious), ý
thức (the conscious) và tiềm thức (the preconscious).
Vô thức là lãnh vực sinh hoạt rộng lớn, là nơi trú ẩn và chứa đựng các lực
tâm lý có sức mạnh thúc đẩy sự sống của cá nhân trong từng giây phút. Freud xác
quyết rằng hầu hết những hành vi ứng xử hằng ngày của cá nhân đều bị chi phối
bởi các lực tâm lý vô thức. Chẳng hạn, rất nhiều cử chỉ và hành động liên quan
đến việc ăn ngủ, đi đứng, bài tiết, mơ mộng, tưởng tượng, trực giác, phán đoán,
làm việc, di chuyển, quan hệ, yêu ghét, lòng trắc ẩn, giải trí, vui chơi...đều được
thực hiện theo lối phản xạ, chứ không hoàn toàn và luôn luôn do sự can thiệp và
điều khiển của phần ý thức nhận biết. Freud cho rằng lãnh vực vô thức là một môi
trường chứa đựng các lực tâm lý sôi động và phức tạp, là nền tảng chính có ảnh
hưởng to lớn đến việc thúc đẩy và hình thành nên những đặc tính nhân cách về sau
của cá nhân.
Ý thức là khu vực sinh hoạt của các lực tâm lý thuộc về cấu trúc thực ngã
và siêu ngã. Nói cách khác, nó là lãnh vực sinh hoạt liên hệ đến sự đối phó với đời
sống hiện thực trước mắt, với các khả năng nhận biết, cảm nhận, tư duy, lý luận,
lương tri, phán xét và quyết đoán. Phân tâm học cho rằng so với khuôn khổ sinh
hoạt rộng lớn của lãnh vực vô thức, phạm vi sinh hoạt của khu vực ý thức thường
nhỏ hẹp. Có thể tạm so sánh phạm vi sinh hoạt của khu vực ý thức như là một
vùng ánh sáng có giới hạn của cây đèn pin đang rọi vào căn phòng tối tăm và to
lớn của khu vực vô thức.
Tiềm thức là nơi lưu giữ những sự kiện thuộc về ý tưởng, tình cảm, kinh
nghiệm, ký ức, kỷ niệm, chấn thương, những hình ảnh mà trong hiện tại cá nhân
hoặc cố đè nén hoặc không chú ý, hay chưa có cơ hội để liên hệ đến, nhưng chúng
sẽ sẵn sàng xuất hiện trong ý thức khi cá nhân cần gợi chúng ra trong hiện tại.
Tiềm thức là một phần sinh hoạt quan trọng của chức năng ký ức. Có thể so sánh
tiềm thức như là một căn phòng đặt trong căn nhà của ký ức.
Tóm lại, quan điểm của trường phái tâm sinh, mà đại diện là phân tâm học của
Freud cho rằng mọi hoạt động trong cuộc sống của một đời người luôn chịu sự chi phối
và điều khiển của những yếu tố tâm lý phức tạp, nhiêu khê, và sinh động hàm chứa trong
161

khuôn khổ của ba tầng cấu trúc dị ngã, thực ngã và siêu ngã. Ba cấu trúc này tạo nên hiện
trường sinh hoạt tâm lý luôn sôi động, một đời sống tinh thần, hay cụ thể hơn là một
khuôn mẫu nhân cách của cá nhân. Nếu những sự xung đột, tranh chấp, giằng co nhau
giữa ba tầng cấu trúc, trong những giai đoạn nào đó, không tạo ra trạng thái cân bằng và
thỏa đáng được, mà ngược lại, vẫn luôn có sự mâu thuẫn và bế tắc, thì sau đó những hiện
tượng không bình thường, những triệu chứng rối loạn, hay bệnh lý sẽ xuất hiện và phát
triển.
Vì vậy, Freud kết luận rằng một nhân cách lành mạnh phải được hiểu như là
một sự hài hòa và bền vững trong mọi sinh hoạt của ba tầng cấu trúc tâm lý. Phân tâm
học nêu ra cụm từ cái tôi thất bại (ego failure) để nói lên những trường hợp mà chức
năng của thực ngã và siêu ngã của cá nhân quá yếu kém, không đủ sức kiểm soát hay loại
bỏ những khát khao, thôi thúc, đòi hỏi sai trái và cấm kỵ nổi lên từ các xung lực tâm lý
của cấu trúc dị ngã.
