Tải bản đầy đủ
Kỹ năng giải quyết các vấn đề

Kỹ năng giải quyết các vấn đề

Tải bản đầy đủ

trong đó cảm xúc của thân chủ đang trong cơn kích động mạnh làm mất hết sự bình tĩnh
trong cử chỉ và lời nói của họ. Trong tình huống này, không nên có quá nhiều lời khuyên
can liên tục, hay những lời lẽ phản hồi quá sớm và nông cạn, vì làm như thế sẽ khiến
thân chủ có cảm tưởng rằng cảm xúc của mình đang bị nhà trị liệu cố tình ngăn chặn và
chối bỏ. Tuy nhiên, nếu có những câu nói đúng lúc và đúng chỗ thì sẽ giúp thân chủ cảm
thấy dễ chịu và thoải mái hơn khi họ đang muốn chia sẻ nỗi niềm thầm kín riêng tư của
họ. Chẳng hạn, sử dụng những câu nói để thể hiện sự nhận biết giá trị của cơn xúc cảm,
như: “Tôi thấy những cảm xúc đang biêu hiện trong cô là tự nhiên thôi, không thê nói có
gì sai hay đúng trong đó”, hay là: “Sự tức giận của cô cũng là thực tế thôi vì bình thường
trong tình huống đó nhiều người cũng phản ứng như cô vậy thôi”, hay: “Thật sự không
có gì quan trọng bằng việc bảo vệ cho sức khỏe của mình, vì thế cô cũng không nên quá
bận tâm ưu tư đê phải mất ăn mất ngủ với những vấn đề đó”.
Đặc biệt phải chú ý đến một số thân chủ dù bên ngoài có vẻ bình thường từ cử chỉ đến lời
nói, nhưng có những dấu hiệu cho thấy bên trong họ đang có những khủng hoảng, đổ vỡ
về mặt tình cảm có nguy cơ bộc phát thành những hành vi thiệt hại bất cứ lúc nào. Trong
trường hợp này, nhà trị liệu cần quan tâm, chú ý để phát hiện được những lúc có sự tương
phản, mâu thuẫn giữa lời nói và thái độ của thân chủ, và từng lúc nên đặt ra những câu
hỏi để thăm dò. Chẳng hạn, nhà trị liệu hỏi: “Tôi thấy cô đang kê chuyện về công việc
làm ở sở với tâm trạng hết sức bình thường, nhưng trong câu chuyện cô lại có những lời
lẽ thật cay đắng và hờn giận về một mối quan hệ nào đó. Tôi tự hỏi không biết đang có gì
không ổn về mặt tình cảm của cô không?” Nếu vì một số lý do nào đó mà thân chủ không
muốn hoặc cảm thấy chưa đúng lúc để nói thì nhà trị liệu không nên ép buộc, hối thúc;
tuy nhiên cần lưu ý và ghi chú trường hợp này để sắp đến khi có dịp thuận tiện sẽ nhắc lại
trong những phiên gặp kế tiếp.
Tuy nhiên, nhà trị liệu cũng cần phải thận trọng trong việc giải quyết vấn đề cảm xúc với
một số đối tượng trị liệu thuộc dạng rối loạn tâm thần trầm trọng, hoặc những đối tượng
đang trong cơn xúc cảm cao điểm và những đối tượng thuộc dạng không kiềm chế nổi
xúc cảm và đã có quá trình gây ra những hành vi hung bạo, nguy hiểm. Đối với các đối
tượng này, cách tốt nhất là hãy để cho họ cảm thấy khi nào cảm xúc của họ lắng xuống,
hoặc chính họ muốn đối thoại với nhà trị liệu, và theo đó nhà trị liệu sẽ có cơ hội tiến
hành tiếp công việc. Chẳng hạn, một thân chủ trong cơn loạn thần cấp tính sẽ có hành vi
la hét, nói năng hỗn loạn trong các phiên trị liệu đầu tiên. Đối với những ca trị liệu này,
ngoại trừ có những công việc cần làm với thân nhân hay người giám hộ, nhà trị liệu muốn
làm việc trực tiếp với thân chủ cũng phải đợi đến khi các cơn loạn thần của bệnh nhân dịu
xuống đã.
75

