Tải bản đầy đủ
Luật lệ và đạo đức trong nghề

Luật lệ và đạo đức trong nghề

Tải bản đầy đủ

Ngoài việc nắm vững luật pháp tại địa phương, nhà trị liệu còn phải tuân theo
những tiêu chuẩn đạo đức đặc biệt được yêu cầu cho nghề nghiệp. Tiêu chuẩn đạo đức là
cái mốc để mọi chuyên gia tuân theo, trong đó có một số tiêu chuẩn bắt buộc cho mọi
người, đó là đạo đức nghề nghiệp do luật ấn định, nhưng cũng có một số tiêu chuẩn
thuộc về lãnh vực giá trị cá nhân, đó là đạo đức và nhân cách riêng của mỗi người,
nghĩa là tùy thuộc vào quyết định hành xử của người chuyên viên đối với mỗi trường
hợp. Chẳng hạn, luật lệ thường không đặt ra tiêu chuẩn nhất định cho một người chuyên
viên tâm lý phải hy sinh bao nhiêu thì giờ và lợi ích của mình cho thân chủ. Do đó, trong
thực hành, mỗi chuyên viên có thể có những suy nghĩ và quyết định theo quan điểm riêng
của mình trên những vấn đề này.
Mục đích của công việc tham vấn và tâm lý trị liệu là luôn luôn giúp đỡ, đặt lợi ích
của người thân chủ lên trên hết. Nhưng trong thực tế phức tạp của cuộc sống, vấn đề nầy
đôi khi vẫn gặp phải nhiều khó khăn. Không phải dễ dàng cho nhà trị liệu có những giải
quyết hợp lý khi đứng trước sự tranh chấp giữa quyền lợi của cá nhân người thân chủ với
quyền lợi của người khác hay của xã hội nói chung. Như vậy, những yêu cầu của luật
pháp, các tiêu chuẩn đạo đức trong nghề, và những tiêu chuẩn giá trị của cá nhân người
chuyên viên là ba yếu tố mẫu mực làm nên cung cách hành nghề của nhà trị liệu.
Tóm lại, những nguyên tắc, luật lệ và tiêu chuẩn đạo đức ấn định trong nghề đòi
hỏi nhà trị liệu phải nghiêm chỉnh thi hành những điểm sau đây:
- Trước tiên nhà trị liệu phải có khả năng hành nghề. Khả năng hành nghề
của nhà trị liệu bao gồm kiến thức, kinh nghiệm, sự chu đáo và tính trung thực
trong công việc. Trình độ học vấn và kỹ năng nghề nghiệp của nhà trị liệu phải ở
mức tương đương với những đồng nghiệp đang hành nghề và phải được cộng đồng
xã hội sở tại chính thức chấp nhận. Trong thực hành phải biết áp dụng những kiến
thức đã được huấn luyện và có khả năng phán đoán tốt trong mọi trường hợp. Phải
chuyên cần và luôn có trách nhiệm trong công việc. Khi nhận một ca bệnh phải cố
gắng làm hết sức mình, không được bỏ nửa chừng. Nếu vì lý do nào đó không thể
tiếp tục thì phải chuyển thân chủ mình đến nơi thích hợp khác. Phải trung thực với
kiến thức và khả năng chuyên môn của mình. Phải thẳng thắn và chân thật cho
thân chủ biết những điều gì mình có thể làm được và những điều gì không thể làm
được để thân chủ không có những mong đợi viễn vông. Không được nhận bừa
những ca bệnh không nằm trong kiến thức và kinh nghiệm có sẵn của mình.
- Trong các hình thức soạn bài, viết sách, diễn thuyết, hội thảo, quảng cáo,
hoặc giới thiệu nghề nghiệp và công việc làm của mình, nhà trị liệu không được
55