Phân tâm học kết luận rằng những biêu hiện bất thường và rối loạn trong hành vi
và ứng xử, hay trầm trọng hơn nữa là những biêu hiện có tính cách bệnh lý về tâm lý tâm
thần thường là do hậu quả của sự yếu kém hay hư hỏng của các chức năng thực ngã và
siêu ngã của cá nhân. Nói cách khác, chức năng thực ngã và siêu ngã của cá nhân đã quá
buông thả với sự lôi kéo của những lực tâm lý xấu của bản năng, như tính bốc đồng,
cuồng nộ, si mê, ác độc, gian trá, hiếp đáp, sân hận, hành động tự hại đến bản thân mình,
hoặc hành động gây tổn thương cho người khác…
4. Quan điểm xã hội
So với các loài vật khác, con người là loại sinh vật độc đáo nhờ có trí tuệ, tư tưởng,
niềm tin, tính sáng tạo, tình cảm, và đặc biệt là khuynh hướng lệ thuộc vào nhau trong
cuộc sống, có khả năng qui tụ thành một tập thể sinh hoạt để cùng nhau tồn tại và phát
triển. Nói cách khác, thuộc tính xã hội là cái yếu tố tâm lý sẵn có tự trong bản chất của
mỗi con người. Nó là nguyên nhân trọng tâm, là yếu tố tâm lý cốt lõi thúc đẩy mọi con
người cùng nhau kiến tạo nên một cuộc sống chung, một nền văn hóa và văn minh độc
đáo mà không có loài vật nào có thể có được. Nói cách khác, không ai sinh ra mà có thể
tự lớn lên và phát triển cho mình một đời sống biệt lập, không cần đến quá trình nuôi
dưỡng, uốn nắn, tập tành, học hỏi từ trong các môi trường, trong các khuôn mẫu quan hệ
có tính tập thể, đầu tiên là gia đình và sau đó là các định chế cộng đồng xã hội bên ngoài.
Không có gia đình và xã hội thì cá nhân sẽ không có tiếng nói, không phát triển được trí
tuệ, tư tưởng, ngôn ngữ, niềm tin, nghệ thuật, phong tục, tập quán, những qui ước, các
chuẩn mực giá trị chung, các nền văn hóa và văn minh...
162

Với nhận định như vậy, các chuyên gia thuộc trường phái xã hội và văn hóa cho rằng
bản thân mỗi người đều là con người của xã hội. Nói khác đi, sự sống của mỗi người, từ
hành vi đến nhân cách đều luôn luôn phải chịu ảnh hưởng và sự tác động to lớn của môi
trường xã hội và nền văn hóa mà người ấy đang sống trong đó. Quan điểm này đã từng
được các nhà xã hội học, khảo cổ học, nhân chủng và dân tộc học nêu ra từ nhiều thế kỷ
trước đây.
Các chuyên gia này thường có lập trường lý luận về con người và thế giới khác với
quan điểm sinh học và quan điểm tâm sinh. Quan điểm xã hội/văn hóa cho rằng có rất
nhiều vấn đề nổi bật lên trong đời sống tập thể xã hội mà đứng trên lập trường của quan
điểm sinh học và tâm sinh thì không thể nào giải thích thỏa đáng được; chẳng hạn vấn đề
tự tư. Các quan điểm định hướng vào những yếu tố thể chất hay tâm lý cá nhân cho rằng
tự tử là vấn đề có liên quan đến tâm thần tâm lý, như bị trầm cảm, rối loạn chức năng
hành xử cơ thể, rối loạn tâm trí, bị đau buồn vì mất mát người thân hay tài sản, v, v...Thế
nhưng quan điểm xã hội/văn hóa lại có câu hỏi rằng làm sao giải thích được khi bằng
chứng từ các thống kê, ở hầu hết các quốc gia, cho thấy cụ thể là số lượng tự tử của
những người theo đạo Tin Lành thường cao hơn người theo Do Thái giáo, hoặc con số tự
tử của nhóm người có trình độ học thức rộng tại các nước phát triển ở phương Tây và
những người sống độc thân nói chung lại thường cao hơn những người có trình độ học
vấn thấp và những cá nhân có gia đình? Tại sao trong các cộng đồng xã hội lại có nhóm
người này khác với nhóm người khác về một số những tính cách bất thường, chệch
hướng, hay bệnh lý trong các cách ứng xử và hành động như thế? (11).
