Tải bản đầy đủ
Phương pháp đo lường trong trắc nghiệm tâm lý:

Phương pháp đo lường trong trắc nghiệm tâm lý:

Tải bản đầy đủ

Thang tự lượng giá là một phương thức đo lường rất uyển chuyển, có thể sử dụng
cho nhiều vấn đề và trong nhiều tình huống. Chẳng hạn, nhà trị liệu và thân chủ cùng
thiết lập một thang lượng giá về cảm giác buồn khổ để thân chủ dựa vào đó tự đo lường
cảm giác của mình. Thang lượng giá bao gồm dãy số từ 1 đến 10, tức là từ mức độ ít nhất
cho đến nhiều nhất của cảm giác buồn khổ, và mỗi con số đều có khoảng cách đều nhau,
như vậy con số 5 nằm ở giữa biểu thị cảm giác buồn khổ ở mức độ trung bình. Căn cứ
vào các con số trên thang lượng giá, thân chủ có thể tự đánh giá mức độ buồn khổ của
mình đang ở mức nào.
3.3.

Thang điểm

Thang điểm cũng được thiết lập như thang tự lượng giá, nhưng chỉ khác một điểm
là nó không phải để dùng cho thân chủ, mà được sử dụng bởi người khác (nhà trị liệu,
thân nhân…). Thang điểm là công cụ thường dùng cho các trường hợp thân chủ là trẻ em,
hay người khuyết tật, bệnh nhân không có khả năng tự mình lượng giá. Hoặc trong những
trường hợp đặc biệt như các cuộc thi cử, phỏng vấn…trong đó một nhóm hay một người
nhân viên duy nhất được giao phó trách nhiệm sử dụng thang điểm để đánh giá đối
tượng.
3.4.

Sổ tay thân chủ

Sổ tay thân chủ là những ghi chép của chính thân chủ, như nhật ký hay tờ giấy
giao phó cho thân chủ ghi xuống những gì thân chủ làm, suy nghĩ, cảm nhận mỗi ngày.
Sổ tay thân chủ sẽ giúp cho nhà trị liệu có thêm thông tin để đánh giá những vấn đề hiện
tại của thân chủ. Các chuyên gia liệu pháp nhận thức hành vi thường khuyến khích thân
chủ hãy dùng sổ tay để viết lên những cảm nghĩ, ý tưởng hằng ngày của họ để sau đó
dùng những thông tin này cho buổi trị liệu kế tiếp.
3.5.

Đo lường kín

Đo lường kín là các cách mà nhà trị liệu nhận xét và đánh giá những hành vi của
thân chủ không công khai, ngoài sự hiểu biết của thân chủ. Vì các công cụ trắc nghiệm
công khai, trong nhiều tình huống, thường có thể ảnh hưởng hay thay đổi hành vi, lối ứng
xử của thân chủ, nên cũng cần có cách đo lường kín để thêm vào cho sự nhận xét về
những vấn đề của thân chủ. Có nhiều cách đo lường kín khác nhau; chẳng hạn, quan sát
những mẫu tàn thuốc thân chủ để lại trên khay, nhận xét những khác biệt giữa cử chỉ và
lời nói, xem các ghi chú trong hồ sơ, học bạ, v, v…
116

3.6.

Đo lường bằng kỹ thuật máy móc

Đo lường bằng kỹ thuật máy móc là sử dụng các dụng cụ máy móc có sẵn để đo
đạt những sự kiện, khía cạnh cần tìm hiểu. Những dụng cụ phổ thông như EMG
(electromyogram) để đo độ căng của bắp thịt, EKG (electrocardiogram) đo các phản ứng
tim, SRL (skin resistance level) và SRR (skin resistance response) đo hoạt động của các
tuyến mồ hôi, và EEG (electroencephalogram) đo các chức năng của não...
Do tính chất tâm vận động (psychomotor) giữa tâm lý và sinh lý, nghĩa là tâm lý
và sinh lý luôn luôn có những chuyển động khăn khít, liên hệ và ảnh hưởng lên nhau,
những loại máy này trở nên hữu dụng trong việc cung cấp thêm thông tin cho những
trường hợp trị liệu các triệu chứng căng thẳng, lo âu, hoảng hốt, v, v …
3.7.