nêu lên những tin tức giả dối và sai lạc, có mục đích đánh lừa công luận, nói
những điều vượt quá khả năng chuyên môn và kinh nghiệm mình đang có, và cũng
không được tiết lộ những tin tức có liên hệ trực tiếp đến những vấn đề riêng tư của
những thân chủ đã từng có dịp tiếp xúc hay làm việc với mình.
- Nhà trị liệu phải luôn nâng cao khả năng hiểu biết các kiến thức khoa
học có liên quan đến nghề nghiệp của mình. Trong khi đó cũng phải nhận biết rõ
những ảnh hưởng và tác động do niềm tin, giá trị, nhu cầu và những hạn chế trong
công việc làm của chính mình. Nhà trị liệu phải chân thật, khách quan, công bằng,
và biết tôn trọng mọi người. Không được cố tình tuyên bố những lời giả dối, lừa
mị, vu khống, hay cho những hướng dẫn sai trái để đánh lừa người khác. Không
được có những hành vi không đúng đắn, không nghiêm túc và bất hợp lệ liên quan
đến các công tác dạy dỗ, nghiên cứu, sáng tác, thu lệ phí... Phải luôn tham khảo
sách báo, cập nhật đầy đủ các thông tin có liên quan đến ngành nghề, và phải chịu
trách nhiệm với những lời tuyên bố, nội dung giảng dạy, phát hoạ, nghiên cứu,
sáng tạo, nếu có, của cá nhân.
- Đặc biệt trong các công trình nghiên cứu phải chú ý đến vấn đề đạo đức
và luân lý. Nếu thành phần tham gia cuộc nghiên cứu là con người thì phải cung
cấp đầy đủ thông tin về kỹ thuật, mục đích và tính chất thí nghiệm, tránh sự ô
nhiễm độc hại, và những mất mát, thiệt thòi cho người trong cuộc. Nếu thành phần
được thí nghiệm là con vật thì cũng phải xử lý với tính cách nhân đạo, nghĩa là
phải làm sao để giảm thiểu tối đa sự khó chiụ, đau đớn của con vật trước khi tử
vong trong trường hợp nhà nghiên cứu không thể có phương cách nào khác để giữ
lại mạng sống của nó sau cuộc thí nghiệm.
- Nhà trị liệu phải tôn trọng quyền lợi và phẩm giá của thân chủ. Không
vì lợi lộc cá nhân mà không quan tâm đến quyền lợi của thân chủ. Luôn luôn tuân
thủ luật lệ hiện hành và có trách nhiệm với cộng đồng và xã hội. Phải tôn trọng
thời biểu và giờ giấc làm việc và thông báo rõ ràng những thay đổi về giờ giấc làm
việc nếu có. Đặc biệt là phải cho mỗi thân chủ biết cách thức liên lạc với mình như
thế nào trong những trường hợp cần thiết hay có sự khẩn cấp. Ngoài ra, những khi
cần nghỉ ngơi hay phải đi xa, nhà trị liệu cũng cần phải thông báo sớm, đủ khung
thời gian cho thân chủ mình biết trước để làm hẹn lại. Đồng thời nhà trị liệu phải
cho thân chủ mình số điện thoại và địa chỉ rõ ràng của những đồng nghiệp hay
những nơi có thể giúp làm thế công việc của mình khi thân chủ có chuyện khẩn
cấp.
56

