Tải bản đầy đủ
Vài ví dụ điển hình về phương pháp chẩn đoán một ca bệnh

Vài ví dụ điển hình về phương pháp chẩn đoán một ca bệnh

Tải bản đầy đủ

lâm sàng, bao gồm bác sĩ tâm thần, bác sĩ tâm lý, chuyên viên tâm lý trị liệu, chuyên viên
tâm lý xã hội, các tham vấn viên…Điều lưu ý là những chuyên viên được giao phó công
việc chẩn đoán phải là người có đủ trình độ học vấn chuyên ngành và phải biết sử dụng
cuốn DSM hoặc cuốn ICD.
Như đã nói ở trên, ICD-10 và DSM-5 không có gì khác nhau về các bản danh sách liệt
kê các thứ loại bệnh, nhưng chỉ khác nhau về mã số bệnh đi kèm. Lưu ý là những ví dụ
nêu ra dưới đây chỉ là những kịch bản được giả thiết để thuận tiện cho việc đánh giá và
chẩn đoán; vậy nếu những chi tiết nào trong các ví dụ có sự tương tự hay trùng lặp với
thực tế bên ngoài thì đều không phải là dụng ý của tác giả.
Ví dụ 1:
Hùng năm nay 19 tuổi đang học năm thứ nhất tại một trường cao đẳng, là đứa con trai
đầu trong một gia đình có ba anh em, sinh ra và lớn lên với những phát triển bình thường
về thể chất. Hùng thuộc loại học sinh thông minh, với thành tích khá tốt trong nhiều năm
học, nhưng lại là đứa trẻ nóng tánh, thường có những cơn tức giận không kiềm chế kể từ
khi còn tấm bé. Lúc 7 tuổi, một lần vì giận mẹ Hùng đã ném cái kềm sắt vào màn ảnh
TV. Lúc 10 tuổi, khi đang đi dạo phố, Hùng đột nhiên nổi cơn giận dữ, đâm đầu chạy ào
ra đường giữa lúc xe cộ đang tấp nập chỉ vì đòi mua một đồ chơi mà cha em không cho.
May mắn là lúc đó Hùng đã không bị tai nạn nào.
Cha mẹ thường phàn nàn và buồn rầu về tánh tình nóng nảy và bốc đồng của Hùng,
nhưng họ không biết làm sao để sửa đổi tánh khí con mình. Đặc biệt sáng nay dù đã đến
giờ đi học nhưng vẫn chưa thấy Hùng xuất hiện tại bàn ăn. Mẹ vào phòng và phát hiện
Hùng vẫn đang nằm mê man trên giường, bên cạnh là một lọ thuốc ngủ trống rỗng. Mẹ
đoán chuyện không hay nên tức tốc đưa Hùng đến phòng cấp cứu.
Ngoài vấn đề tiểu sử về sức khỏe, học vấn, và sinh hoạt, cha mẹ đã nói nhiều với bác
sĩ về tính nóng nảy và bốc đồng của Hùng như là cố tật bẩm sinh, và những hành vi kỳ lạ
mới xảy ra gần đây. Vài tuần trước đây, cha mẹ thấy con mình hay thốt ra những tràng
cười rũ rượi và hay nói lảm nhảm những điều gì trong miệng với ánh mắt có vẻ xa lạ, bí
hiểm. Ban đêm Hùng thường khóc khi nằm một mình trong phòng ngủ. Hùng vẫn tiếp tục
đi học mỗi ngày, nhưng ăn uống rất thất thường và ít hơn trước. Hùng nổi lên cơn giận dữ
khi mẹ gợi ý anh nên đi gặp bác sĩ để khám bệnh. Anh đột nhiên chạy vào nhà bếp định
lấy dao đâm vào người, nhưng cha mẹ đã ngăn lại được. Trong cơn giận dữ ấy Hùng đã
thốt ra câu nói mà chẳng ai hiểu được: “Tao sẽ giết mày…giết mày để mày không còn ăn
ngủ với người yêu của tao …”
103

