Tải bản đầy đủ
Từ thời Phục hưng đến thời Khai sáng

Từ thời Phục hưng đến thời Khai sáng

Tải bản đầy đủ

nhắm vào việc hoàn thiện đời sống tinh thần và nâng cao nhận thức tích cực của người
bệnh...tương tự như một số liệu pháp tâm lý đang được thực hành hiện nay.
4. Thời cận đại
(Từ cuối thế kỷ 19 đến nay)
Cho đến cuối thế kỷ 19 ngành trị liệu tâm lý tâm thần mới bắt đầu thực sự phát
triển nhanh chóng sau sự ra đời của lý thuyết phân tâm học (Psychoanalysis) được giới
thiệu bởi bác sĩ người Áo, Sigmund Freud. Lần đầu tiên trong lịch sử, lý thuyết phân
tâm học đã cho phép con người hiểu biết sâu rộng hơn những sinh hoạt biến chuyển trong
đời sống tinh thần, sinh hoạt tâm lý của một cá thể. Đặc biệt Sigmund Freud đã đưa ra
quan điểm mới mẻ về bản chất sinh động (dynamic) của các hoạt động tâm lý và ông
cũng đề nghị sử dụng phương tiện đối thoại (talking cure) như là phương pháp trị liệu các
chứng rối loạn tâm lý tâm thần.
Xuất thân từ một bác sĩ thần kinh học, Freud để ra nhiều công trình nghiên cứu về
những chấn thương tâm lý (psychological trauma) thường xảy ra trong tuổi ấu thơ, các
lực tâm lý (psychological forces) và phần sinh hoạt vô thức (unconscious) của đời sống
tinh thần. Ông cho rằng những phần sinh hoạt này không có ảnh hưởng hay bị tác động
bởi các sinh hoạt của phần sinh lý cơ thể. Ông quả quyết rằng mọi hoạt động bình thường
cũng như bất thường của một cá nhân hầu hết đều do sự tác động và thúc đẩy không
ngừng của các lực tâm lý vô thức luôn luôn hoạt động dưới các hình thức xung khắc,
tranh chấp, đè nén, bổ túc, loại bỏ, bù trừ… nhau trong nội tâm. Phương pháp trị liệu
tổng quát của ông bao gồm các kỹ thuật phân tích giấc mơ, kỹ thuật tự do liên tưởng, kỹ
thuật hóa giải hiện tượng chuyên tâm, hiện tượng chống đối, và hiện tượng chuyên tâm
đối nghịch, v, v... (8).
Ngay từ bước đầu, lý thuyết phân tâm học đã tạo ra nhiều chú ý và ngưỡng mộ
khắp nơi trên thế giới. Freud sau đó đã thành lập và làm chủ tịch Hội Phân Tâm Học
Thành Viên (Vienna Psychoanalytic Society) với sự tham gia của nhiều bác sĩ và chuyên
gia tâm lý, trong đó có Carl Gustav Jung, Afred Adler, Anna Freud, Karen Horney,
Melanie Klein, Ronald Fairbain, Heinz Kohut, Otto Rank, Harry Stack Sullivan...
Các chuyên gia trong hội đã cùng nhau tiếp tục nghiên cứu thêm những đặc điểm sinh
động của lĩnh vực ý thức và vô thức trong các sinh hoạt tâm lý.
Về sau do không đồng ý với vài điểm trong lập luận của Freud, một số chuyên gia
đã lần lược tách ra để xây dựng lý thuyết và cách trị liệu theo quan điểm riêng của mình.
38