- Để điều hành một ca bệnh, nhà trị liệu phải có trách nhiệm tận tình với
những mục tiêu được đề ra, phải ghi chú đầy đủ mọi việc làm trong suốt tiến trình
trị liệu và hồ sơ của mỗi ca trị liệu phải luôn được lưu giữ. Mọi thông tin cá nhân
của thân chủ, dù tốt xấu hay đúng sai, đều phải được giữ kín, không được dùng
những thông tin này để bàn tán, trao đổi với bất cứ ai. Đây chính là hành động
biểu hiện tính đặc quyền và bản chất tốt đẹp của nghề tham vấn và tâm lý trị liệu.
Có thực hiện được như thế thì mới tạo nên lòng tin của thân chủ và công việc trị
liệu mới có giá trị.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tính cách kín đáo của hồ sơ thân chủ cũng có những giới
hạn của nó vì theo luật trong nghề ấn định, nhà trị liệu phải thường xuyên báo cáo định
kỳ những việc làm của mình với cấp trên trực tiếp, và đôi khi cũng sẽ phải giao nộp hồ sơ
thân chủ khi có sự yêu cầu của các giới chức trách nhiệm trong tòa án đối với những ca
trị liệu có dính líu đến tội phạm. Như thế để công việc được minh bạch và để có sự đồng
ý của thân chủ, nhà trị liệu phải thông báo những sự hạn chế này cho thân chủ ngay trong
những phiên gặp đầu tiên.
Mỗi ca trị liệu đều phải có sự đồng ý của thân chủ. Thân chủ phải ký vào mẫu
giấy bằng lòng (consent form) và mẫu giấy này phải được lưu giữ trong hồ sơ. Nếu thân
chủ là trẻ em hay vị thành niên, hoặc là người bị mất khả năng phán xét và quyết định, thì
phải có người giám hộ ký thay. Luật lệ đối xử với trẻ em, vị thành niên và những người
không đủ năng lực trí tuệ đôi khi khác nhau tùy theo mỗi địa phương, cho nên nhà trị liệu
phải nắm vững để hành xử đúng đắn. Chẳng hạn, tại Hoa Kỳ luật không bắt buộc nhà trị
liệu phải báo cho cha mẹ hay người giám hộ biết về tình trạng mang thai hay ý định trục
thai của trẻ vị thành niên, nhưng buộc nhà trị liệu phải báo cáo cho cha mẹ hay người
giám hộ biết khi có các trường hợp trốn học hay sử dụng cần sa, thuốc phiện của trẻ vị
thành niên.
Tuyệt đối tránh những trường hợp gọi là quan hệ song đôi (dual relationship),
nghĩa là không được có những hình thức quan hệ chồng chéo lên nhau giữa thân chủ và
nhà trị liệu. Mối quan hệ trị liệu chỉ được gói gọn trong nội dung và mục tiêu đã ghi trong
hợp đồng trị liệu, không thể lợi dụng mối quan hệ đó để lồng vào một nội dung sai trái
nào khác. Chẳng hạn, vừa là thân chủ vừa là tình nhân, hay người nhân viên, người giúp
việc, hay con nợ, v, v... Thực tế cho thấy, khi có những đặc quyền về tính cách riêng tư,
kín đáo được luật cho phép trong mối quan hệ trị liệu, cộng thêm khả năng thuyết phục,
dẫn dụ, giúp đỡ và ban ơn, một nhà trị liệu không biết tôn trọng luật pháp và thiếu sự tự
trọng sẽ rất dễ rơi vào những sai phạm.
57

Quan hệ song đôi luôn luôn có những nguy cơ có thể gây ra nhiều rắc rối, khó
khăn và làm tan vỡ hợp đồng trị liệu. Công việc trị liệu sẽ không còn tính khách quan và
hiệu lực nếu thân chủ trong mối quan hệ song đôi trở thành nhân vật hoặc được nuông
chiều, ưu đãi hoặc bị bắt nạt, lợi dụng. Ngành trị liệu tâm lý tâm thần tại Hoa Kỳ có luật
cấm nhà trị liệu có quan hệ song đôi dưới bất cứ hình thức nào với thân chủ mình ngay cả
sau khi mối quan hệ trị liệu đã được chấm dứt cho đến ít nhất là hai năm.
Ngoài ra, trong mối quan hệ trị liệu nhà trị liệu cũng phải nhận biết rằng có những
thân chủ có khuynh hướng hay cá tánh dễ bị lệ thuộc (dependency). Tất nhiên, trong mối
quan hệ trị liệu việc khích lệ thân chủ biết nghe lời và làm mọi việc theo chỉ dẫn của
mình là điều cần thiết. Nhưng nếu sự lệ thuộc ở một mức độ quá đáng, tình trạng này lại
khiến cho một số thân chủ mất hết sự tự chủ, sáng kiến, quyết đoán và động cơ tự sửa
đổi. Sự lệ thuộc quá đáng vào mọi chỉ dẫn của nhà trị liệu sẽ làm cho thân chủ loại này
không còn động năng phấn đấu và sự tự lực để tiến bộ, dẫn đến ý nghĩ không muốn đạt
mục tiêu để tiến đến kết thúc hợp đồng trị liệu. Tóm lại, đây là vấn đề rất uyển chuyển và
tế nhị, đòi hỏi cách làm việc đúng đắn trong nghề nghiệp của nhà trị liệu. Sự lệ thuộc cho
dù là một trong những điều kiện cần thiết để tiến trình trị liệu được diễn biến trôi chảy,
nhưng không thể vì vậy mà để tình trạng đó vượt qua mức độ làm thân chủ mất kết khả
năng tự phán xét và quyết định vấn đề của họ.
Như đã nói qua ở trên, để tạo sự tín cẩn (confidentiality) cho thân chủ, nhà trị liệu
không được tiết lộ ra ngoài mọi thông tin liên quan đến đời tư của thân chủ nếu không có
sự cho phép của chính họ hay của người giám hộ. Nhà tâm lý trị liệu, cũng như các luật
sư, bác sĩ, hay các cha cố, mục sư… là những người thường được công nhận có đặc
quyền được giữ tính kín đáo trong công việc chuyên môn của mình. Trong lời thề của các
tân bác sĩ khi làm lễ mãn khoá, được cho là xuất xứ từ ông tổ ngành y học, Hippocrates,
có đoạn nói: “Bất cứ điều gì tôi thấy, nghe và đàm đạo trong khi hành nghề với thân chủ
thì tôi sẽ hoàn toàn giữ bí mật, ngoại trừ những điểm được chấp nhận là không cần thiết
phải giữ kín cho thân chủ”. Nhà trị liệu không được đem những mẫu chuyện từng bàn
thảo với thân chủ mình để tiết lộ hay tán gẫu với người khác. Nếu phải cần đến thì nhà trị
liệu phải thay đổi, ngụy trang tên tuổi, nơi chốn, và những điểm cần thiết khác.
Tại Hoa Kỳ, cũng như ở nhiều quốc gia khác, để tôn trọng quyền được giữ bí mật
về đời tư cho những thân chủ liên quan đến lãnh vực tham vấn và trị liệu tâm lý tâm thần,
luật pháp không cho phép nhà tâm lý gặp mặt, trò chuyện với thân chủ mình ở những nơi
công cộng, ngoại trừ tại văn phòng làm việc. Khi ở chốn công cộng, nếu tình cờ gặp thân
chủ thì nhà trị liệu cũng phải giữ thái độ tự nhiên, tảng lờ như không quen biết thân chủ.
Nhưng trong trường hợp chính thân chủ tự động chào hỏi nhà trị liệu và tự giới thiệu về
58