Qua mấy tuần nằm viện, sau khi sức khỏe đã hồi phục, Hùng tiết lộ với bác sĩ rằng
trong mấy tuần lễ liên tiếp anh bị choáng ngợp với tiếng nói của một người con gái văng
vẳng từ bên tai rằng dù cô ta đang yêu Hùng nhưng cô đang liên tục bị ức hiếp tình dục
bởi T, một anh chàng học cùng lớp. Tiếng nói càng lúc càng hối hả, xúi dục Hùng phải
giết cho được T. Hùng nói với bác sĩ rằng anh không hình dung rõ người con gái thường
xuyên chuyện trò trong đầu mình là ai. Nhưng anh thú nhận trong thời gian qua anh có
ngỏ lời yêu thương với cô bạn học cùng lớp tên là TL, và bị cô cự tuyệt rất tàn nhẫn nên
sau đó anh rất buồn khổ. Một thời gian sau Hùng lại nghe một giọng nói khác, lần này là
giọng nói của một người đàn ông tự xưng là người của cõi thánh, khuyên Hùng rằng nếu
muốn có đủ sức mạnh để giết được người tình địch này anh phải trở thành người của cõi
thánh, và như vậy phải tự huỷ hoại thân xác mình trước đã. Đó là lý do Hùng đã quyết
định uống thuốc tự tử.
Đánh giá và chẩn đoán:
Tổng hợp các sự kiện cho thấy Hùng có đủ các triệu chứng của bệnh tâm thần phân
liệt, pha trộn với những giai đoạn ngắn Hùng có các triệu chứng trầm cảm như buồn khổ,
giận hờn, nóng nảy bất chợt, mất ngủ, ăn uống thất thường, khóc lóc, mất tập trung trí óc,
mất tự tin, cô đơn, hành động tự vận. Các triệu chứng nổi bật của Hùng là hoang tưởng
(có ý nghĩ thù địch với người tình địch ảo), ảo giác (nghe tiếng người nói bên trong
đầu)...
Trục I:
-Tâm thần phân liệt, dạng Hoang tưởng [(295.30) Schizophrenia, Paranoid Type]
(ICD 10: F20)
Những triệu chứng nặng của bệnh Trầm cảm (Major depression) của Hùng trong
trường hợp này dù có ghi nhận nhưng loại bỏ (rule out) (nghĩa là có chú ý các triệu chứng
trầm cảm nhưng không ghi vào trục này) vì các triệu chứng này chỉ có tính cách ngắn
ngủi, giai đoạn và thông thường các bệnh nhân Tâm thần phân liệt cũng có những triệu
chứng trầm cảm theo từng giai đoạn.
Trục II: Không có
Trục III: Không có
Trục VI: Không có
104

Trục V: Chức năng sinh hoạt tổng quát (GAF) = 50 (hiện tại), 40 (quá khứ)
Lưu ý: Cần để ý các mã số khác nhau giữa DSM và ICD đối với căn bệnh của
Hùng. Phần đánh giá và chẩn bệnh cho Hùng tương đối đơn giản vì anh đang có những
triệu chứng rõ nét về hoang tưởng và ảo giác, và lại xảy ra vào khoảng tuổi từ 17 đến 35,
tức là khoảng tuổi được ghi nhận là cao điểm cho sự bộc phát bệnh tâm thần phân liệt.
Hùng không có điều gì đáng ghi nhận trong các Trục II, III và VI. Phần đánh giá chức
năng sinh hoạt tổng quát ở Trục V là phần nhận xét chủ quan của nhà trị liệu.