Khi những triệu chứng rối loạn cảm xúc của thân chủ trở nên lắng dịu là lúc nhà trị liệu
tiến hành các bước kế tiếp để giải quyết vấn đề cho họ. Thân chủ và nhà trị liệu cùng trao
đổi, bàn thảo và đánh giá vấn đề, tìm ra các phương án để hoàn thành mục đích trị liệu
theo yêu cầu của thân chủ. Trong tiến trình trao đổi và bàn thảo, nhà trị liệu cần áp dụng
nhuần nhuyễn các kỹ năng lắng nghe, kỹ năng đưa ra những câu hỏi thích hợp và đúng
lúc đúng chỗ, sử dụng các lối nói phản ánh, tái cấu trúc, và giải thích vào những lúc cần
thiết, như đã nói ở phần trên, để dẫn dắt thân chủ và những vấn đề của họ đi đúng vào
mục tiêu và thời hạn đề ra trong hợp đồng trị liệu.
Tóm lại, chúng ta vừa bàn qua một số các kỹ năng căn bản mà các chuyên viên trị liệu
tâm lý cần phải nắm vững trong khi hành nghề. Nhưng từ lý thuyết bước sang thực hành
vẫn luôn có một khoảng cách không nhỏ, và chỉ có kinh nghiệm trong thực tế sẽ giúp nhà
trị liệu rút ngắn dần khoảng cách đó. Những chuyên viên vừa được đào tạo chưa có nhiều
kinh nghiệm thực tế thì thường gặp phải nhiều lúng túng trong việc sử dụng các kỹ năng
đã nêu trên. Nhưng không phải vì thế mà sớm nản lòng, vì tâm lý trị liệu là loại ngành
nghề khó làm cho người chuyên viên, dù đã có nhiều kinh nghiệm, luôn tin tưởng rằng
mình sẽ là người thành công trong nghề. Thực hành tâm lý trị liệu không những đòi hỏi
phải có sự trau đồi liên tục kiến thức trong ngành nghề mà còn cần đến sự khôn khéo
trong các cách ăn nói, ứng xử với thân chủ. Cũng như một nhà ngoại giao có khả năng
đối đáp và tư thái linh hoạt, trôi chảy trong mọi quan hệ giao tiếp, nhà tâm lý trị liệu
không những cũng cần những kỹ năng như thế, mà còn phải trang bị cho mình một kiến
thức chuyên môn đầy đủ, một tấm lòng rộng mở, trung thực, luôn quan tâm đến những
mục tiêu lợi ích mà mỗi thân chủ của mình mong muốn.
------------------------------------

Câu hỏi:
1- Anh/chị hãy trình bày tổng quát những yếu tố gì cần phải có trong kỹ năng giao

tiếp của nhà tham vấn và tâm lý trị liệu?
2- Tại sao sự lắng nghe lại được xem là một hành vi tối quan trọng trong các mối
quan hệ giữa người với người?
3- Theo anh/chị thì bằng cách nào mà một nhà trị liệu có thể lấy được những thông
tin thuộc loại thầm kín và riêng tư từ thân chủ của mình?

76

4- Anh/chị phải đối xử như thế nào, nghĩa là phải thực hành ra sao cho đúng với nghề

nghiệp, khi phải đối mặt với một thân chủ vừa đang khóc lóc, hoặc tức giận và vừa
kể lễ một loạt nhiều câu chuyện rắc rối không có đầu đuôi về họ?

77

CHƯƠNG 5

TIẾN TRÌNH TÂM LÝ TRỊ LIỆU

1. Khái quát
Một ca tâm lý trị liệu thường diễn ra bằng một loạt phiên gặp nối tiếp giữa thân chủ
và nhà trị liệu để cùng nhau hoàn thành những mục đích và mục tiêu đã được hai bên đề
ra. Các phiên gặp thường diễn biến với khung thời gian dài hay ngắn để đạt được mục
tiêu trị liệu là tùy thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan của ca trị liệu đó. Nói
cách khác, bất cứ ca tâm lý trị liệu nào cũng đều có những yếu tố khách quan và chủ
quan, luôn có những đặc tính chuyển biến, hay gọi là những biến số (variables), và những
biến số này thường quyết định cho sự thành bại của mỗi ca tâm lý trị liệu.
Những biến số có khả năng tác động vào một ca tâm lý trị liệu bao gồm: -Tính chất,
mức độ, và tầm quan trọng của các triệu chứng bệnh lý hay vấn đề của thân chủ. -Các
biến số đặc thù thuộc về nhân cách, cá tính, động cơ thúc đẩy của thân chủ. –Những
nguồn hỗ trợ bên cạnh có khả năng giúp cho tiến trình thay đổi của thân chủ. -Kinh
nghiệm và kỹ năng hành nghề của nhà trị liệu. Và những tác động khách quan của tình
huống và hoàn cảnh hiện tại.
Trong một ca tâm lý trị liệu đặc trưng, có thể chia tiến trình trị liệu ra làm ba giai
đoạn; giai đoạn sơ khởi, giai đoạn giữa và giai đoạn kết thúc. Nói chung, giai đoạn nào
cũng là then chốt vì nếu chúng không được diễn biến suôn sẻ thì những mục tiêu cần đạt
tới cho ca trị liệu sẽ không thể nào hoàn thành.
Tùy theo tính chất và mức độ trầm trọng hay khẩn cấp của vấn đề mà lịch trình về
thời gian và tần suất ấn định cho mỗi ca điều trị đều khác nhau. Trong tâm lý trị liệu các
phiên gặp thường được ấn định mỗi tuần một lần cho những trường hợp bình thường.
Nếu có những vấn đề cần thiết hay khẩn cấp thì nhà trị liệu có thể yêu cầu gặp thân chủ
hai hay ba lần trong một tuần, với sự thỏa thuận của thân chủ. Ví dụ, thân chủ đang có
những triệu chứng cấp tính cần nhanh chóng giảm thiểu, hay thân chủ và gia đình đang
trong cơn khủng hoảng cần có sự can thiệp kịp thời của nhà trị liệu. Nếu là trường hợp
khẩn cấp có nguy cơ đến tánh mạng, ví dụ trường hợp tự tử, thì thân chủ phải được đưa
78