mối quan hệ giữa mình với nhà trị liệu trước với mọi người, thì đây là thuộc về quyết
định của thân chủ, không còn thuộc trách nhiệm của nhà trị liệu nữa.
Một trường hợp khác, nếu trong một dịp nào đó một thân chủ tỏ lời khẩn khoản
yêu cầu được gặp nhà trị liệu ở một nơi công cộng hay hẹn gặp trong một buổi họp mặt,
tiệc tùng… thì nhà trị liệu có nên đồng ý với thân chủ không? Luật lệ trong ngành không
đi vào chi tiết về vấn đề này, vì vậy vấn đề nầy sẽ tùy thuộc vào sự phán xét và quyết
định của mỗi nhà trị liệu. Thông thường nhà trị liệu phải luôn luôn tỉnh táo và khách quan
để thấy rõ ý nghĩa của lời mời và mục đích của cuộc gặp gỡ, cũng như ảnh hưởng của nó
với nội dung công việc trị liệu đang diễn ra sẽ như thế nào, để từ đó có thể chấp nhận hay
từ chối lời yêu cầu của thân chủ.
Luật pháp ở một số nơi cũng có thể khác nhau về đặc quyền giữ bí mật. Ví dụ có
nơi buộc nhà trị liệu phải báo cáo ngay cho các giới chức những vấn đề liên quan đến
tình trạng trẻ em bị ức hiếp, đánh đập, những hành vi có thể đe dọa đến sự an toàn tánh
mạng của người khác hay của chính thân chủ, hoặc những hành vi của thân chủ có tiềm
năng gây ra sự phạm pháp, v, v... Không phải dễ dàng để nhà trị liệu có thể phán xét và
hành động đúng đắn, hợp lệ đối với những vấn đề này, vì thông thường luật lệ trong
ngành chỉ nói chung chung trong khi tình hình tại hiện trường sinh hoạt trong cộng đồng
xã hội bao giờ cũng vô cùng phức tạp và rắc rối.
Dưới đây là một số án lệ đặc biệt đã xảy ra tại Hoa Kỳ, được nêu lên như là những
bài học cần ghi nhớ cho những chuyên viên hành nghề tham vấn và tâm lý trị liệu:
- Đầu tiên là vụ kiện của gia đình cô Tariana đâm đơn kiện ban giám hiệu
trường Đại học California, gọi là vụ án “Tarasoff vs The Regents of the
University of California”. Thân chủ là một sinh viên, trong một phiên gặp tiết lộ
với nhà trị liệu là anh ta muốn giết người tình của mình tên là Tariana Tarasoff.
Nhà trị liệu, theo đúng luật, đã nhanh chóng thông báo với cảnh sát sự việc trên,
rồi báo với giới chức trong trường, và cẩn thận ghi vào hồ sơ lưu giữ để theo dõi.
Cảnh sát đã làm việc với anh sinh viên, buộc anh ta phải tránh xa người tình của
mình. Anh sinh viên hứa sẽ chấp hành đúng lệnh của cảnh sát. Mọi việc xem như
đã xong xuôi, tưởng không còn gì xảy ra, nhưng sau đó anh sinh viên trở nên tức
giận và bỏ không tiếp tục đến gặp nhà trị liệu nữa vì cho rằng nhà trị liệu đã phản
bội mình, không giữ kín những gì đã nói trong phiên trị liệu.
- Chẳng may, hai tháng sau được tin anh sinh viên đã giết người tình của
mình. Cha mẹ cô Tariana liền kiện nhà trị liệu và trường Đại học California với lý
59