Ví dụ 2:
Ông Hạnh năm nay 65 tuổi, sống cô độc trong một căn hộ nhỏ tại trung tâm một thành
phố lớn. Ông là một cựu thương binh, vợ đã chết vì bệnh ung thư cách đây 3 năm và hai
đứa con trai có gia đình đang ở tại một tỉnh xa. Ông Hạnh sinh sống với số tiền hưu ít ỏi
của mình. Bạn bè hình như nay chẳng còn ai, và những lần ra phố chợ để mua vật dụng,
ông cũng chẳng gặp ai quen biết để có dịp thăm hỏi, chuyện trò. Sống tại đây đã hơn 10
năm nhưng bao giờ ông cũng thấy thành phố này quá xa lạ và tẻ nhạt, và đã từ lâu ông
cảm nhận mình như một kẻ vô dụng, lỗi thời, cô đơn và xa lạ, đang bị xã hội đào thãi và
bỏ rơi.
Ông cũng thường nhớ lại những nỗi thống khổ trong quảng đời son trẻ đã phải trải
qua. Xuất thân từ một gia đình nghèo khó nên cả ông và hai người em chỉ được học hành
qua quít vài ba năm ở bậc tiểu học, và dù còn bé nhỏ cũng đã phải làm lụng nhọc nhằn để
phụ giúp cha mẹ. Từ lúc 6 tuổi ông đã chứng kiến những cảnh đau lòng và uất hận với
những trận đòn và chửi bới của người cha vào những buổi tối khi ông ấy trở về nhà trong
cơn say khướt. Nhà đã nghèo khó nhưng trong cơn say cha ông thường đập vỡ và ném
liệng bất kể thứ gì thấy trước mắt. Ông cũng đã từng khóc thầm khi chứng kiến cảnh mẹ
ông đã phải van xin, khóc lóc, lạy lục những kẻ thường đến đòi nợ, có khi chỉ vài ký gạo
không thể trả được. Những nỗi khổ nhục liên tiếp xảy ra trong suốt tuổi trẻ cho đến khi
ông rời gia đình để vào quân ngũ. Quãng đời sau này của ông cũng gặp toàn chuyện bất
hạnh và rủi ro. Ông đã bị thương hai lần, vợ thì thường hay đau yếu, và hai đứa con trai,
sau khi lập gia đình riêng là đi biệt, không quan tâm đến cha mẹ già.
Tóm lại, ông Hạnh mang tâm trạng rằng cuộc đời ông chỉ là một chuổi bất hạnh và
buồn thảm. Những ý nghĩ tiêu cực cứ lãng vãng trong đầu, cộng thêm bệnh loét bao tử và
105

cơ thể luôn thấy nhức mỏi, giờ đây ông H luôn cảm thấy cô đơn, buồn tủi, uất hận, ăn
ngủ thất thường, thấy mình vô dụng và chẳng tha thiết gì đến sự sống nữa.
Đánh giá và chẩn đoán:
Ông Hạnh có những triệu chứng trầm cảm tuy nhẹ nhưng dai dẳng, với tâm trạng tiêu
cực, vô dụng, cô đơn, sầu não, chán chường, ăn ngủ kém cỏi, mất tính năng động, thường
có hồi ức về những chuyện xưa và thất vọng với số phận...
Trục I:
-Trầm cảm, dạng Thứ đẳng [(300.4) Dysthymic Disorder] (ICD 10: F34.1)
Trục II: Không có
Trục III: Bệnh loét bao tử, đau nhức cơ thể
Trục IV: Sống cô độc, không bạn bè, con cái không quan tâm, eo hẹp về lợi tức.
TrụcV: GAF hiện tại: 60, qúa khứ: 60

Ví dụ 3:
Hải là học sinh lớp 4 tại một trường tiểu học cạnh nhà. Chỉ chưa đầy 3 tháng đầu năm
với thành tích học vấn quá kém khiến nhà trường phải mời cha mẹ đến nói chuyện. Trong
những năm học trước đây Hải cũng là một học sinh thường có vấn đề, nhưng dù sao em
vẫn được nâng đỡ để lên lớp mỗi năm. Tuy thế năm nay lại còn tệ hơn, trong lớp học Hải
luôn tìm cơ hội để chuyện trò ồn ào, lay hoay không yên, quay qua quay lại quấy rầy bạn
cùng lớp và chẳng để tâm chú ý đến lời giảng bài của cô thầy. Giờ ra chơi lúc nào Hải
cũng rất hiếu động, chạy nhảy liên tục và hay xô đẩy những bạn học đứng bên cạnh. Hải
thường bị cô giáo khiển trách vì ít khi chịu làm xong những bài tập ở nhà.
Qua trao đổi với nhà trường, cha mẹ cũng thừa nhận dạo này tâm tánh Hải có nhiều
thay đổi tệ hại hơn. Hải có vẻ như thiếu tự chủ, trở nên gắt gỏng, dễ nóng giận, và sẵn
sàng gây gổ với mấy anh chị và các bạn cùng trang lứa quanh hàng xóm. Đôi khi em tỏ
thái độ giận hờn, uất ức khi mẹ nhờ làm giúp một vài việc đơn giản trong nhà. Việc ăn
106