ngay vào bệnh viện dù bị cưỡng bách ngoài ý muốn của họ. Luật lệ trong ngành không
cho phép nhà trị liệu có sự bê trễ, chểnh mảng nào trong những trường hợp này.
Tuy nhiên, nếu trong khi điều trị thân chủ đột nhiên muốn gia tăng phiên gặp, chẳng
hạn hai ba lần mỗi tuần, mà không có lý do gì rõ ràng chính đáng thì nhà trị liệu phải xem
xét lại vấn đề thật kỹ càng, và nếu không phát hiện được điều gì hữu lý trong lời yêu cầu
của thân chủ thì cần phải từ chối. Lý do là trong thực tế luôn có những thân chủ thích
nắm quyền điều khiển, khống chế công việc đang làm của nhà trị liệu, nhất là những thân
chủ có các dạng cá tính giáp ranh (borderline personality) (tư tưởng tình cảm không
vững vàng, thay đổi nhanh chóng từ thái cực này qua thái cực khác, thường bốc đồng, phi
lý, lấn lướt trong các mối quan hệ), hay dạng ái ky (narcissistic personality) ( tính hống
hách, khoe khoang, trịch thượng, thích sai bảo, lợi dụng và ganh tị người khác).
Đối với những ca trị liệu mà qua thời gian thân chủ có nhiều tiến bộ và ổn định thì tần
suất các phiên gặp từ nay có thể được ấn định đưa ra; chẳng hạn phiên hẹn có thể ấn định
hai hay một lần mỗi tháng. Nếu tình hình tiến bộ của thân chủ càng ngày càng khả quan
hơn và mục tiêu điều trị đang ở mức thành tựu thì sẽ tiến đến giai đoạn chấm dứt ca điều
trị bằng cách sắp xếp một hay hai phiên hẹn gặp cuối cùng để tổng kết và đóng hồ sơ trị
liệu. Tất cả các công việc này đều cần phải có sự đồng ý của thân chủ.
Như đã nói, tiến trình trị liệu có khung thời gian dài hay ngắn là thường tùy thuộc vào
nhiều yếu tố chủ quan và khách quan liên quan đến mức độ và tính chất của những vấn
đề thân chủ nêu ra, những đặc tính thuộc về bản thân người thân chủ, và khả năng của
nhà trị liệu. Tuy nhiên, sự lựa chọn phương thức và kỹ thuật điều trị cũng có ảnh hưởng
đến độ dài của khung thời gian trị liệu. Chẳng hạn, liệu pháp phân tâm (psychoanalysis)
cho phép nhà trị liệu thiết lập mối quan hệ lâu dài, thường ít nhất là hai năm hay lâu hơn
nữa. Nhưng đối với một số liệu pháp khác, như liệu pháp nhận thức (cognitive therapy),
liệu pháp hành vi (behaviorism), liệu pháp nhân vị trọng tâm (client-centered therapy)…
thì thời gian điều trị thường được xắp xếp ngắn hạn, khoảng từ sáu tháng đến một năm.
Trong thực tế cũng có những ca trị liệu, vì nhiều lý do khác nhau, có tiến trình trị liệu kéo
dài đến nhiều năm vẫn chưa thể chấm dứt.
Nhà trị liệu là người cần chủ động về giờ giấc. Trước hết, chính mình phải giữ hẹn và
đúng giờ mỗi khi có phiên trị liệu; và khi vì những lý do khẩn thiết nào đó mà không giữ
được hẹn hay trễ hẹn thì phải thông báo và làm lại hẹn kịp thời để thân chủ biết rõ. Lúc
cần đi xa một thời gian lâu thì có thể chuyển số ca điều trị đang còn dỡ dang cho đồng
nghiệp để công việc điều trị cho thân chủ không bị gián đoạn. Cũng như thế, ngay từ buổi
đầu nhà trị liệu cần phải giải thích cho thân chủ hiểu rõ những lợi ích cụ thể trong việc
79