Đo lường bằng dụng cụ tiêu chuẩn

Đo lường bằng dụng cụ tiêu chuẩn là áp dụng các loại dụng cụ đo lường tiêu
chuẩn đã có sẵn. Gọi là tiêu chuẩn vì các dụng cụ này đã được công nhận là có độ tin cậy
và giá trị cao, có tính phổ thông vì đã được nhiều chuyên gia sử dụng. Đo lường bằng
cách vừa quan sát hành vi trực tiếp vừa phối hợp sử dụng các dụng cụ đo lường tiêu
chuẩn là phương cách tỏ ra có hiệu quả và chính xác hơn hẳn các cách đo lường khác
trong tâm lý lâm sàng.
Những khía cạnh nổi bậc của các dụng cụ tiêu chuẩn là mỗi dụng cụ đều có các
tiết mục đồng nhất và nguồn thông tin đầy đủ cho mỗi một vấn đề cần tìm hiểu. Phương
thức tính điểm và cách sử dụng vẫn là trước sau như một, không bao giờ thay đổi trong
các lần sử dụng. Ngày nay đã có rất nhiều các loại dụng cụ trắc nghiệm tiêu chuẩn sản
xuất ra để dùng trong nhiều lãnh vực khác nhau, và ngoài một số dụng cụ trắc nghiệm đã
được công nhận và sử dụng rộng rãi, có tính cách phổ thông quốc tế, cũng còn có một số
loại dụng cụ trắc nghiệm được thiết lập phù hợp và thích ứng với tính cách địa phương và
văn hóa của người dân trong xã hội đó.
Riêng tại Hoa Kỳ cho đến nay cũng đã có đến hằng trăm dụng cụ trắc nghiệm tâm lý
được sử dụng trên nhiều lãnh vực như: trắc nghiệm thành quả (achievement tests), trắc
nghiệm năng khiếu (aptitude tests), trắc nghiệm trí thông minh (intelligence tests), trắc
nghiệm nhân cách và cá tính (personality tests) và các loại dụng cụ trắc nghiệm lâm sàng
(clinical assessment tests) dùng để đo lường và đánh giá các trường hợp thuộc về tâm lý
tâm thần, v, v,…
117

4. Dụng cụ trắc nghiệm:
4.1.

Các dụng cụ trắc nghiệm thành quả

Các dụng cụ trắc nghiệm thành quả thường được sử dụng trong lãnh vực giáo dục,
quân sự, khoa học công nghệ, v, v…để đo lường thành quả sau một giai đoạn học tập hay
huấn luyện. Chẳng hạn, bảng trắc nghiệm SAT (Scholastic Aptitude Test) đo lường sức
học và năng khiếu của học sinh trước khi vào đại học. Bảng trắc nghiệm này về sau có
thay đổi một số tiết mục và cách tính điểm và được gọi là Scholastic Assessment Tests.
Bảng trắc nghiệm GRE (Graduate Record Examination) dùng để trắc nghiệm mức thành
tựu của sinh viên bậc cử nhân trước khi được thâu nhận vào bậc nghiên cứu sinh. GRE về
sau cũng thay đổi và chia làm hai loại: GRE General tập trung vào việc trắc nghiệm khả
năng trong ba lãnh vực lý luận, toán học và ngôn ngữ, và GRE Subject Tests bao gồm 14
lãnh vực trắc nghiệm, trong đó có cả các môn sinh học, tâm lý học và âm nhạc.
4.2.

Các dụng cụ trắc nghiệm năng khiếu

Các dụng cụ trắc nghiệm năng khiếu thường sử dụng để tuyển lựa cá nhân vào các
ngành nghề hoặc công việc chuyên môn thuộc về mọi lãnh vực. Chẳng hạn, bảng trắc
nghiệm JVIS (Jackson Vocational Interest Survey) có 289 mục được gom lại thành 34
thang điểm để tìm ra ý thích và khả năng đặc biệt của cá nhân. Bảng trắc nghiệm CAI
(Career Assessment Inventory) thường dùng để trắc nghiệm sở thích và năng khiếu của
những cá nhân không thông qua 4 năm đại học.
4.3.

