Tải bản đầy đủ
d. Dụng cụ trắc nghiệm thái độ trẻ đối với cha mẹ CAF/M (Child’s Attitude Toward Father/Mother)

d. Dụng cụ trắc nghiệm thái độ trẻ đối với cha mẹ CAF/M (Child’s Attitude Toward Father/Mother)

Tải bản đầy đủ

5: Hầu như luôn luôn
Câu hỏi:
1: Cha (mẹ) tôi hay gây nhiều bực dọc cho tôi
2: Tôi quan hệ tốt đẹp với cha (mẹ)
3: Tôi hoàn toàn tin tưởng vào cha (mẹ) mình
4: Tôi không thích cha (mẹ) tôi
5: Cha (mẹ) tôi hay có những hành vi làm tôi thường bị bối rối
6: Cha (mẹ) tôi có cá tánh hay đòi hỏi, yêu cầu quá đáng
7: Tôi ước gì mình có người cha (mẹ) khác
8: Tôi rất hạnh phúc bên cạnh cha (mẹ) tôi
9: Cha (mẹ) tôi đặt ra quá nhiều hạn chế cho tôi
10: Cha (mẹ) tôi can dự quá nhiều vào mọi sinh hoạt của tôi
11: Tôi oán giận cha (mẹ) tôi
12: Tôi nghĩ rằng cha (mẹ) tôi là tuyệt vời
13: Tôi ghét cha (mẹ) tôi
14: Cha (mẹ) tôi rất chịu khó chịu khổ với tôi
15: Tôi thật sự thích cha (mẹ) tôi
16: Tôi luôn muốn gần gũi với cha (mẹ) tôi
17: Tôi cảm thấy mình không thương yêu gì cha (mẹ)
18: Cha (mẹ) tôi thường hay gắt gỏng, khó chịu với tôi
139

19: Tôi cảm thấy giận hờn cha (mẹ) mình
20: Tôi cảm thấy muốn có hành động bạo lực đối với cha (mẹ)
21: Tôi thấy tự hào về cha (mẹ) mình
22: Tôi ước gì cha (mẹ) tôi giống như những người khác mà tôi biết
23: Cha (mẹ) tôi không hiểu được tôi
24: Tôi hoàn toàn tin tưởng và nương tựa vào cha (mẹ) mình
25: Tôi cảm thấy xấu hổ về cha (mẹ) mình
----------------------------------------------

Câu hỏi:
1- Tại sao cả hai yếu tố về độ giá trị và độ tin cậy của các loại dụng cụ trắc nghiệm

phóng chiếu không cao nhưng các nhà trị liệu lại hay sử dụng?
2- Theo anh/chị những yếu tố nào thường làm cho các dụng cụ trắc nghiệm lâm sàng

thường không mang lại những kết quả có độ giá trị cao?
3- Các dụng cụ trắc nghiệm trí thông minh như Stanford-Binet, WAIS và WISC

thường dùng để đo chỉ số thông minh “IQ” có những khuyết điểm gì khi áp dụng
cho mọi con người ở mọi lứa tuổi?
4- Anh/chị hãy trình bày ý kiến hoặc là thích hay không sử dụng các dụng cụ trắc
nghiệm nói chung trong khi điều trị cho thân chủ?