giữ hẹn và tuân thủ giờ giấc; luôn nhắc nhở thân chủ ngày giờ của phiên hẹn kế tiếp,
thường là trước một ngày của phiên hẹn; giúp thân chủ cách thức liên lạc và thông báo
cho phòng khám, hay cho nhà trị liệu, những khi bị trễ hẹn hay cần đổi lại giờ hẹn. Nhà
trị liệu cần linh động trong lịch trình ấn định các cuộc hẹn để có thể phù hợp với hoàn
cảnh và điều kiện hiện có về giờ giấc của thân chủ.
2. Giai đoạn đầu
Sau phiên gặp đầu tiên, với lượng thông tin đã thu lượm được qua cuộc phỏng vấn,
nhà trị liệu sẽ cùng thân chủ nhận dạng và xác định những vấn đề gì, những khó khăn nào
là mục tiêu chính yếu mà công việc điều trị sẽ phải hoàn thành. Thời gian này là lúc hai
bên phải thiết lập một hợp đồng trị liệu chính thức nếu trong phiên gặp đầu tiên đã chưa
làm được, hay chỉ được phát họa sơ sài. Nếu còn những tin tức cần bổ sung, hay cần có
cuộc trắc nghiệm bằng dụng cụ để xác định rõ hơn vấn đề, thì lúc này cũng là thời gian
thích hợp để hoàn thành. Nói tóm lại, nhà trị liệu phải cùng với thân chủ rà soát lại mọi
tin tức liên quan đến những vấn đề đã được nêu ra trước khi thỏa thuận đâu là những mục
đích và mục tiêu chính cần ưu tiên giải quyết, cũng như dự tính số lượng các buổi làm
việc và khoảng thời gian để hoàn tất mục tiêu đề ra.
Tất nhiên là vào lúc này, với số thông tin đã thâu thập, nhà tâm lý bắt đầu tính đến
việc cần sử dụng kỹ thuật và phương thức trị liệu nào để cho phù hợp với bản chất của
những vấn đề của thân chủ, cũng như phù hợp với những đặc tính cá biệt của thân chủ
trong ca điều trị. Tuy thế, những thông tin thâu thập được vào lúc này không có nghĩa là
đã được đầy đủ để có sự đánh giá xác đáng cho vấn đề của thân chủ. Các chuyên gia cho
rằng công việc đánh giá là một phần chính yếu và liên tục trong suốt tiến trình tâm lý
trị liệu. Việc đánh giá không cần thiết phải hoàn thành ngay trong cuộc phỏng vấn đầu
tiên, cũng như không vội phải có những phán xét gì có tính cách khẳng định vào lúc ấy.
Công việc đánh giá phải được hiểu là một nỗ lực chung giữa nhà trị liệu và thân chủ
xuyên suốt thời gian, theo đó cả hai cùng tiếp tục cố gắng khám phá ra nguyên nhân và
bản chất cốt lõi của các vấn đề thân chủ đã mang ra. Tóm lại, có thể nói đánh giá là một
công việc phải được liên tục quan tâm cho đến khi nào ca trị liệu chấm dứt.
Giai đoạn sơ khởi là lúc nhà trị liệu phải chủ động xây dựng mối quan hệ tốt, nghĩa là
phải xây dựng lòng tin giữa đôi bên. Nói rõ hơn, công việc điều trị sẽ không thể tiến hành
được nếu không có một sự tin tưởng hỗ tương giữa hai đối tượng trị liệu. Trong thực tế,
một số thân chủ khi bước vào phiên gặp đầu tiên thường có những phản ứng tự vệ, chối
bỏ, hồ nghi, ngại ngùng, có mặc cảm rằng mình là kẻ thua thiệt, đầu hàng, hay là người
có tội phải ăn năn, thú nhận trước một người xa lạ, một giới chức. Cũng có những thân
80