Nhà xã hội học Pháp Emile Durkheim (1858-1917) cho rằng những hành vi của cá
thê thường không phải được quyết định bởi những gì thuộc về sự thúc đẩy của các lực
tâm lý hay sinh lý có tính cách cá thê, mà thực tế chúng thường được định đoạt bởi sự áp
đặt mạnh mẽ không cưỡng lại được, của những khuôn mẫu tương tác, những định chế
rộng lớn, những sức ép thuộc về môi trường xã hội và văn hóa. Đại diện cho những
khuôn mẫu tương tác và định chế này là gia đình, hội hè, phe nhóm, tổ chức, nghề
nghiệp, lòng tin, ý thức hệ, đẳng cấp xã hội... Ít có cá nhân nào đang sống trong đời sống
tập thể mà có thể thoát khỏi những ràng buộc chặt chẽ của luật lệ, văn hóa, chính trị, kinh
tế, tín ngưỡng, nghề nghiệp... Như vậy, để giải thích cho vấn đề tự tử, xem như là một
tình trạng bất thường về tâm lý, của một cá nhân thì phải có cái nhìn sâu rộng, vượt ra
ngoài những yếu tố liên quan đến tính cách cá nhân, nghĩa là phải nhìn thấy được những
tác động ràng buộc không thể nào thoát ra từ các khuôn mẫu và định chế của xã hội/văn
hóa.

163

Mọi sinh hoạt và hành vi của cá nhân, từ công ăn việc làm, mức sống kinh tế, kỹ năng
sáng tạo khoa học kỹ thuật cho đến ý thức hệ tôn giáo, chính trị, tính mê tín dị đoan,
khuynh hướng sống, v, v... luôn luôn chịu ảnh hưởng và những tác động to lớn từ những
điều kiện môi trường và hoàn cảnh đặc trưng của cộng đồng xã hội và nền văn hóa, luật
lệ, các qui ước và đạo đức nơi mình đang sống. Chẳng hạn, thực tế cho thấy một xã hội
có nền kinh tế yếu kém nhưng trong đó lại có nhiều người chỉ thích sống nhàn hạ, rỗi
rãnh và vui chơi, làm ít hưởng nhiều, thì tỷ lệ người bị thất nghiệp chắc chắn phải luôn
luôn ở mức cao. Hoặc một xã hội buông thả, rối loạn và suy đồi, không có kỷ cương về
những tiêu chuẩn đạo đức, cư xử và luật pháp chặt chẽ thì nơi đó sẽ là môi trường phổ
biến cho những tội phạm, tập quán xấu, nghiện ngập, trộm cắp, giết người... (12)
Các chuyên gia xã hội và môi trường thường nói về những khuôn mẫu ứng xư tập
thể. Họ muốn nói rằng thực tế cho thấy luôn luôn có một số đông người trong cùng một
cộng đồng xã hội hay cùng một nền văn hóa thường có những hành vi hay cách ứng xử
giống nhau. Những khuôn mẫu ứng xử tập thể này vẫn mãi tồn tại và mang tính di truyền
trong các cộng đồng xã hội con người, dù mức độ ít nhiều có thay đổi theo từng thời kỳ;
chẳng hạn tính mê tín dị đoan là một hành vi rất dễ lây lan và không bao giờ hoàn toàn
biến mất trong các cộng đồng xã hội, dù cho đến ngày hôm nay nhân loại đã đạt được
một nền văn minh khoa học hiện đại.
Bối cảnh xã hội và nền tảng văn hóa bao hàm một môi trường rộng lớn, trong đó có
các đặc tính thuộc về cấu trúc gia đình, các hệ thống tổ chức điều hành, luật lệ, chính
sách nhà nước, các qui ước, lề thói, tập tục, những tiêu chuẩn giá trị và đạo đức, tầm mức
văn minh, các phản ứng, định kiến và sức ép mang tính tập thể cộng đồng... Xã hội và
văn hóa luôn luôn đóng vai trò quyết định cho sự hình thành và phát triên các yếu tố
thuộc về trí tuệ, kiến thức, ngôn ngữ, tình cảm, tập quán, thói quen, cũng như những bất
ổn, rối loạn, hay bệnh lý tâm thần tâm lý cho cá nhân.
Nhà tâm lý giáo dục trẻ em Vygosky (1896-1934) xem những tác phẩm văn chương,
nghệ thuật, những sinh hoạt diễn biến liên tục trong lịch sử của cộng đồng xã hội như là
những công cụ văn hóa thiết yếu giúp phát triển trí thông minh và tư duy trẻ em (13).
Bronfenbrenner trong tác phẩm “The Ecology of Human Development” (Sinh thái học
về Phát triển của Con người) cũng khẳng định tầm quan trọng có tính cách quyết định của
môi trường xã hội/văn hóa đối với đời sống tinh thần và thể chất chung quanh sự lớn lên
của đứa trẻ (14).