140

Phần B

Tóm lượt nội dung:
Nội dung trong phần này bao hàm các quan điểm và liệu pháp tâm lý trị liệu phổ biến
từng được các chuyên gia tâm lý đánh giá như là những lý thuyết nòng cốt của môn học.
Ngoài ra học viên cũng có thể tìm thấy những lý thuyết và liệu pháp tâm lý không chính
thức khác được đề cập tổng quát trong mỗi chương mỗi khi có sự liên hệ. Mỗi quan điểm
đều được trình bày với một nội dung đầy đủ, chi tiết, rõ ràng và dễ hiểu. Phần B này gồm
có 9 chương được sắp xếp như sau:
Chương 8: Các quan điểm về tâm bệnh
Chương này trình bày ba lý thuyết chính bàn về nguyên nhân của các hiện tượng rối loạn
tâm thần tâm lý; đó là quan điểm thể chất, quan điểm tâm sinh và quan điểm xã hội.
Chương 9: Trường phái Phân tâm học của Sigmund Freud
Chương 10: Trường phái Tâm lý cá nhân của Alfred Adler
Chương 11: Trường phái Hành vi của các lý thuyết gia hành vi
Chương 12: Trường phái Nhận thức của Aeron Beck
Chương 13: Trường phái Nhận thức/Hành vi
Chương 14: Trường phái Hiện sinh/Nhân văn
Chương 15: Trường phái Hệ thống gia đình
Chương 16: Liệu pháp Nhóm
Chương 17: Liệu pháp Tổng hợp/Chiết trung.
-----------------------------------141

142

CHƯƠNG 8

CÁC QUAN ĐIỂM VỀ TÂM BỆNH
1. Phần dẫn nhập:
Trong khi nhân loại đang có nhiều tiến bộ trong việc chữa trị các triệu chứng rối loạn
tâm lý tâm thần thì cho đến nay các chuyên gia vẫn còn tiếp tục bất đồng ý kiến với nhau
về nguyên nhân nào là cốt lõi gây ra cho vấn đề tâm bệnh. Thật vậy, do tính cách rắc rối
và phức tạp trong vấn đề truy tìm những nguyên nhân nào làm phát sinh các triệu chứng
rối loạn tâm lý tâm thần, các chuyên gia thường có những lập luận chủ quan để cố giữ
vững lập trường quan điểm của mình. Các chuyên gia thường chỉ chú tâm vào một khía
cạnh quan trọng nào đó để từ đó phác họa những phương pháp và kỹ thuật chữa trị cho
trường phái của mình, nhưng lại bỏ qua những phần quan trọng khác của bản chất con
người. Chẳng hạn, trường phái hành vi trị liệu (behaviorism) cho rằng nguyên nhân của
các triệu chứng bất thường hay bệnh lý là do các hành động đã trở thành thói tật ; các
trường phái thuộc về lý thuyết tâm động (psychodynamic psychotherapy) lại chỉ tập trung
vào việc giải quyết những yếu tố tâm lý; các trường phái thuộc hệ thống nhóm và gia
đình (systems theory therapy) thì chú tâm vào cách làm sao thay đổi các khuôn mẫu và
thói quen trong các mối quan hệ với tha nhân và xã hội.
Trong thực tế, kể từ đầu thế kỷ 20 đến nay đã có đến hằng trăm trường phái tâm lý trị
liệu được giới thiệu và mỗi tác giả đều cố gắng chứng minh rằng trường phái cuả mình là
độc đáo, nhắm đúng vào nguyên nhân gây ra bệnh lý và có hiệu quả chữa trị. Kết quả là
có nhiều liệu pháp tâm lý được thiết lập có tính cách trùng lặp với nhau, trong đó các
phương thức và kỹ thuật có nhiều điểm vay mượn, hay tương đồng. Điều này có thể được
hiểu trên cả hai khía cạnh vừa tiêu cực vừa tích cực. Mặt tiêu cực cho thấy công tác chữa
trị các trường hợp có liên quan đến lãnh vực tâm lý tâm thần quả thật là một vấn đề rắc
rối và khó khăn, không dễ gì có sự đồng thuận giữa các chuyên gia về hiệu quả của một
liệu pháp chữa trị. Mặt tích cực cho thấy các chuyên gia trong ngành vẫn luôn kiên trì
trong nỗ lực nghiên cứu và sáng tạo để hy vọng tìm ra được những phương thức và kỹ
thuật có thể giải quyết được nguyên nhân của vấn đề.
Như đã đề cập trong chương 2, quan niệm như thế nào về các hiện tượng bất thường
hay bệnh lý tâm lý tâm thần đã được ghi nhận trong các sách sử kể từ thời cổ đại xa xưa
trong cuộc sống của nhân loại. Nhưng dưới ảnh hưởng của thần học và triết học đương
thời, quan niệm này cho rằng bản chất đích thực của thế giới quanh ta vừa là tự nhiên
143

