Tải bản đầy đủ
Nguyên tắc thiết kế và thống kê trong trắc nghiệm tâm lý

Nguyên tắc thiết kế và thống kê trong trắc nghiệm tâm lý

Tải bản đầy đủ

dùng để đánh giá tính đối kháng (khác biệt) giữa các câu hỏi thuộc loại đúng/sai, hay bắt
buộc/tùy chọn. Ngoài ra, một phương pháp khác nữa gọi là “Split-half reliability” cũng
thường được sử dụng để đánh giá tính nhất quán nội tại của dụng cụ trắc nghiệm, nhưng
nó đánh giá tính nhất quán của dụng cụ trắc nghiệm qua cách thức tìm thấy mối tương
quan giữa nửa phần đầu và nửa phần cuối của một dụng cụ trắc nghiệm.
2.1.2. Độ tin cậy qua trắc nghiệm/tái trắc nghiệm

Cũng có thể đánh giá độ tin cậy của một dụng cụ trắc nghiệm bằng cách đo lường
tính tương quan trước sau như một của các kết quả điểm số ghi nhận được sau những lần
trắc nghiệm khác nhau vào những thời điểm khác nhau. Độ tương quan từ (.80) trở lên có
nghĩa là dụng cụ trắc nghiệm luôn cho những kết quả điểm ổn định và bền vững qua thời
gian, và như thế là dụng cụ đó có độ tin cậy.
2.1.3. Mẫu trắc nghiệm song phương

Một cách khác nữa để đánh giá độ tin cậy của một dụng cụ trắc nghiệm là sử dụng
hai mẫu khác nhau nhưng có cùng một nội dung trắc nghiệm để đo lường xem kết quả
điểm của hai mẫu có độ tương quan cao hay không. Nếu độ tương quan từ (.80) trở lên có
nghĩa là dụng cụ có độ tin cậy cao.
2.2. Độ giá trị:
Độ giá trị của một dụng cụ trắc nghiệm có nghĩa là dụng cụ đó có thật sự đo đúng
cái nó muốn đo hay không. Có ba phương pháp để đánh giá độ giá trị của một dụng cụ
trắc nghiệm: -giá trị nội dung (content validity); - giá trị tiêu chuẩn (criterion validity);
-giá trị thiết lập (construct validity).
2.2.1 Giá trị nội dung
Giá trị nội dung là phương pháp thống kê dùng để đánh giá tính chất cốt lõi của tất
cả các tiết mục trong dụng cụ đó có đi vào trọng tâm của cái gì đang muốn đo lường
không. Có hai loại giá trị nội dung: Giá trị nội dung bề mặt (face content validity) và giá
trị nội dung luận lý (logical content validity). Giá trị nội dung bề mặt là kiểm tra xem ý
nghĩa ở những tiết mục có rõ ràng phản ảnh trung thực nội dung muốn đạt tới của dụng
cụ trắc nghiệm không. Trong khi đó, giá trị nội dung lý luận thì phải do chính người thiết
lập dụng cụ trắc nghiệm đó trình bày các phương pháp đã được áp dụng như thế nào để
chứng minh toàn bộ giá trị nội dung của dụng cụ đó.
113