chủ khi bước vào phiên trị liệu không biết phải làm gì ngoài việc ngồi khóc, hoặc ngược
lại có những phản ứng đường đột giận dữ, không biết mình sẽ phải bắt đầu như thế nào
với một đối tượng đang còn xa lạ. Để phá vỡ những tảng băng đông cứng đó, điều cần
làm trước tiên là nhà trị liệu phải tỏ rõ thái độ sẵn sàng chấp nhận, nghĩa là biết rằng
công việc của mình là đón nhận hết mọi hiện trạng thực tế mà thân chủ có thể sẽ mang
đến trong buổi làm việc hôm nay.
Chấp nhận những thực tế và tình huống hiện có của thân chủ là điều cần thiết cho sự
khai thông tình trạng bế tắc ban đầu trong mối quan hệ. Thái độ chấp nhận sẽ giúp thân
chủ hiểu rằng những gì mình sắp nêu ra sẽ được nhà trị liệu tôn trọng, sẽ lắng nghe và
không phê phán hay qui kết vào tội lỗi. Thái độ chấp nhận của nhà trị liệu phải được thể
hiện qua những lời nói thành tâm, qua hành động kiên nhẫn lắng nghe, và qua những cử
chỉ ân cần trong diện mạo và tư thái. Chỉ khi thân chủ thấy được những dấu hiệu như thế
thì cuộc đối thoại giữa đôi bên hy vọng sẽ bắt đầu được mở ra trong chiều hướng thuận
lợi. Tóm lại, lòng tin là nền tảng chính yếu để xây dựng nên mối quan hệ tốt trong tiến
trình trị liệu.
Nhưng thái độ chấp nhận và lắng nghe không có nghĩa là nhà trị liệu phải đóng vai trò
phụ thuộc và thụ động, ngược lại phải có những cử chỉ và lời nói tích cực để thể hiện sự
quan tâm, cởi mở, hoà nhập và cảm thông với những vấn đề trình bày của thân chủ. Một
nhà trị liệu có kinh nghiệm thường biểu hiện những thái độ và phản ứng đúng nơi đúng
lúc và phù hợp trong các cách đối đáp và bàn luận, trong những lúc cần đưa ra các câu
hỏi, trong những cử chỉ tán thành, khuyến khích, hay ngay cả những phản biện để có cơ
hội khai triển thêm những vấn đề liên quan đến những gì thân chủ đang phát biểu...
Công việc kế tiếp của nhà trị liệu trong thời gian đầu là hướng dẫn và huấn luyện.
Hướng dẫn và huấn luyện là một phần quan trọng và chính yếu trong bản chất của công
việc tâm lý trị liệu. Khi bước vào cuộc trị liệu hầu như bất cứ thân chủ nào cũng muốn
được chỉ dẫn, học hỏi một điều gì đó, vì nếu không như thế thì hẳn là họ đã có thể tự giải
quyết được những vấn đề đang gây khó khăn cho họ rồi. Tùy theo mỗi trường hợp, thân
chủ có thể học những điều mới mẻ, những điều có sẵn trước mắt nhưng chưa bao giờ
quan tâm tới, những điều đã biết nhưng đã quên đi, những điều dù đã nhận thức nhưng
vẫn chưa hoặc không áp dụng được, và ngay cả phải học cách làm sao biết quên đi những
điều thật sự đáng phải quên…Tóm lại, nhà trị liệu cần phải đóng vai trò như một hướng
dẫn viên, một nhà giáo để dẫn dắt và tập luyện cho thân chủ biết làm thế nào sử dụng
những kỹ năng, động cơ và các nguồn hỗ trợ hiện có để đạt được mục tiêu mình mong
muốn. Thân chủ cần kiến thức và kinh nghiệm của nhà trị liệu để hiểu được chính mình
81