(natural) và vừa là siêu nhiên (supernatural), nghĩa là sự sống của nhân loại luôn bao
gồm hai mặt, mặt hữu hình (physical) là những gì ta có thể thấy được trước mắt, và mặt
siêu hình (metaphysical) là những gì ta không thấy được bằng mắt trần, nhưng chúng
cũng thật sự đang hiện hữu quanh ta và luôn luôn có những tác động mạnh mẽ lên đời
sống thường nhật của ta.
Quan niệm trên đưa đến kết luận rằng mọi sinh hoạt và số kiếp của một đời người
thực chất phải chiụ ảnh hưởng và áp lực to lớn từ các lực vô hình đang lẫn quất chung
quanh sự sống trên trần gian. Quan điểm truyền thống này phản ảnh niềm tin rằng sự có
mặt của những sức mạnh vô hình và có khả năng thưởng phạt trên cõi trần chính là
nguyên nhân tạo ra sự thay đổi trong mọi sinh hoạt tâm lý, bình thường cũng như bất
thường, của mỗi con người. Không bàn đến phần giải thích đúng hay sai, niềm tin này
vẫn luôn có ý nghĩa về mặt tâm lý của đại đa số người trong suốt chiều dài lịch sử. Mặt
tích cực của niềm tin đó là nó giúp cho con người luôn phải cố gắng sống một đời sống
lương thiện, làm điều lành tránh điều ác, biết sống hòa hợp và tương nhượng nhau để tinh
thần được ổn định, không cảm thấy ray rức, lo sợ, hoảng hốt và tội lỗi, để tâm trí luôn
cảm thấy được an lành, thoải mái và vui tươi.
Vào những thời đại trước, các vị đạo sĩ hay thầy cúng thường sử dụng các hình thức
cúng bái, cầu hồn, tế thần, hay hành hạ con bệnh… để chữa trị bệnh nhân, nhưng những
phương pháp và kỹ thuật trị liệu vào các thời kỳ đó chỉ mang tính chất mê tín và ma
thuật. Ngày nay, tuy rằng một số hình thức trị liệu kiêu mê tín và ma thuật hầu như đã bị
loại bỏ, nhưng cụ thê vẫn có một số liệu pháp xem những hình thức cầu nguyện và tụng
niệm theo nghi thức của tôn giáo là điều rất thực tế và có hiệu nghiệm cho một số người,
có thê nâng cao cuộc sống tinh thần của cá nhân và từ đó có thê tạo ra những hiệu quả
tốt đẹp cho việc chữa trị một số chứng bệnh về tâm thần tâm lý. Trên thực tế. các cuộc
thăm dò và điều tra cho thấy nhiều chuyên gia tâm lý trị liệu hiện đại xác nhận là các hình
thức cầu nguyện và tụng niệm như thế cũng thường tạo ra những hiệu quả nhất định trên
một số bệnh nhân.
Ngày hôm nay, với sự phát triển vượt bực của các bộ môn thần kinh sinh hoá
(neurobiochemistry) và thần kinh tâm lý (neuropsychology), các lý thuyết gia đã bỏ qua
phần quan niệm truyền thống mang tính chất siêu hình, và chỉ chú tâm vào những sự kiện
có thể chứng minh được trên cơ sở khoa học thực nghiệm. Theo đó, các chuyên gia xác
định rằng bản chất con người thực tế là một tổng thể bao gồm ba lãnh vực thiết yếu có tác
động và ảnh hưởng đến nguyên nhân phát sinh các rối loạn tâm lý tâm thần; đó là tâm lý,
sinh lý và xã hội. Nói cách khác, yếu tố tâm lý sinh lý và xã hội là một tổng hợp đan kết,
hội đủ mọi điều kiện cho sự sống, một bộ ba không thể đứng riêng rẽ và loại trừ lẫn nhau
144