do là đã không có ai báo trước cho con gái và gia đình của họ biết rõ về nguy cơ
đó. Tòa cấp dưới bát đơn kiện vì cho rằng nhà trị liệu đã làm đủ bổn phận được đề
ra trong luật. Nhưng qua kháng cáo, tòa tối cao lại quyết định ngược lại, chấp nhận
cho đương đơn thắng kiện. Tòa tối cao cho rằng trong những tình huống nguy
hiểm như vậy thì yếu tố phải giữ bí mật cho thân chủ trong quan hệ trị liệu xem
như không còn tác dụng nữa, vậy nhà trị liệu lúc ấy phải có bổn phận thông tin kịp
thời cho người sắp lâm nạn.
- Ngược lại, qua kinh nghiệm đã có từ bản án nêu trên, một nhà trị liệu tại
tiểu bang Maryland đã thông báo kịp thời cho đương sự mà thân chủ mình dọa sẽ
giết chết, nhưng sau đó thì lại bị thân chủ phát hiện và đâm đơn kiện nhà trị liệu đã
không giữ bí mật những gì đã nói trong phiên trị liệu. Đây là vụ án “Shaw và
Glickman”. Tòa án tại Maryland lại xử cho đương đơn thắng kiện với lý lẽ rằng
nhà trị liệu là người phải luôn luôn giữ sự tín cẩn, nghĩa là phải bảo vệ những bí
mật thuộc về đời tư của thân chủ mình, trừ phi luật có nói rõ ràng và công khai là
trong trường hợp nào thì nhà trị liệu có thể phá bỏ sự tín cẩn đó, nhưng luật về sự
tín cẩn đã không hề đề cập đến những trương hợp như thế.
Tóm lại, xem hai phán quyết trái ngược nhau của hai án lệ nêu trên cho ta thấy đặc
quyền về sự tin cậy trong mối quan hệ trị liệu đã không có sự đồng thuận, không được ấn
định và ghi chú rõ ràng trong luật. Nếu vụ án thứ hai diễn ra tại California thì nhà trị liệu
Glickman đâu có bị tội tình gì. Đây là điều mà mọi nhà tham vấn và trị liệu tâm lý phải
lưu ý, phải tìm hiểu rõ ràng luật lệ tại địa phương hành nghề của mình, và luôn luôn thảo
luận với đồng nghiệp hay với những nhà hành nghề luật để có những hiểu biết cụ thể
trong việc bảo vệ không những cho thân chủ, nạn nhân của thân chủ và ngay cả cho chính
mình.
Cuối cùng nhưng chưa phải đã hết, nhà trị liệu phải có trách nhiệm với xã hội,
luôn tuân thủ luật lệ hiện hành của xã hội và đồng thời khích lệ sự phát triển những luật
lệ và các chính sách xã hội có thể thích hợp cho lợi ích của thân chủ mình và nhiều người
khác trong xã hội để đời sống công cộng càng ngày càng được nâng cao. Nhà trị liệu phải
nhận biết trách nhiệm nghề nghiệp và kiến thức khoa học chuyên môn của mình và sẵn
sàng đóng góp công sức mình cho lợi ích của cộng đồng nơi mình phục vụ.
Để kết luận, tâm lý trị liệu là một nghề nghiệp thường đem lại nhiều đam mê và
thích thú nhưng không phải là một nghề dễ dàng, thoải mái, không có nhiều thách đố cho
người chuyên viên. Nhà trị liệu có kinh nghiệm không bao giờ nên tự mãn rằng mình
không thể có sai lầm, mình là người luôn luôn hiểu biết mọi tình huống, tiên đoán và giải
60