2.2.2 Giá trị tiêu chuẩn
Giá trị tiêu chuẩn còn gọi là giá trị thực nghiệm (empirical validity) hay giá trị
tiên đoán (predictive validity). Giá trị tiêu chuẩn là một phương thức thống kê dùng để
đánh giá, xem thử có hay không mối tương quan chặt chẽ và có ý nghĩa giữa các biến số
trong các tiết mục của dụng cụ trắc nghiệm. Ngoài ra, phương thức thống kê này còn
dùng để tiên đoán những gì có thể xảy ra, một vấn đề, sự kiện, hay biến cố nào đó, trong
tương lai hay không.
2.2.3 Giá trị thiết lập
Giá trị thiết lập là phương thức đánh giá để xem xét dụng cụ trắc nghiệm có được
thiết lập đúng với nội dung lý thuyết đặt ra ngay từ đầu không. Giá trị thiết lập có hai
loại: giá trị đồng qui (convergent validity) và giá trị phân biệt (discriminant validity).
Giá trị đồng qui là cách đánh giá tính cách phù hợp giữa hai vấn đề hay hai sự kiện. Ví dụ
“cảm giác cô đơn” về mặt lý thuyết có tương quan gì với các biến số như “số lượng thời
gian đương sự chỉ thích riêng tư một mình” hay là “cảm giác xa lạ, không muốn thân
thiện với ai”.
Giá trị phân biệt là cách đánh giá ngược lại, nghĩa là xem các biến số nào nếu
không có sự tương quan, nghĩa là đối ngược với nhau, thì các kết quả điểm của dụng cụ
trắc nghiệm sẽ phải khác nhau chứ không thể có sự giống nhau hay phối hợp với nhau
được.
Tóm lại, làm sao có thê đo lường cụ thê những suy nghĩ, cảm nhận, thái độ, cá
tính của một người? Nói khác đi, làm sao biến những vấn đề thuộc về định tính hay phẩm
chất (suy nghĩ, cảm nhận…) trở thành những con số có thể đo đạt được là vấn đề ưu tư
trọng tâm của các chuyên viên trong việc thiết dựng các dụng cụ trắc nghiệm.
Ngày hôm nay dù đã có hằng ngàn dụng cụ trắc nghiệm tâm lý ra đời được thiết
dựng theo các nguyên tắc toán học và thống kê, nhưng thực tế là vẫn chưa có một dụng
cụ trắc nghiệm tâm lý nào được cho là có độ giá trị và độ uy tín hoàn hảo. Dù vậy, những
dụng cụ trắc nghiệm tâm lý vẫn rất cần thiết trong tâm lý lâm sàng, vì nếu thiếu những
dụng cụ này sẽ có những trường hợp khó khăn khi cần tìm thêm các chi tiết thông tin
thuộc loại định tính về thân chủ. Vấn đề là làm sao biết chọn lựa dụng cụ nào thích hợp
để sử dụng.

114

Một dụng cụ trắc nghiệm tâm lý thích hợp trước tiên nó phải từng được sử dụng
và được đánh giá tương đối có độ tin cậy và độ uy tín cao. Tiếp đến là các tiết mục hàm
chứa trong dụng cụ phải có nội dung phù hợp, có tính tương quan chặt chẽ và thích ứng
với vấn đề đang tìm kiếm. Ngoài ra, các kết quả điểm phải bền vững, nghĩa là phải ổn
định không có sự chênh lệch đột ngột và quá đáng giữa các lần thực hiện trắc nghiệm.
3. Phương pháp đo lường trong trắc nghiệm tâm lý:
Có các kiểu cách đo lường khác nhau trong ngành tâm lý lâm sàng: quan sát hành vi
(behavioral observations), thang tự lượng giá (self-anchored scales), thang điêm (rating
scales), sổ tay thân chủ (client logs), đo lường kín (unobstrusive measures), đo lường
bằng ky thuật điện kế (electro-mechanical measures), đo lường bằng dụng cụ tiêu chuẩn
(standardized measures), v, v…
3.1.