ngủ của Hải cũng thất thường, có khi em ăn thật nhiều và ngủ ly bì suốt ngày, có khi em
không chịu ăn uống và thức đến quá nửa khuya. Tuy nhiên, cha mẹ không quan tâm lắm
vì thấy sức khỏe của con mình vẫn tiếp tục bình thường, chưa có dấu hiệu gì gọi là đau
ốm.
Với những thông tin đầy đủ về Hải, nhà trường đề nghị cha mẹ đưa em đi gặp bác sĩ
tâm lý để có thêm sự tham vấn. Nhà trường nhận định rằng về mặt trí tuệ Hải là đứa bé
nhanh nhẹn, dễ tiếp thu, nhưng vì cá tính hiếu động và vì không có khả năng kiên trì chú
ý nên sức học của em càng ngày càng sụt giảm.
Đánh giá và chẫn đoán:
Trục I:
-Tăng động/giảm chú ý, Dạng kết hợp [(314.01)- Attention Deficit-Hyperactivity
Disorder, Combined type] (ICD 10: F 90.0)
Trục II: Không có
Trục III: Không có
Trục IV: Không có
Trục V: GAF hiện tại: 60, quá khứ: 65

Ví dụ 4:
Hoa là người đàn bà 35 tuổi, có chồng và một đứa con 2 tuổi. Sáng nay cô trở lại
phòng khám để xem các kết quả thử nghiệm liên quan đến những cơn đau thắt trong ruột.
Kết quả các cuộc thử nghiệm cho thấy không có vấn đề gì về sức khỏe thể chất, vì vậy
bác sĩ cho rằng Hoa đang bị stress và khuyên cô nên tạo nhiều điều kiện để được nghỉ
ngơi yên tĩnh, điều hòa cách ăn uống, tránh làm việc quá sức và luôn cố giữ tinh thần
thoải mái. Nhưng sau một tháng, dù làm theo mọi chỉ dẫn của bác sĩ, những cơn đau thắt
vẫn tiếp tục hoành hành thảm hại, nên Hoa phải trở lại gặp bác sĩ để tái khám. Lần này,
sau khi nghe Hoa tiết lộ câu chuyện buồn phiền và rắc rối giữa cô và người chồng, bác sĩ
chuyển cô đến cho một bác sĩ tâm lý trong khu vực.
107

Tại văn phòng bác sĩ tâm lý, Hoa tâm sự rằng lâu nay cô rất đau khổ và phẩn uất vì
biết chồng cô đang lén lút liên hệ với một người đàn bà và họ vừa có với nhau một đứa
con. Cô đã ưu tư, trăn trở, tìm kiếm biện pháp để giải quyết vấn đề, nhưng đầu óc cứ bận
rộn, mông lung suy nghĩ, không biết phải làm sao. Kể từ đó tinh thần cô dần dần sa sút,
ăn ngủ thất thường, công việc càng ngày càng bỏ bê. Nhưng Hoa cũng đã đưa ra hai giải
pháp cho người chồng lựa chọn. Một là anh ấy phải cắt đứt liên hệ với người đàn bà và
trở về với gia đình, hai là cô sẽ đưa đơn xin ly dị. Tuy vậy, chồng cô lại không muốn
chọn giải pháp nào cả. Anh ta vẫn tiếp tục sống trong gia đình và vẫn thường xuyên bí
mật lui tới với gia đình thứ hai của mình.
Càng về sau càng có nhiều trận cãi vã, xô xát xảy ra giữa hai người. Nhiều đêm thao
thức với những ưu tư về cuộc sống, Hoa nhớ lại những kinh nghiệm đau đớn đã từng trải
qua trong tuổi ấu thơ. Ở tuổi lên 6 cô đã chứng kiến những lần mẹ và người cha ghẻ chửi
rủa, đánh ghen nhau thật thậm tệ. Đó là những hình ảnh đã gây ra nhiều sang chấn trong
tâm trí mà cô không bao giờ quên được. Những trải nghiệm buồn đau trong tuổi thơ
chồng chất lên nỗi buồn đau trong thực tại làm cô càng tuyệt vọng hơn, và vào lúc này
đột nhiên những cơn đau quằn quại trong bụng bắt đầu nổi lên cứ mỗi đêm về khi cô
bước vào giường ngủ.
Đánh giá và chẩn đoán
Những triệu chứng dai dẳng và mỗi ngày một trầm trọng thêm, như lo lắng, tức giận,
quẩn trí, ăn ngủ thất thường, cảm giác mệt mõi và tuyệt vọng...vì không giải quyết được
vấn đề của người chồng là nguyên nhân khiến thân chủ đột nhiên bị những cơn đau thắt ở
phần bụng. Như vậy những yếu tố tâm lý đã tác động mạnh làm ảnh hưởng trầm trọng
vào sức khỏe thể chất.
Trục I:
-Bệnh tâm thê [(316) Psychological Factors Affecting Medical Conditions] (ICD
10: F 54).
Trục II: Không có
Trục III: Cơn đau thắt ở phần bụng
Trục IV: Quan hệ vợ chồng gặp rắc rối