quyết được những vấn đề của thân chủ. Tâm lý trị liệu không phải là loại nghề nghiệp dễ
mang lại nhiều thành công và lợi lộc, người chuyên viên yêu nghề phải có tinh thần sẵn
sàng cống hiến, có phong cách khiêm tốn, liên tục học hỏi, và luôn phát triển kỹ năng
nghề nghiệp. Mặt khác, nhà tham vấn và trị liệu tâm lý cũng phải luôn xây dựng cho
mình lòng tự tin và lạc quan về sự cao qúi của nghề nghiệp mà mình đã chọn.
--------------------------------------

61

Câu hỏi:
1- Tại sao luật lệ trong ngành tham vấn và tâm lý trị liệu cấm người chuyên viên tiết
23456-

lộ danh tánh và tin tức về những thân chủ của mình?
Tại sao luật lệ đặt ra trong ngành tham vấn và tâm lý trị liệu lại quá chặt chẽ và
nghiêm khắc với người chuyên viên?
Ngoài các chuẩn mực đạo đức đã đặt thành luật chung trong ngành, tại sao nhà trị
liệu cũng cần có những tiêu chuẩn giá trị và đạo đức riêng cho mình nữa?
Anh/chị hãy viết đầy một trang giấy A4 cỡ chữ 13 về những nguy hại trong mối
quan hệ song đôi nếu có xảy ra giữa nhà trị liệu và thân chủ?
Ở mức nào thì “đặc quyền giữ bí mật” của nhà trị liệu phải bị vô hiệu hoá?
Tại sao ngành tham vấn và tâm lý trị liệu khuyến khích người chuyên viên phải
luôn quan tâm học hỏi không những kiến thức trong ngành mà cả những kiến thức
tổng quát bên ngoài nữa?

62

CHƯƠNG 4

KỸ NĂNG TRONG GIAO TIẾP

1. Khái niệm
Tham vấn và tâm lý trị liệu là một công việc đòi hỏi rất nhiều thử thách, nhất là
trong lãnh vực thực hành. Không có chuyên viên nào dù đã thành thạo trong nghề có thể
tiên đoán được một cách chắn chắn rằng những gì được diễn biến qua tiến trình tương tác
giữa nhà trị liệu và thân chủ sẽ đưa đến kết cục khả quan cho một hợp đồng trị liệu. Mỗi
đối tượng của tâm lý trị liệu là một khác biệt về nhiều mặt nên không thể có một khuôn
mẫu kế hoạch trị liệu nào được xem là nhất định thích ứng cho mọi trường hợp. Có thể
nói, những chuyên viên đã từng gặt hái nhiều kết quả tốt trong công việc thường là những
người có kinh nghiệm áp dụng thành thạo một số kỹ năng giao tiếp căn bản trong tiến
trình làm việc với thân chủ. Nói rõ hơn, những chuyên viên này luôn hành nghề trong
sự nhiệt tình, thật sự quan tâm lắng nghe và cảm nhận những gì thân chủ nói, áp
dụng các phương pháp dẫn dắt cuộc nói chuyện luôn đi vào trọng tâm, hiểu rõ những
nỗi niềm của thân chủ và uyển chuyển trong cách giải quyết sự việc, giúp thân chủ
thấy rõ những vấn đề của họ, và nêu ra những giải pháp khác nhau để thân chủ tự
chọn lựa và quyết định.
Trong cuốn “The Counselor in Training” nhà tâm lý Gimore cũng nói: “Trong mối
quan hệ trị liệu, thân chủ có nhiệm vụ đưa ra nội dung của cuộc đàm đạo, rồi bạn (nhà trị
liệu) và thân chủ cùng nhau thảo luận và tìm hiếu để xác định được mục đích và mục tiêu
của cuộc đàm đạo, nhưng chỉ có bạn là người phải có trách nhiệm làm sao hướng dẫn
cuộc đàm đạo đi đến mục đích và mục tiêu của nó” (1).
Kỹ năng giao tiếp của nhà trị liệu là phần quyết định quan trọng nhất cho việc xây
dựng mối quan hệ tốt đẹp và bền vững với thân chủ, và nó cũng là tiềm năng cho những
thành quả có thể đạt được trong hợp đồng trị liệu. Kỹ năng giỏi trong giao tiếp sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho thân chủ trút bỏ hết tâm tư mình, chân thành hợp tác trong phiên trị
liệu, để từ đó nhà trị liệu có thể thâu thập đầy đủ thông tin cho sự nhận xét, đánh giá,
chẩn đoán và đề ra kế hoạch trị liệu thích hợp. Kỹ năng đầu tiên mà bất cứ nhà trị liệu
nào cũng cần phải thành thạo là kỹ năng lắng nghe.
63