Nhà tâm lý Eric Erickson cho rằng phân tâm học của Freud dù có phân tích khúc
chiết về bản chất và những nhân tố tâm lý, nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót vì ông đã xem
164

nhẹ các tác động và những ảnh hưởng và sức ép vô cùng quan trọng của xã hội trong suốt
cuộc sống của mỗi đời người. Ông đưa ra nhiều chứng minh cho thấy ngay khi đứa trẻ
vừa sinh ra là đã chịu sự tác động của những yếu tố xã hội xuyên qua các mối quan hệ
với những người thân trong gia đình. Với những lý do đó, ông kết luận rằng yếu tố xã hội
cũng quan trọng không kém gì so với các yếu tố bẩm sinh của thể chất và tâm lý trong
quá trình uốn nắn và hình thành các khuôn mẫu nhân cách và cá tánh của cá nhân (15).
Erickson chia các giai đoạn phát triển trong một đời người ra làm 8 phần. Tuổi sơ sinh
(từ 0 đến 1 tuổi), tuổi đi chập chững (1 đến 3) và tuổi ấu thơ (3 đến 6) là ba giai đoạn dù
chưa tiếp xúc trực tiếp với thế giới bên ngoài nhưng vẫn chịu ảnh hưởng của những yếu
tố xã hội xuyên qua các mối quan hệ liên cá nhân trong khung cảnh gia đình và những
người thân thuộc chung quanh. Trong các giai đoạn này, nếu các nhu cầu về thể lý và
cảm xúc của đứa trẻ được bình thường, đồng thời song song với các mối quan hệ liên cá
nhân của cha mẹ và những người thân thuộc luôn ở trong trạng thái bình thường và điều
hoà, không có những biến cố khủng hoảng nào, thì kết quả là đứa trẻ sẽ trở nên một
người có lòng tin, tính tự chủ và độc lập. Ngược lại, không có những điều kiện như thế,
đứa trẻ về sau sẽ trở thành người có tính hồ nghi, cảm giác xấu hổ và mặc cảm.
Đến hai giai đoạn kế tiếp là tuổi đi học (từ 6 đến 12) và tuổi dậy thì (12 đến 18) là
thời gian cá nhân trực tiếp cọ xát, hấp thụ, cũng như chiụ những sức ép trong các môi
trường học đường và các định chế xã hội, đồng thời cá nhân mở rộng các mối quan hệ
với bên ngoài, càng ngày càng nhận dạng và hiểu biết về bản thân, tha nhân và thế giới,
hiểu biết hơn về ý nghĩa cuộc sống và hình thành được hướng đi cho các mục tiêu của
cuộc sống cá nhân. Những khủng hoảng nếu đã có xảy ra trong hai giai đoạn này sẽ khiến
đứa trẻ vị thành niên trở nên kém cỏi trong học hành và trong các kỹ năng ứng xử, lẫn lộn
vai trò và mang mặc cảm thất bại.
Tiếp theo nữa là hai giai đoạn tuổi trưởng thành (từ 18 đến 35) và tuổi trung niên (35
đến 60) là thời gian cá nhân có khuynh hướng gắn bó với các mục tiêu của công việc, các
mối quan hệ mật thiết, mơ ước và cố gắng theo đuổi những thành tựu cho bản thân và gia
đình. Nhưng nếu trong giai đoạn này cá nhân có quá nhiều trải nghiệm khó khăn với công
việc và các mối liên hệ bên ngoài xã hội thì thay vì cảm thấy mình có sự gắn bó với cuộc
sống, cá nhân sẽ cảm thấy mình là người bị ruồng bỏ và cô lập.
Giai đoạn cuối là tuổi cao niên (từ 60 trở đi), là thời gian sẽ cho cá nhân cái cảm nhận
về sự hoàn thành hay thất vọng về cuộc sống của bản thân. Như thế, các ý niệm và cảm
nhận về giá trị, danh dự, tội lỗi, thất vọng, hay hối tiếc của một đời người phần lớn là do
165

kết quả của những trải nghiệm mà xã hội đã mang lại cho cá nhân, chứ không hoàn toàn
là do sự chủ động của các yếu tố bẩm sinh thuộc về thể chất và tâm lý của cá nhân.
Từ những nhận xét như vậy, các chuyên gia tâm lý xã hội/văn hóa cho rằng phần
lớn những hành vi bất thường, những triệu chứng rối loạn và bệnh hoạn của cá nhân
đều có nguyên nhân cội rễ từ những sức ép, lực tác động của bối cảnh xã hội và nền
văn hóa mà cá nhân đó đang sống.
5. Những khái niệm vê tâm bệnh trong y học
Tâm bệnh là thuật ngữ dùng để mô tả tổng quát cho tất cả những trường hợp không
bình thường hay rối loạn trong hành vi của một người; nói rõ hơn, tâm bệnh là các triệu
chứng bệnh lý về tâm lý tâm thần. Thuật ngữ dùng để gọi chung cho mọi trường hợp bình
thường cũng như không bình thường là sức khỏe tâm thần (mental health).