và những vấn đề của mình, để rồi áp dụng chúng trong cuộc sống hòng giảm thiểu, vượt
qua hay sửa đổi những hư hỏng hay khuyết tật của chính mình.
Hướng dẫn và huấn luyện trong tiến trình trị liệu có thể bằng nhiều hình thức trực tiếp
và gián tiếp. Một số liệu pháp, như nhận thức hay hành vi liệu pháp, thường sử dụng các
bài thực tập (homework) hay các hình thức vai trò kiểu mẫu (modeling) như là những
công cụ hướng dẫn và huấn luyện trực tiếp để thân chủ tập làm theo. Hơn thế nữa, trong
trị liệu tâm lý nói chung, các chuyên gia vẫn thường áp dụng lối chỉ dẫn và huấn luyện
mang tính cách gián tiếp qua những câu nói gợi ý, ám chỉ, nhắc nhở, hoặc qua những cử
chỉ không lời, thái độ im lặng có hàm ý, v, v...
Một vài ví dụ về cách gợi ý để giúp thân chủ suy gẫm lại những cảm xúc và ý nghĩ
của mình. Chẳng hạn, nhà trị liệu đặt câu hỏi: “Trong tình huống đó cô suy nghĩ và cảm
thấy thế nào?”. Hoặc để nhắc nhở cho thân chủ nên nghĩ ra một hành động thích hợp nào
đó để đối xử với vấn đề, nhà trị liệu nói: “Theo cô khi anh ấy làm thế thì cô nên có phản
ứng ra sao?”. Hoặc khi thân chủ có vẻ cố tình quên đi một số nhân vật gần gũi và thân
thuộc có liên quan đến vấn đề hiện tại của họ, nhà trị liệu có thể đưa ra những câu nói có
tính cách bâng quơ, lơ lững, không mang tính cách ám chỉ hay phê phán như: “Cô có gì
đê nói về cha mẹ mình không?” để giúp thân chủ trở về với thực tế.
Thái độ im lặng hay là những cử chỉ không lời có chủ ý của nhà trị liệu, nếu được sử
dụng với sự thận trọng và đúng lúc đúng nơi, cũng rất cần thiết trong mối tương tác với
thân chủ. Thái độ im lặng của nhà trị liệu thường mang những ý nghĩa khác nhau. Nó có
thể là một dấu hiệu để thân chủ biết rằng nhà trị liệu không phải không hiểu gì, nhưng
không muốn phê phán hay chủ động giải quyết vấn đề cho thân chủ, và nó cũng có thể
mang dấu hiệu của một sự cảm thông với thân chủ… Nhà trị liệu nên có tư thái thế nào
để thân chủ hiểu rằng sự im lặng và tiếp tục lắng nghe của mình là một thái độ kiên nhẫn
có ý thức, và cũng để tạo điều kiện cho thân chủ có thì giờ suy nghĩ và tự tìm ra cách giải
quyết vấn đề cho chính mình.
Cần lưu ý là thái độ im lặng hoàn toàn khác với hành vi không nói gì cả. Duy trì sự
im lặng vào những lúc cần thiết, với mục đích giúp thân chủ có khoảnh khắc tự suy nghĩ
về vấn đề của họ thường được xem là một kỹ năng cần có của nhà trị liệu. Dù không
dùng đến lời nói, nó vẫn là một cử chỉ đáp lại tích cực và có ý nghĩa nếu được sử dụng
đúng nơi đúng lúc trong cuộc đàm thoại. Trong khi đó, hành vi không nói gì cả, nói đúng
hơn là sự câm lặng, trước một câu hỏi hay một vấn đề cần thiết phải có sự phản hồi lại
mang ý nghĩa khác. Nó cho thấy một tình trạng bế tắc, biểu hiện tính cách tiêu cực trong
82

cuộc đàm thoại, nó cho thấy sự thiếu linh hoạt, kém cỏi trong kỹ năng tương tác của nhà
trị liệu.
Chẳng hạn, một thân chủ đang trong thời gian cố tập luyện để bỏ một thói xấu rất có
hại cho bản thân, nhưng do bản tánh yếu đuối và tự nuông chiều, cô ta thú nhận rằng cứ
luôn bị thói hư tật xấu cũ quyến rũ. Đây là vấn đề đã được nhà trị liệu nhiều lần thảo luận
với thân chủ, cùng với những hướng dẫn, hỗ trợ, tập luyện và khuyến khích trong nhiều
phiên gặp trước, nên giờ đây dù cho thân chủ cứ tiếp tục than vãn, yêu cầu, nài nĩ thêm
điều gì, việc trước tiên là nhà trị liệu chỉ nên đáp lại bằng một cử chỉ im lặng, như là một
sự phản hồi có chủ đích để thân chủ hiểu được thái độ không vừa lòng của nhà trị liệu và
cũng để cho thân chủ suy ngẫm lại vấn đề của mình.
Một vấn đề khác nữa là nhà trị liệu phải luôn ý thức rõ những giới hạn của mình.
Trong bất cứ ca trị liệu nào cũng vậy, nhà trị liệu phải xem xét khả năng chuyên môn của
mình có phù hợp hay không với tính chất và mức độ của vấn đề. Như vậy không thể nôn
nóng lao vào công việc để rồi nửa chừng bị bế tắc, không đáp ứng được những gì thân
chủ đang trông đợi. Thân chủ nào cũng hay thăm dò, soi mói vào khả năng chuyên môn
cũng như các giới hạn của người đang làm công tác chữa trị cho mình; do đó, ngay từ đầu
nhà trị liệu nên nói rõ cho thân chủ biết họ có thể trông đợi những gì trong cuộc điều trị
này. Ví dụ, thân chủ đang điều hành một ca trị liệu với các triệu chứng trầm cảm, nhưng
sau đó thân chủ tiết lộ là cũng đang nghiện nặng một loại á phiện. Nhà trị liệu hiểu rằng
các triệu chứng trầm cảm luôn có liên hệ nhân quả với sự nghiện ngập; do đó, theo
nguyên tắc chữa trị, trong trường hợp này các triệu chứng trầm cảm phải được chữa trị
đồng thời và đi đôi với công việc cai nghiện mới mong có hiệu quả. Vậy nếu trường hợp
nhà trị liệu không có chuyên môn về cai nghiện thì trước hết phải chuyển thân chủ đến
một nơi chuyên môn khác.
Tóm lại, cũng còn nhiều điểm cần lưu ý trong giai đoạn sơ khởi của tiến trình trị liệu.
Chẳng hạn, tuỳ theo từng trường hợp, có thể còn có những vấn đề rắc rối, phức tạp được
thân chủ mang đến ngay trong cuộc gặp mặt đầu tiên khiến nhà trị liệu phải ngỡ ngàn, bối
rối và lúng túng không kịp thời xoay xở. Tương tự như thế, nhà trị liệu cũng phải thường
xuyên theo dõi những diễn biến trong ý tưởng, cảm xúc của chính bản thân mình trong
khi quan hệ với thân chủ. Nói chung, điều quan trọng là trong suốt tiến trình trị liệu,
trong khi quan tâm cứu giúp thân chủ mình, bản thân nhà trị liệu cũng phải cần chú ý và
kiên trì học hỏi để sửa chữa những sai sót và giữ vững trách nhiệm và công việc được
giao phó.