108

Trục V: GAF hiện tại: 55 , quá khứ: 75
--------------------------------------------------

Câu hỏi:
1- Rất nhiều thông tin về người thân chủ cần phải được tìm hiểu trong cuộc phỏng

2345-

6-

vấn đầu tiên, nhưng theo anh/chị thì điều gì là quan trọng nhất cần phải biết rõ
ngay từ đầu?
Theo anh/chị thì tại sao cần phải thiết lập hồ sơ trị liệu cho mỗi thân chủ?
Có rất nhiều lý do để cho một thân chủ từ chối (chấm dứt) cuộc trị liệu ngay từ sau
phiên gặp đầu tiên. Theo anh/chị thì những lý do nào là chính yếu?
Đối với những thân chủ không đủ khả năng trí tuệ hay còn quá nhỏ để hoàn thành
cuộc phỏng vấn thì anh /chị sẽ phải làm gì để tiếp tục ca trị liệu?
Anh/chị cần nhanh chóng làm gì khi một thân chủ đang trong cơn rối loạn tinh
thần cấp tính (ví dụ, có thái độ hoảng hốt, la hét, cử chỉ kỳ lạ, nguy hiểm, hay tấn
công…)?
Anh/chị hãy tự mình nghĩ ra một phương pháp về cách trắc nghiệm óc phán đoán
của thân chủ để bổ túc thêm cho các thí dụ đã trình bày trong chương sách?

109

CHƯƠNG 7

TRẮC NGHIỆM TÂM LÝ
Kể từ mấy ngàn năm trước trong các nền văn minh cổ đại của Hy Lạp và Trung hoa,
nhân loại đã từng áp dụng trắc nghiệm tâm lý. Trong thời ấy những cá nhân muốn được
tiến cử vào các hàng quan lại thường phải trải qua một cuộc thi viết, qua đó cá nhân được
nhận xét và đánh giá về trình độ văn hoá, nhận thức, năng khiếu, v, v…Tuy nhiên, mãi
cho đến đầu thế kỷ 20 các dụng cụ trắc nghiệm tâm lý mới bắt đầu được phát triển và phổ
biến rộng rãi, dựa trên những tiêu chuẩn đã được thống kê và các phương thức có tính
khoa học để có thể ước tính, đo lường các khía cạnh của cảm xúc, hành vi và chức năng
trí tuệ của cá nhân. Nói cụ thể hơn, ngày hôm nay các dụng cụ trắc nghiệm tâm lý thường
dùng các hình thức thang điểm và những con số tượng trưng để đo lường và đánh giá cá
nhân qua các mặt như, trình độ học vấn, cá tính, năng khiếu, động cơ, trí thông minh, trí
nhớ, cảm xúc, tập quán, triệu chứng, v, v… Hiện nay đã có cả ngàn loại dụng cụ trắc
nghiệm tâm lý khác nhau được các chuyên gia giới thiệu để sử dụng cho nhiều lãnh vực
nghề nghiệp khác nhau.
Đặc biệt trong ngành trị liệu tâm lý tâm thần, trắc nghiệm tâm lý là những công cụ rất
thông dụng, luôn cần có để góp phần vào việc tìm hiểu, đánh giá, xác định các vấn đề cuả
thân chủ trong tiến trình thăm khám và chữa trị. Chẳng hạn, nhà trị liệu sử dụng bảng trắc
nghiệm BDI (Beck Depression Inventories) như là công cụ để hỗ trợ thêm cho những
nhận xét và đánh giá của mình về mức độ triệu chứng trầm cảm của một thân chủ.
1. Hình thức đo lường trong trắc nghiệm tâm lý
Đo lường trong trắc nghiệm tâm lý có nghĩa là áp dụng những phương pháp tính toán
có hệ thống để tìm thấy “một con số” làm biểu tượng cho “một sự kiện” đang diễn ra.
Nói cách khác, sự kiện đó được xem như là một biến số (variable), nghĩa là nó mang bản
chất vừa phụ thuộc và vừa biến chuyển. Trong tâm lý học lâm sàng, các biến số cần tìm
hiểu thường là: hành vi, ý tưởng, cá tính, cảm nhận, triệu chứng, v, v… của người bệnh.
Ví dụ, cơn đau có dãy biến số từ nhẹ đến nặng được biểu thị trên một thang điểm bắt đầu
từ số 1 đến 10, và người bệnh có cơn đau đang ở mức số 7.
Có 4 hình thức đo lường thường sử dụng trong trắc nghiệm tâm lý lâm sàng; đó là đo
lường theo sự chỉ danh (nominal), đo lường theo số thứ tự (ordinal), đo lường theo
110