trong mỗi con người. Cả ba khía cạnh đó đều là những lực thúc đẩy và phát triển sự sống,
có sức tác động liên tục và hỗ tương nhau, sâu rộng và toàn diện trong đời sống của một
cá nhân. Nói tóm lại, mọi hành vi bình thường hay bệnh lý của một cá nhân đều có
nguyên nhân phát xuất từ những sinh hoạt phức tạp có tính chất đan kết, gắn bó, không
thể tách rời nhau của một khuôn mẫu gọi là tâm-sinh lý-xã hội chứ không xuất phát từ
một yếu tố riêng lẻ hay từ cái gì khác ngoài ba yếu tố trên.
Như vậy, chương sách này sẽ tập trung vào việc thảo luận cả ba quan điểm thê chất
(somatogenic), tâm sinh (psychogenic), và xã hội/văn hóa (sociocultural). Ngoài ra, bên
dưới chương sách này sẽ có thêm phần trình bày tóm lược về định nghĩa, thứ loại, và
cách nhận dạng các trường hợp bất thường hay bệnh lý thuộc về tâm lý tâm thần.
2. Quan điểm thể chất

Quan điểm thể chất xem phần sinh lý cơ thể của con người là riềng mối gây ra mọi
hành vi của cá nhân. Từ 400 năm trước Công Nguyên, Hippocrates, được xem là ông tổ
của ngành y học, đã có quan niệm rằng mọi bệnh tật, thể chất hay tinh thần, đều do hậu
qủa của các chức năng sinh hoạt của phần sinh lý cơ thể. Ông cho rằng nguyên nhân của
bệnh tật là do sự không điều hòa và mất cân đối của 4 chất lỏng luân lưu trong thân xác,
gọi là mật vàng, mật đen, máu và đàm. Chẳng hạn, sự dư thừa mật vàng (yellow bile) sẽ
dẫn đến bệnh hưng cảm (mania), và dư thừa mật đen (black bile) sẽ đưa đến bệnh sầu uất
(melancholia).
Những chuyên viên tán trợ quan điểm thể chất về sau này cũng cho rằng mọi hành vi
của cá nhân - suy nghĩ, cảm nhận, quyết đoán, hành động- đều có nguyên nhân xuất phát
từ sự hoạt động và biến đổi của các chức năng sinh lý của thể chất. Sinh lý thể chất là
phản ứng đầu tiên và có tính quyết định, và các phản ứng tâm lý nếu có cũng chỉ là phần
đi theo sau. Lấy một thí dụ, các chuyên gia ủng hộ quan điểm này cho rằng khi đứng
trước một tình huống đe dọa, nếu cơ thể trở nên run rẫy, nhịp tim và hơi thở gia tăng
(sinh lý) thì sau đó cảm giác sợ sệt (tinh thần) mới xảy ra. Và khi các phản ứng sinh lý
của cơ thể lệ thuộc vào sự điều khiển của bộ não, thì như thế các phản ứng tinh thần cũng
lệ thuộc vào sự điều khiển của chính bộ não. Nói rõ hơn, bộ não là nơi xuất phát mọi sinh
hoạt của thể chất cũng như của tinh thần, từ các hành vi bình thường trong sinh hoạt cho
đến các triệu chứng tâm lý tâm thần.
Căn cứ trên các dữ kiện phân tích từ những mẫu hình ảnh chụp được xuyên qua các
kỹ thuật máy móc rọi chiếu bộ não hiện đại, các chuyên gia thần kinh tâm lý
(neuropsychologist) và thần kinh sinh hóa (neurobiochemist) đi đến kết luận là các sinh
145