Các dụng cụ trắc nghiệm trí thông minh

Các dụng cụ trắc nghiệm trí thông minh là loại đã được thiết dựng dưới nhiều hình
thức và có chiều dài lịch sử kể từ đầu thế kỷ 20. Đáng kể nhất là sự ra đời bảng trắc
nghiệm 1905 Binet-Simon Scale bao gồm nhiều mục trắc nghiệm về ngôn ngữ, lý luận,
và kiến thức. Nhưng để giải quyết những khó khăn trong cách tính điểm của bảng trắc
nghiệm này, đại học Stanford University đã có những sửa đổi và thêm vào cách tính chỉ
số thông minh IQ (intelligence quotient), do đó từ năm 1916 bảng trắc nghiệm BinetSimon Scale có tên mới là Stanford-Binet Intelligence Test. Chỉ số thông minh có hàm
ý rằng nếu qua kết quả trắc nghiệm, một đứa trẻ 5 tuổi cho thấy nó có tuổi trí tuệ là 7 tuổi
thì có nghĩa là khả năng vận dụng trí óc của đứa trẻ 5 tuổi này hơn hẳn khả năng trí óc
trung bình của nhiều trẻ cùng tuổi và ngang bằng với những đứa trẻ 7 tuổi.
Chỉ số thông minh IQ được thành lập bởi công thức:

IQ = (MA/CA) x 100
118

Theo đó: IQ = chỉ số thông minh - (100 là điểm ở mức trung bình)
MA = tuổi trí tuệ (mental age)
CA = tuổi đời (chronological age)
Ví dụ: Đứa trẻ có CA= 8 và qua kết quả trắc nghiệm có MA= 10. Như vậy theo
công thức trên, IQ của đứa trẻ là 125, tức là tuổi trí tuệ của em này trên mức trung bình
25 điểm. Ngược lại, nếu đứa trẻ có CA= 10 nhưng qua kết quả trắc nghiệm có MA= 8 thì
IQ của đứa trẻ này là 80, nghĩa là dưới mức trung bình 20 điểm.
Nhưng Stanford-Binet Intelligent Test chỉ sử dụng cho trẻ em, cho nên về sau
David Wechsler sáng tạo ra dụng cụ Wechsler-Bellevue Intelligence Scale để sử dụng
cho người lớn. Và dụng cụ trắc nghiệm này là tiền thân của các bộ trắc nghiệm khúc triết
và hoàn chỉnh hơn đã được Wechsler phát triển, bao gồm WAIS (Wechsler Adult
Intelligence Scale) dùng cho người lớn, WISC (Wechsler Intelligence Scale for Children)
dùng cho trẻ em, và WPPSE (Wechsler Preschool and Primary Scale of Intelligence)
dùng cho trẻ mới bước vào bậc mẫu giáo. Cả ba bộ trắc nghiệm này theo thời gian cũng
đã có thêm những bổ túc. Nói chung cả ba bộ dụng cụ đều có mục tiêu đánh giá trí thông
minh trên nhiều lãnh vực khác nhau, bao gồm ngôn ngữ, kiến thức, lý luận, trí nhớ, tài xử
trí, sức chú ý tập trung, khả năng thị giác không gian, v , v…Các dụng cụ trắc nghiệm
này đều được công nhận là có độ tin vậy và giá trị cao và đã được sử dụng rộng rãi trên
nhiều quốc gia cho đến ngày hôm nay.
WAIS, WISC, và WPPSE cũng áp dụng công thức tính chỉ số thông minh IQ cho
cá nhân trắc nghiệm. Dù như thế, vẫn có nhiều vấn đề đặt ra cho độ tin cậy và giá trị của
các bộ dụng cụ trắc nghiệm sử dụng cách tính điểm theo IQ.
Trước tiên, chỉ số IQ chỉ phản ánh trí thông minh của một cá nhân ở một thời điểm nhất
định nào đó thôi. Nhiều cuộc trắc nghiệm đã xác định được rằng từ tuổi vị thành niên cho
đến khoảng 25 tuổi là giai đoạn mà cá nhân có trí thông minh ở mức cao nhất trong đời,
nhưng khi tuổi đời càng lớn thì tuổi trí tuệ càng bị sụt giảm. Chẳng hạn, dù có thêm nhiều
kiến thức và kinh nghiệm trong cuộc sống, cá nhân ở mức tuổi 60 thường có kết quả điểm
IQ sụt giảm hơn nhiều so với cá nhân ở mức tuổi 40 khi được trắc nghiệm bằng dụng cụ
WAIS.
Vì lý do đó mà sau này người ta không dùng tuổi trí tuệ MA trong việc tính điểm
IQ nữa. Hiện nay các chuyên gia trắc nghiệm dùng máy điện toán để biến đổi các kết quả
119