83

3. Giai đoạn giữa
Một ca trị liệu khi đã tiến vào giai đoạn giữa có nghĩa công việc điều trị đang có nhiều
thuận lợi. Nó cho thấy nhiều điểm tích cực trong mối quan hệ lâu nay giữa thân chủ và
nhà trị liệu. Chẳng hạn thân chủ đang có đủ những điều kiện khách quan và chủ quan để
tiếp tục giữ hẹn, những hình thức trị liệu đang diễn ra có chiều hướng phù hợp đối với
mục đích và mục tiêu yêu cầu của thân chủ, thân chủ đang có nhiều hy vọng và trông đợi
nhìn thấy được những kết quả. Mặt khác, khi ca trị liệu tiến được vào giai đoạn giữa thì
nó cũng cho thấy những nỗ lực không ngừng của nhà trị liệu, trong đó mối quan hệ trị
liệu giữa hai đối tượng rõ ràng đang được gìn giữ và duy trì tốt đẹp, và công việc làm của
nhà trị liệu, ở một mức độ nào đó, đang tạo ra niềm hy vọng và sự tin tưởng cho thân chủ
của mình.
Tuy nhiên, trong giai đoạn giữa của tiến trình trị liệu cũng thường xảy ra rất nhiều vấn
đề ngoài sự tiên đoán của nhà trị liệu. Nói rõ hơn là những gì thuận lợi đã diễn ra trong
cuộc điều trị cho tới giờ này chưa có gì chắc chắn để khẳng định ca trị liệu sẽ tiếp tục tiến
đến mục tiêu được đề ra mà không có những trở ngại trong những ngày sắp tới. Nhiều
cuộc thăm dò cho thấy hầu hết những trở ngại này có nguyên nhân từ những phản ứng
tiêu cực của người thân chủ.
Trong khi tiến trình điều trị đang diễn biến, có những thân chủ nửa chừng tự bỏ hẹn
và chấm dứt hợp đồng trị liệu vì nhiều lý do khó có thể lường trước được. Chẳng hạn, vì
hoàn cảnh gia đình hay công việc làm đột nhiên không cho phép, hoặc không có đủ điều
kiện thì giờ, tài chánh để tiếp tục, hoặc cảm thấy không tin tưởng vào kết quả của công
cuộc trị liệu, hoặc ngược lại cho rằng mục đích và mức độ trị liệu đến đây là đã đủ cho
mình rồi, hoặc là họ vẫn có niềm tin vào công việc của nhà trị liệu nhưng vẫn không đủ
kiên nhẫn để theo đuổi cho đến mục tiêu cuối cùng, v. v…
Cũng còn nhiều trường hợp đáng chú ý khác trong giai đoạn giữa của tiến trình điều
trị. Chẳng hạn, có những ca điều trị cứ bị dậm chân tại chỗ, lúc này tỏ ra có nhiều tiến
triển nhưng lúc khác lại trở nên trì trệ, thụt lùi không thể nào giải quyết được dứt khoát;
hoặc là khi vấn đề này vừa được giải quyết xong thì lại nổi lên một vấn đề phức tạp khác
cần tiếp tục trị liệu. Cả hai trường hợp trên thường rất phổ biến đối với những thân chủ
không có khả năng quyết đoán, tinh thần yếu mềm, thiếu động cơ thúc đẩy và không có
nguồn hỗ trợ của những người bên cạnh. Ngoài ra, kinh nghiệm cũng cho thấy đôi khi có
những thân chủ, vì những lý do nào đó, xem nhà tâm lý như là chỗ dựa tinh thần cho
mình, nên một khi đã bước vào mối quan hệ trị liệu rồi là không muốn bị chấm dứt sớm.
84