Không cần phải là nhà tâm lý tâm thần, ai cũng có thể nhận thấy một cá nhân nào đó
có vấn đề tâm lý tâm thần nếu: -người ấy đang đứng trần truồng ngoài đường và chửi rủa
suốt ngày; -một người hàng xóm tiết lộ với bạn là họ thường bị nhức đầu vì bị ông bác sĩ
lén bỏ cái dụng cụ điện tử trong đầu; -một bà chị họ dù không nghèo nhưng đi đâu cũng
tìm lượm những đồ phế thải không cần thiết và đem về chất đầy nhà đến nỗi không còn
lối đi; một người bạn lập dị, kỳ cục trong cách ăn mặc, nói năng, và cử chỉ…
Nhưng tâm lý bệnh học không chỉ dừng lại ở những dấu hiệu thường dễ thấy như vậy.
Tâm lý học nhìn thấy vấn đề bất thường trong hành vi và ứng xử của một thân chủ trên
một dãy rộng lớn hơn nhiều so với những trường hợp thường được mô tả trên báo chí,
công luận... Ví dụ: cá tánh dễ hoảng hốt, dễ cáu kỉnh, giận dữ, dễ lo lắng, buồn khổ, hay
một cá tánh khoát lác, kiêu ngạo, tự tôn (narcissistic), tật ăn cắp vặt (kleptomania),
nghiện ngập, nghiện cờ bạc và ngay cả một cá nhân có tật hay giật tóc mình
(trichotillomania), v, v … đều có những vấn đề tâm lý tâm thần bất thường nào đó.
5.1. Định nghĩa
Các chuyên gia tâm lý tâm thần tạm thời đồng ý một số tiêu chuẩn sau đây để xác
định tính cách không bình thường hay bệnh lý của một hành vi:
-Sự chệch hướng: Hành vi cá nhân lạ lùng, hiếm hoi, bất thường, sai lệch,
quá trớn, vượt ra ngoài tiêu chuẩn.

166

-Sự buồn khổ: Cá nhân thường có tâm trạng tiêu cực, dễ cảm xúc, giao
động, lúc nào cũng âu sầu buồn bực, cô đơn, bất mãn... với cuộc sống.
-Sự mất năng lực: Cá nhân bị mất năng lực làm việc, không tự chăm sóc
được bản thân, mất khả năng quan hệ, giao tiếp, mất khả năng điều chỉnh và thích
ứng môi trường, mất khả năng tự chủ...
-Sự nguy hại: Cá nhân có những ý định gây nguy hiểm cho bản thân hay
cho người khác. Cá nhân có tánh hung bạo, thù nghịch, vô cảm, không quan tâm
đến sự an sinh của người khác.
5.2. Phân loại các rối loạn tâm lý tâm thần
Bảng phân loại quốc tế bệnh tật ICD-10 (International Classification of Diseases)
của LHQ và Cẩm nang thống kê và chẩn đoán bệnh tâm thần DSM-5 (Diagnostic and
Statistical Manual of Mental Disorders) của Hoa kỳ liệt kê gần 300 loại rối loạn tâm lý
tâm thần khác nhau, từ trẻ sơ sinh đến người già, được chia thành 17 nhóm, mỗi nhóm
bao gồm nhiều loại bệnh và các thê dạng có liên hệ.
17 nhóm bệnh gồm có:
-Các bệnh thuộc trẻ sơ sinh, tuổi ấu thơ, tuổi niên thiếu: bệnh phổ tự kỷ
(autism), bệnh tăng động giảm chú ý (ADHD), rối loạn ứng xử (conduct
disorder)...
-Các bệnh thuộc về chức năng điều hành tâm trí: Bệnh mê sảng (delirium),
bệnh mất trí (dementia), bệnh múa giật Hungtington (Hungtington disease)...
-Các rối loạn tâm thần tâm lý do điều kiện sức khỏe cơ thể (mental
disorders due to General Medical Conditions): Tất cả những triệu chứng tâm lý
tâm thần nào xảy ra mà nguyên nhân của nó là do hậu quả của sức khỏe cơ thể...
- Các rối loạn tâm lý tâm thần do hậu quả của sự nghiện ngập: Rượu, cần
sa, á phiện, amphetamines...
-Các bệnh thuộc dạng tâm thần phân liệt (Schizophrenia)
-Các bệnh thuộc dạng rối loạn khí sắc (Mood disorders)
167