khoảng tạm ngừng, hay khoảng ngơi nghỉ (interval), và đo lường theo ty số, hay ty lệ
(ratio).
- Cách đo theo sự chỉ danh có lợi điểm là nó cho thấy tính cách riêng biệt và độc lập
của mỗi con số tìm thấy, nghĩa là nó phân rõ sự khác biệt giữa cái này với cái kia. Chẳng
hạn, ta trắc nghiệm sự khác biệt về mặt tình dục giữa hai phái nam và nữ, điều này có
nghĩa là ta lấy hành vi tình dục làm một biến số chỉ danh.
- Cách đo theo số thứ tự cũng cho thấy tính cách riêng biệt và độc lập của mỗi biến
số, nhưng nói đến thứ tự có nghĩa là nói đến những con số được sắp xếp chặt chẽ theo thứ
bậc. Cách đo lường theo thứ bậc giúp ta so sánh sự khác biệt tương đối giữa các con số
được tìm thấy. Chẳng hạn, ta có thể so sánh sự khác biệt giữa triệu chứng thất vọng ở
mức 1 và triệu chứng thất vọng ở mức 5.
- Cách đo theo khoảng tạm ngừng, hay gọi là khoảng ngơi nghỉ, lại có được cả hai
đặc điểm là các biến số phụ thuộc đều vừa có tính cách biệt lập và vừa có thứ tự, nhưng
khác với cách đo theo thứ tự là nó luôn có sự cân đối giữa các con số trong dãy biến số.
Nói rõ hơn, tính cân đối giữa các con số trên dãy biến số có nghĩa là khoảng cách của
những khoảng tạm ngừng luôn luôn bằng nhau. Ví dụ, trên một dãy biến số của những
khoảng tạm ngừng rãi ra từ 1 đến 10, khoảng cách, hay là sự khác biệt giữa, 4 và 5 cũng
bằng với khoảng cách, hay là sự khác biệt giữa 7 và 8.
Cần lưu ý: Đặc điểm thứ nhất của cách đo lường theo khoảng tạm ngừng là nó không
thể có con số O (zero) tuyệt đối trên đồ biểu, Thứ hai, dù khoảng cách giữa các biến số có
sự cân đối, nhưng không có nghĩa là ta có thể đem nhân, chia, cộng, trừ các điểm số đó
với nhau để đoan quyết được tính chất khác biệt giữa các biến số đó. Ví dụ, dãy biến số
đều đặn của những khoảng tạm dừng trên dụng cụ hàn thử biểu không có nghĩa là ở mức
nóng 100 độ C thật sự chỉ là gấp đôi mức nóng của 50 độ C, hoặc là mức nóng ở 50 độ C
chỉ là gấp đôi sức nóng ở 25 độ C.
- Cách đo theo tỷ số, hay tỷ lệ, lại có tất cả các đặc điểm của ba cách đo lường đã nêu
trên, nghĩa là các biến số luôn có tính biệt lập, thứ tự, cân đối và có con số O tuyệt đối
trên thang đo. Ví dụ, thí sinh A được xếp vào loại thí sinh có tỷ lệ 97% trong kết quả
cuộc thi tuyển toán học vừa qua (có nghĩa là A được liệt vào thành phần của 3% thí sinh
giỏi). Nhờ có con số O trên thang đo mà việc áp dụng các phương thức đo lường theo
toán học thống kê cho các biến số thường được dễ dàng. Tuy nhiên, trong phạm vi tâm lý
học lâm sàng thực tế lại cho thấy các dụng cụ trắc nghiệm tâm lý dựa theo cách đo lường
theo cách lấy tỷ số ít khi được các chuyên viên thiết lập.
111