hoạt của thần kinh não bộ và các chức năng tâm lý luôn luôn có một sự liên hệ khắn
khít. Từ những kết quả đó, các chuyên gia tin rằng mọi triệu chứng tâm thần tâm lý đều
có nguyên nhân từ sự bất thường của bộ não.
Tổng quát, một bộ não bị bất thường có thể liên hệ đến 3 vấn đề: Một là do cấu
trúc não bị bất thường, ví dụ khe não thất (ventricle) (những khoảng trống trong bộ não)
bị nở lớn; hai là vì chức năng của các tế bào thần kinh (neurons) bị hỗn loạn, ví dụ nhóm
tế bào thần kinh trong một khu vực nào đó không hoạt động bình thường hay bị ngưng
(chết) hoạt động; ba là mức độ luân lưu của các chất hóa học trong não bộ, mà đặc biệt là
các chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitters) trở nên hỗn loạn hay mất cân bằng, ví
dụ chất dẫn truyền thần kinh norepinephrine và serotonin bị thiếu hụt sẽ dẫn đến bệnh
trầm cảm (depression).
2.1. Một số triệu chứng rối loạn tâm thần tâm lý đặc trưng:
Chứng tăng động giảm chú ý (Attention deficit/hyperactivity disorder) (ADHD).
Bệnh này xảy ra bởi nhiều nguyên nhân, hoặc do di truyền (gene) hay bẩm sinh (innate),
hoặc do những điều kiện bất thường của bào thai hay những rủi ro xảy ra vào lúc sinh nở,
hoặc do cơ thể bị nhiễm độc chất kim loại chì hay các chất gây dị ứng. Các chuyên gia
phát hiện đa số những trẻ bị chứng ADHD có vung tiền vỏ não (prefrontal cortex) nhỏ
hơn khoảng 5% so với trẻ bình thường, đồng thời khu tiêu não (cerebellum) và cuộn cấu
trúc hình vòm (caudate nucleus và globus pallidus) (cấu trúc này có chức năng điều hành
các hành vi và ứng xử) cũng nhỏ hơn trẻ bình thường. Ngoài ra, những điều kiện môi
trường cũng được phỏng đoán là có ảnh hưởng đến nguyên nhân gây bệnh cho trẻ; ví dụ
người mẹ nghiện nặng các chất thuốc hay rượu, hoặc bào thai bị nhiễm chất chì hay các
hóa chất gây dị ứng trong thời gian thai nghén.
Máy chụp sơ đồ não PET phát hiện bộ não của trẻ ADHD có những sinh hoạt khác
thường, hoạt động não thường gia tăng ở một vài khu vực, nhưng lại giảm thiểu ở những
khu vực khác. Có lẽ vì thế mà trẻ ADHD có tánh khí thường dễ bị kích động và khó khăn
trong khả năng tập trung trí óc và xét đoán. Sử dụng những loại thuốc làm gia tăng chất
dẫn truyền thần kinh dopamine và giảm chất norepinephrine thường giúp cho trẻ ADHD
có khả năng tập trung trí óc và giảm thiểu tính hiếu động (1).
Bệnh tâm thần phân liệt (Schizophrenia). Ngoài yếu tố di truyền, bệnh tâm thần
phân liệt còn được phỏng đoán là do sự phát triển lệch lạc của tế bào não trong lúc bào
thai đang phát triển, hoặc trong thời kỳ thai nghén và sinh đẻ người mẹ bị nhiễm siêu vi
hay có những khó khăn bất thường của bào thai. Các hình chụp cho thấy một số người
146