2. Kỹ năng lắng nghe
Lắng nghe là yếu tố quan trọng và thiết yếu trong mọi sự giao tiếp. Muốn cho sự lắng
nghe đạt được kết quả tốt, nhà trị liệu phải có thái độ chăm chú và nghiêm chỉnh, hiểu
biết và cởi mở, tôn trọng và không phê phán, và phải nắm bắt được nội dung những gì
thân chủ mình đang nói. Thái độ lắng nghe tốt là một tổng hợp của những hành vi tích
cực vừa bằng lời nói vừa bằng những cử chỉ không lời, chứ không phải chỉ cần một cử
chỉ nghiêm túc và im lặng là đủ. Tâm lý trị liệu xem sự lắng nghe là kỹ năng quan trọng
đầu tiên trong các mối quan hệ trị liệu. Khi thân chủ biết mình được lắng nghe tự nhiên
họ cảm thấy có được sự đồng cảm, những nỗi ưu tư sâu kín của mình như đang được chia
sẻ, cảm thấy mình không đến nỗi cô đơn, lẻ loi vì vẫn còn có người quan tâm đến mình,
từ đó họ có cảm giác được khuây khỏa, nguôi ngoai với những nỗi niềm của họ. Mặt
khác, kỹ thuật lắng nghe tốt sẽ giúp cho nhà trị liệu hiểu rõ nội dung câu chuyện, ý nghĩa
của những từ ngữ, câu nói, cách diễn tả, nét mặt và khuynh hướng tiêu cực hay tích cực
về các mặt lý trí, tư duy và tình cảm của thân chủ.
Trong thực tế vẫn có những thân chủ tìm đến tâm lý trị liệu chỉ với nhu cầu duy nhất
là muốn được nhà trị liệu lắng nghe những gì họ nói thôi. Những người này không nghĩ
rằng họ có những vấn đề gì khác ngoài mong muốn được có cơ hội thích hợp để nói ra
những câu chuyện của họ. Chẳng hạn, hiện nay tại Hoa Kỳ có những người già cả và cô
đơn thường sẵn sàng chịu phí tổn để được gặp và trò chuyện với các chuyên viên tâm lý.
Mục đích của họ không có gì khác hơn là có người ngồi bên cạnh để nghe họ hồi tưởng
và kể lại những chuyện vui buồn xa xưa của đời mình, chứ không phải họ cần có sự giúp
đỡ để giải quyết một vấn đề nào cả. Được một người ngồi lắng nghe câu chuyện mình kể,
mà người đó lại là một chuyên viên tâm lý có nhiều kỹ năng lắng nghe và nghệ thuật trò
chuyện, là một cơ hội tốt, thường đem lại nhiều sự thoải mái và mãn nguyện cho những
người cao tuổi đang phải sống trong cô đơn với những ray rức và phiền não nào đó về
quá khứ của mình.
Trong cuộc đàm thoại, lời nói và những cử chỉ không lời của nhà trị liệu phải luôn có
tính cách đồng bộ và phù hợp với nhau, và đặc biệt là phải thể hiện rõ sự thành tâm của
mình. Một cái bắt tay hời hợt hay một ánh mắt lơ đãng trong khi chào hỏi đều có thể nói
lên hành vi thiếu sự ân cần và tôn trọng của nhà trị liệu. Những cử chỉ không lời, tức là
ngôn ngữ của cơ thể (body language) cũng luôn luôn tạo ra những tác động quan
trọng không kém gì lời nói. Mọi cử chỉ, từ nét mặt, cái nhìn, cái gật đầu, cái nhún vai, tư
thế ngồi, và ngay cả khoảng cách xa gần giữa nhà trị liệu và thân chủ trong khi giao tiếp,
tất cả đều luôn hàm chứa những ý nghĩa nào đó trong cảm nhận của thân chủ. Nhà tâm lý
Chessick trong cuốn “How Psychotherapy Heals”, khi nói về cách hành xử của các
64