Quan sát hành vi

Quan sát hành vi là phương pháp phổ thông nhất để đo lường và đánh giá hành vi
của thân chủ. Nhưng quan sát hành vi không có nghĩa là chỉ quan sát những gì thấy được
trước mắt. Hành vi của cá nhân bao gồm những gì thấy được (đỏ mặt, tươi cười…) và cả
những gì không thấy được (suy nghĩ, cảm nhận…). Vấn đề là làm sao biến các hành vi
quan sát được cũng như không quan sát được thành ra những con số cụ thể. Chẳng hạn,
nhà trị liệu ghi nhận cứ khoảng 2 phút là bắp thịt ở mặt người thân chủ bị giật một lần,
hoặc được thân chủ cho biết rằng trong một ngày anh/cô ta đã có khoảng 5 lần nghe có
tiếng người nói trong óc xúi dục phải giết người hàng xóm.
Một hành vi thường được đo lường theo 3 cách: tần suất, thời ky, và khoảng tạm
ngừng. Đo lường tần suất đơn giản chỉ là đếm hành vi đó xảy ra bao nhiêu lần trong một
khoảng thời gian. Chẳng hạn, một thân chủ nghiện thuốc lá cho biết anh hút mỗi ngày 20
điếu thuốc. Đo lường thời kỳ là đo lường khoảng thời gian kéo dài, từ lúc bắt đầu cho đến
khi chấm dứt của một hành vi. Chẳng hạn, mỗi lần thân chủ khóc thì khóc trong bao lâu,
hay mỗi lần học bài thì ngồi học với sự tập trung được bao lâu. Đo lường khoảng cách
tạm ngừng tức là quan sát những khoảng cách giữa các thời kỳ ngơi nghỉ của một hành vi
xảy ra như thế nào, đều đặn hay bất thường, nhanh hay chậm, thưa thớt hay dày đặc.
Chẳng hạn, thân chủ lên cơn động kinh mỗi tháng một lần, hay có khi cả ba tháng mới
xảy ra một lần.
3.2.

Thang tự lượng giá
115

Thang tự lượng giá là một phương thức đo lường rất uyển chuyển, có thể sử dụng
cho nhiều vấn đề và trong nhiều tình huống. Chẳng hạn, nhà trị liệu và thân chủ cùng
thiết lập một thang lượng giá về cảm giác buồn khổ để thân chủ dựa vào đó tự đo lường
cảm giác của mình. Thang lượng giá bao gồm dãy số từ 1 đến 10, tức là từ mức độ ít nhất
cho đến nhiều nhất của cảm giác buồn khổ, và mỗi con số đều có khoảng cách đều nhau,
như vậy con số 5 nằm ở giữa biểu thị cảm giác buồn khổ ở mức độ trung bình. Căn cứ
vào các con số trên thang lượng giá, thân chủ có thể tự đánh giá mức độ buồn khổ của
mình đang ở mức nào.
3.3.

Thang điểm

Thang điểm cũng được thiết lập như thang tự lượng giá, nhưng chỉ khác một điểm
là nó không phải để dùng cho thân chủ, mà được sử dụng bởi người khác (nhà trị liệu,
thân nhân…). Thang điểm là công cụ thường dùng cho các trường hợp thân chủ là trẻ em,
hay người khuyết tật, bệnh nhân không có khả năng tự mình lượng giá. Hoặc trong những
trường hợp đặc biệt như các cuộc thi cử, phỏng vấn…trong đó một nhóm hay một người
nhân viên duy nhất được giao phó trách nhiệm sử dụng thang điểm để đánh giá đối
tượng.
3.4.

Sổ tay thân chủ

Sổ tay thân chủ là những ghi chép của chính thân chủ, như nhật ký hay tờ giấy
giao phó cho thân chủ ghi xuống những gì thân chủ làm, suy nghĩ, cảm nhận mỗi ngày.
Sổ tay thân chủ sẽ giúp cho nhà trị liệu có thêm thông tin để đánh giá những vấn đề hiện
tại của thân chủ. Các chuyên gia liệu pháp nhận thức hành vi thường khuyến khích thân
chủ hãy dùng sổ tay để viết lên những cảm nghĩ, ý tưởng hằng ngày của họ để sau đó
dùng những thông tin này cho buổi trị liệu kế tiếp.
3.5.

Đo lường kín

Đo lường kín là các cách mà nhà trị liệu nhận xét và đánh giá những hành vi của
thân chủ không công khai, ngoài sự hiểu biết của thân chủ. Vì các công cụ trắc nghiệm
công khai, trong nhiều tình huống, thường có thể ảnh hưởng hay thay đổi hành vi, lối ứng
xử của thân chủ, nên cũng cần có cách đo lường kín để thêm vào cho sự nhận xét về
những vấn đề của thân chủ. Có nhiều cách đo lường kín khác nhau; chẳng hạn, quan sát
những mẫu tàn thuốc thân chủ để lại trên khay, nhận xét những khác biệt giữa cử chỉ và
lời nói, xem các ghi chú trong hồ sơ, học bạ, v, v…
116