bệnh tâm thần phân liệt thường có khe não thất nở rộng. Ở một số bệnh nhân khác lại có
hiện tượng rối loạn ở các tế bào trong khu chân hải mã (hippocampus), hoặc chức năng
sinh hoạt của các khu có liên hệ mật thiết với nhau, như tiền vỏ não, hệ thống bán tính
(limbic system) và hạch đáy (basal ganglia), có những phát hiện khác biệt với người bình
thường. Các chất norepinephrine, serotonin, amino acids, và đặc biệt là dopamine được
tìm thấy có những lượng luân chuyển dư thừa và mất cân bằng trong não của người bệnh
tâm thần phân liệt (2).
Chứng rối loạn ám ảnh cưỡng bức (Obsessive-compulsive disorder). Bệnh này
được cho là có tính di truyền cao, là nguyên nhân của những sinh hoạt bất thường trong
khu tiền vỏ não và khu hạch đáy và hình dáng nhỏ hẹp của cuộn cấu trúc hình vòm. Căn
cứ trên hình ảnh chụp được từ não bộ của các cá nhân bị chứng rối loạn ám ảnh cưỡng
bức, các chuyên gia nhận thấy chất serotonin thường luân chuyển không điều hòa trong
bộ não của họ. Kinh nghiệm chữa trị cho thấy các loại thuốc giúp điều hòa sự luân
chuyển chất serotonin đã tỏ ra có hiệu quả nhất định cho một số những cá nhân bị chứng
rối loạn ám ảnh cưỡng bức (3).
Bệnh rối loạn khí sắc (Mood disorder). Bệnh này có liên hệ đến sự bất thường
trong cấu trúc của một số khu vực não, như vung dưới đồi (hypothalamus), hệ thống bán
tính, và vung hạch đáy. Ba khu vực này có nhiệm vụ điều khiển hệ thống thần kinh tự
chủ (autonomic nervous system) (ANS) và tuyến nội tiết (endocrine system). Hệ thống
thần kinh tự chủ là một phần của hệ thống thần kinh có chức năng duy trì và cân bằng
mọi chuyển động tự nguyện của cơ thể, nhịp tim, hơi thở, biến hóa thức ăn, năng lượng,
nhiệt độ, các chất lỏng luân lưu trong cơ thể, cảm xúc, v, v...
Những bệnh nhân ở dạng rối loạn khí sắc lưỡng cực (bipolar disorder) (hay còn
gọi là bệnh hưng-trầm cảm) được phát hiện có các khe não thất nở rộng và thuy trán
(frontal lobes) hẹp hơn mức bình thường. Mức độ luân lưu bất bình thường của các chất
dopamine, norepinephrine, serotonin, GABA, vasopressin cũng có thể là nguyên nhân
chính gây ra các chứng rối loạn khí sắc. Rối loạn khí sắc lưỡng cực có liên hệ nhiều đến
yếu tố di truyền, nhưng rối loạn trầm cảm lại có liên hệ nhiều đến sự tác động của các
yếu tố môi trường bên ngoài (4).
Chứng hoảng hốt (còn gọi là Rối loạn hoảng sợ) (Panic disorder). Triệu chứng
này được giải thích là do sự bất thường của cấu trúc thuy thái dương (temporal lobes),
khu chân hải mã, lõi não (brain stem), hệ thống bán tính và vùng vỏ não thái dương
(temporal cortex). Các chuyên gia thần kinh não bộ phát hiện hệ thống thần kinh tự chủ
ANS của người bị chứng hốt hoảng có những vấn đề như: phản ứng rất chậm chạp với
147