chuyên gia liệu pháp phân tâm và tâm động, cũng khẳng định rằng thái độ biểu lộ lòng
trắc ẩn của chuyên gia tâm lý Frieda Fromm-Reichmann, hoặc những bước chân nặng
nề đi lui đi tới tỏ ra hết kiên nhẫn đang nện lên sàn gỗ của nhà phân tâm Sigmund Freud
đều để lại những dấu ấn sâu đậm trong tâm trí của những thân chủ của họ. (2)
Thái độ và cử chỉ của nhà trị liệu thể hiện như thế nào khi tiếp xúc với thân chủ trong
những giây phút gặp mặt đầu tiên thật là quan trọng. Kinh nghiệm cho thấy nhiều thân
chủ thường xem cuộc gặp đầu tiên này như là một lần thử nghiệm để quyết định có nên
tiếp tục làm việc với nhà trị liệu hay không. Thông thường không có thân chủ nào ưa
thích thái độ quá lạnh lùng, trịnh trọng, đạo mạo, hay cao sang, hách dịch, hoặc ngược
lại quá nhún nhường, e lệ của nhà trị liệu. Nhà trị liệu cũng không thể nào qua mắt các
thân chủ của mình bằng những thái độ giả dối, đóng kịch, thiếu thành tâm trong các mối
giao tiếp.
Thái độ và cử chỉ dễ gây ấn tượng tốt đẹp nhất trong buổi gặp đầu tiên cho thân chủ là
nhà trị liệu nên có lời nói và hành động thể hiện sự ân cần, săn đón, và thân thiện. Nhà
trị liệu không nên xem thân chủ của mình là những kẻ đang cần sự giúp đở, ban phát gì từ
nơi mình, mà phải có cung cách đối xử với họ trong bối cảnh tương tự như mình đang đối
xử với những người khách bình thường khác có dịp đến thăm nhà mình. Chẳng hạn, thay
vì ngồi tại bàn giấy và trỏ tay chỉ khách ngồi vào nghế, trong mọi trường hợp tốt hơn hết
nhà trị liệu nên tiến ra phía cửa đón thân chủ từ ngoài vào, mời thân chủ ngồi trong khi
trở lại ngồi vào ghế của mình.
Tâm lý trị liệu luôn luôn khuyến khích các chuyên viên phải học hỏi và luyện tập cách
hành xử từ lời nói cho đến những cử chỉ không lời khi tiếp xúc với đối tượng trị liệu của
mình. Trong khi đối diện với thân chủ, không nên có những những lời nói và cư chỉ vô
ý hoặc thừa thãi dễ gây ra hiểu lầm, khó chịu, hay không giúp cho thân chủ hiểu được
điều gì mình muốn nêu ra. Thực tế, có những chuyên viên đã cố gắng tập luyện để làm
tốt hơn thái độ và cử chỉ của mình khi tiếp xúc với thân chủ bằng cách thường xuyên học
hỏi từ các đồng nghiệp ngay tại hiện trường công việc, hay đôi khi tự mình diễn trò và
nhìn mình trong gương soi để sửa đổi tư thái cho đúng đắn.
Những động tác phát biểu đúng lúc và đúng sự việc trong cuộc đối thoại cũng thể hiện
kỹ năng lắng nghe của nhà trị liệu. Những câu hỏi, sự nhắc lại, lời lý giải, câu tóm lược,
và ngay cả những phát âm ngắn gọn cũng đều tạo ra ý nghĩa nào đó đối với thân chủ.
Chẳng hạn, một câu hỏi ngắn gọn “Tại sao?” hay một tiếng “Vậy à!” từng lúc đặt vào
một cách đúng chỗ đúng nơi cũng là những cử chỉ nhắc nhở, khích lệ cần thiết để thân
chủ biết rõ mình đang được lắng nghe, tạo ra niềm phấn khởi trong khi tiếp tục câu
65