Công việc trị liệu ở giai đoạn giữa dù có nhiều thuận lợi, nhưng cũng không phải là
không tiếp tục đối đầu với những trường hợp khó khăn. Chẳng hạn, làm sao thay đổi hay
chấm dứt được một hành vi hoặc một thói quen đã trở thành cố tật của thân chủ nếu đó là
người hoàn toàn không có động cơ thúc đẩy cho mục đích trị liệu, không có niềm hy
vọng và sự trông mong vào thành quả của mục tiêu đã nêu ra, và đặc biệt đối với những
thân chủ không có ý muốn thay đổi? Trong những trường hợp như vậy thì thật khó có kỹ
thuật và phương pháp trị liệu nào có thể áp dụng thành công để làm thay đổi được thân
chủ.
Để giúp đối xử với những trường hợp nêu trên, nhiều chuyên gia đã đưa ra một số
kinh nghiệm. Việc trước tiên là nên tránh có sự đối đầu, chất vấn mà nên kiên nhẫn tiếp
tục hỗ trợ, nên có sự đồng cảm, chia sẻ với thân chủ những cảm xúc, ý nghĩ về sự khó
khăn trong vấn đề thay đổi hay chấm dứt thói quen, khuyết tật họ đang vướng mắc, và
luôn quan tâm đến những nỗi lo âu, sợ hãi, hay đau buồn của họ. Tóm lại, nhà trị liệu
phải làm việc với thân chủ trong cái khuôn khổ, hoàn cảnh và tình hình hiện có của thân
chủ; không nên nôn nóng, thúc vội, không nên tạo ra tình trạng căng thẳng trong mối
tương tác, không nên áp đặt lên đối tượng trị liệu những gì thuộc về cảm nhận và ý muốn
chủ quan của mình trong giai đoạn thân chủ chưa có ý muốn thay đổi.
Khi sự hỗ trợ và chia sẻ đã đến lúc thân chủ chấp nhận nhà trị liệu như là người đồng
hành trong những vấn đề của mình rồi, thì nhà trị liệu nên bắt đầu bước qua giai đoạn
giúp thân chủ nhận thức rõ sự sai trái trên nhiều góc cạnh của hành vi cũ và sự cần thiết
phải thay đổi. Đồng thời, nhà trị liệu bắt đầu giới thiệu và khuyến khích thân chủ tập
luyện một số các phương pháp thích hợp cho sự thay đổi. Tất nhiên, sự thay đổi nào cũng
rất khó khăn, đặc biệt là khi mới bắt đầu, vì nếu không thì thân chủ đã tự làm được và đã
không cần đến sự giúp đỡ của người khác. Do đó, trong khi kiểm tra cụ thể từng bước
tiến triển của thân chủ, nhà trị liệu cũng nên kiên trì, chấp nhận những thái độ hay phản
ứng tiêu cực, nếu có, của thân chủ.
Ngoài ra, mối quan hệ về mặt tình cảm giữa hai đối tượng trị liệu cũng là một vấn đề
đáng quan tâm. Thật vậy, do bản chất công việc của nhà trị liệu luôn được cho phép có sự
riêng tư và kín đáo, đồng thời với tác phong và hành động cứu giúp, hỗ trợ, chia sẻ, đồng
cảm, và khích lệ, nhà trị liệu là người rất dễ tạo ra nhiều ảnh hưởng sâu đậm lên tinh thần
và tình cảm của thân chủ. Đối lại, quá trình gần gũi, chia sẻ và cảm thông với những nỗi
niềm của thân chủ cũng làm cho nhà trị liệu dễ nảy sanh tình cảm riêng tư với thân chủ,
và lâu dần những cảm xúc yếu mềm và thiên lệch đó sẽ có những tác động tiêu cực cho
công việc trị liệu, nếu anh/cô ta không có sự vững tâm và cảnh giác.
85