những kích thích quen thuộc và lặp đi lặp lại, nhưng lại phản ứng quá đáng với những
kích thích đột ngột và bình thường khác, và khi đang trong cơn hốt hoảng thì sự luân lưu
trong các mạch máu não thường bị ức chế và trở ngại. Chứng hoảng hốt được phỏng đoán
là có nguyên nhân từ sự dư thừa các hóa chất gây ra trạng thái cảm xúc lo âu trong sinh
hoạt não bộ của cá nhân (5).
2.2 Cấu trúc và sinh hoạt của bộ não
Cấu trúc và sinh hoạt của bộ não được mô tả là một khối bao hàm những vùng cấu
trúc chính: vùng não trước (forebrain), vùng não giữa (midbrain), và vùng não sau
(hindbrain), và mỗi vùng lại gồm có nhiều cấu trúc nhỏ và những chức năng sinh hoạt
khác nhau. Phần ngoài cùng của não được bao bọc bởi một khối gồm những cuộn chất
xám dày xếp vào nhau, gọi là vỏ não (cortex). Vỏ não là phần phát triển sau cùng của bộ
não, và nó tiếp tục phát triển kể từ lúc hài nhi vừa sinh ra cho đến khoảng 16 tuổi thì
chấm dứt. Vỏ não có những chức năng quan trọng, bao gồm các lãnh vực thuộc về nhận
thức, cảm xúc, và chuyển động. Phần tiền vỏ não (frontal cortex) được cho là phần tiếp
nhận thông tin đầu tiên và chuyển vào hệ thống bán tính và các vùng não khác. Loài
người có phần tiền vỏ não rộng lớn nhất, chiếm đến 29% diện tích vỏ não, so với loài khỉ
đười ươi chimpanzee là 17%, chó 7% và mèo 3.5% (6).
Hệ thống bán tính (còn gọi là Hệ limbic) (limbic system) là phần nằm sâu bên
trong của bộ não, có nhiệm vụ điều hành các nhu cầu thuộc về bản năng (đói, khát, dục
tính…), điều hành các cảm xúc và đam mê (yêu, ghét, vui, buồn, tức giận, sợ hãi, tham
vọng, hiếu chiến...), khả năng khơi gợi, kích động và mức độ tập trung tinh thần. Hệ
thống bán tính là một mạng lưới phức tạp, bao gồm các cấu trúc nhỏ như vung dưới đồi,
hạnh nhân não (amygdala), vung chân hải mã, và vung lưu chuyên sinh hóa tổng hợp
(locus coerulus và raphe nuleus) (gọi như vậy vì hai cấu trúc này có nhiệm vụ tổng hợp
và lưu giữ các chất dẫn truyền thần kinh, dopamine, norepinephrine, serotonin...). Hệ
thống bán tính cũng có vai trò chính trong các chức năng liên quan đến sự học tập và lưu
trữ ký ức, và nó cũng có ảnh hưởng lớn đến hệ thống miễn nhiễm và hệ thống thần kinh
tự chủ ANS.
Hạch đáy (còn gọi là Hạch nên) (basal ganglia) bao gồm một nhóm cấu trúc nhỏ,
như striatum, globus pallidus và substantia nigra, nằm sâu trong bộ não, cạnh hệ thống
bán tính về phía phải. Cấu trúc này được cho là có ảnh hưởng đến phần lớn các rối loạn
tâm thần và có nhiệm vụ điều hòa các cử động bình thường cũng như bất thường; chẳng
hạn nó là tác giả gây ra những cử động chậm chạp, ít ỏi của người bệnh trầm cảm, hay
148

những cái nhăn mặt bất thường của người bệnh tâm thần phân liệt...Hạch đáy là nơi tập
trung cao điểm của chất dẫn truyền thần kinh dopamine trong bộ não.

Bộ não được ước tính có khoảng 100 tỷ tế bào thần kinh (neurons) và hằng ngàn
tỷ các loại tế bào hỗ trợ khác và mọi chuyển động của chúng hầu như không bao giờ ngơi
nghỉ, giống như muôn triệu ngôi sao đang chuyển động trong dải thiên hà trên bầu trời.
Mỗi tế bào có 3 phần chính: thân bào (nucleus), gai bào (dendrite) và trục bào (axon).
Thân bào (còn gọi là Nhân) là cơ chế sinh hóa, có nhiệm vụ duy trì sự sống của tế bào,
và cũng là nơi quyết định “đánh” thông điệp đi đến các tế bào thần kinh kế cận. Gai bào
(còn gọi là Đuôi gai, sợi gai), trông như những nhánh cây, là những cần “antenna” thu
nhận thông điệp từ các tế bào khác để chuyển cho thân bào. Ở mỗi gai bào đều có những
vị trí tiếp nhận các chất dẫn truyền thần kinh, gọi là nơi tiếp nhận (receptors). Trục bào
(còn gọi là Sợi trục), tương tự như là thân cây, có nhiệm vụ chuyển thông điệp từ thân
bào đi đến cho các tế bào thần kinh khác. Ở khúc cuối của mỗi trục bào đều được chia
làm nhiều nhánh gọi là điểm cuối trục bào (axon terminals), và ở những điểm cuối trục
bào này có những cái túi nhỏ (vesicle) chứa đựng các chất dẫn truyền thần kinh. Kế tiếp
những điểm cuối trục bào là một khoảng trống hẹp, gọi là khoảng liên hợp (synapse).

149