Thật ra, các chuyên gia này hầu hết đều nhất trí cách phân tích và giải thích các hiện
tượng tâm lý của phân tâm học, nhưng tựu trung họ chỉ bác bỏ quan điểm nòng cốt về sự
phát triển tâm lý dục tính (psychosexual development) và một vài kỹ thuật mơ hồ, không
mang tính tích cực trong thực hành của liệu pháp phân tâm.
Phong trào ly khai học thuyết phân tâm học cổ điển của Freud đã mở đầu cho sự
xuất hiện một loạt các lý thuyết mới, có thể tóm lượt như sau: Lý thuyết Tâm lý phân
tích (analytical psychology) của Carl Jung, lý thuyết Tâm lý cá nhân (individual
psychology) của Alfred Adler, lý thuyết Vai trò thực ngã (ego-analysts) của Heinz
Hartmann và Anna Freud, lý thuyết Tân Phân Tâm (neo-Freudians) của nhóm Karen
Horney, Harry Stack Sullivan, Heinz Kohut, và Eric Fromm, và lý thuyết Đối tượng
liên hệ (object-relations theory) của nhóm Melanie Khein, Ronald Fairbain, Magaret
Mahler, Otto Kernberg và Donald Winnicott, v, v…
Dù có khác biệt nhau trên một vài quan điểm, phân tâm học cổ điển và các lý
thuyết của nhóm ly khai đương thời đều có những giải thích tương tự nhau về bản chất
sinh động của các lực tâm lý; vì vậy các chuyên gia trong nhóm lý thuyết liệt kê ở trên đã
được xem là nhóm đại diện cho trường phái Tâm động (Psychodynamic psychotherapy).
Kể từ năm 1920 trở đi, ngành tâm lý trị liệu có thêm sự gia nhập dồi dào của nhiều
lý thuyết gia thuộc các trường phái khác biệt với Tâm Vận Động. Trong số này có trường
phái Hành Vi Trị Liệu (behaviorism) với các công trình đóng góp của các tác giả Joseph
Wolpe, John Watson, B.F Skinner, Hans Eysenck, H. Shipiro... Trường phái Hiện
Sinh/Nhân Văn (existential/humanistic perspective) được giới thiệu bởi Irvin Yalom,
Rollo May, Viktor Frankl, R.D Laing, Luwig Binswanger, Soren Kierkegaard, Jean
Paul Sartre, Carl Rogers và Abraham G. Maslow... Ngoài ra, Fritz Perls lập ra Liệu
Pháp Hình Thái Đồng Nhất (gestalt therapy), Marshall Rosenberg lập ra Liệu Pháp
Giao Tiếp Bất Bạo Động (nonviolent communication therapy), và Eric Berne với Liệu
Pháp Phân Tích Tiến Trình Giao Dịch (transactional analysis), v, v,...
Sau thập niên 1950, tiến sĩ tâm lý Aaron T. Beck giới thiệu Liệu Pháp Nhận
Thức (Cognitive therapy) và đồng thời chuyên gia Albert Ellis giới thiệu Liệu Pháp
Duy Lý Cảm Xúc (rational emotive behavior therapy). Tiếp theo đó là sự ra đời của Liệu
Pháp Nhóm (group therapy) bởi các tác giả Alfred Adler, J.L. Moreno, Irvine Yalom,
và Liệu Pháp Gia Đình (family therapy) của các tác giả Murray Bowen, Salvador
Minuchin, và Jay Haley. Ngoài ra còn có một loạt hằng trăm những kỹ thuật trị liệu
khác lần lược được các chuyên gia về sau giới thiệu. Có thể kê ra một số liệu pháp tiêu
biểu như, Liệu Pháp Tích Cực (positive therapy), Liệu Pháp Thuật Chuyện (narrative
39

therapy), Liệu Pháp Diễn Đạt (expressive therapy), Liệu Pháp Nữ Giới (feminist
therapy), Liệu Pháp Thực Tế (reality therapy), Liệu Pháp Định Hướng cơ thể (bodyoriented psychotherapy), Liệu Pháp Âm nhạc (music therapy), v, v...
Thời gian về sau này, một số chuyên gia đưa ra lý thuyết Ý niệm xã hội (Social
Constructivism) với quan điểm rằng thực tại không phải là cái gì khách quan, trừu tượng
khác với những diễn biến của lịch sử và văn hoá đang diễn tiến trong hiện tại. Nói khác
hơn, thực tại chính là ở nơi đời sống, hoàn cảnh, ngôn ngữ, những câu chuyện sống, v,
v… của mỗi con người. Từ quan điểm này, các chuyên gia lý thuyết Ý niệm xã hội giới
thiệu một số phương pháp trị liệu, trong đó có hình thức trị liệu thường biết đến nghiều
nhất là Liệu Pháp Ngắn Tập Trung Giải Pháp (Solution-Focused in Brief Therapy) đại
diện là Steve De Shazer và Insoo Kimberg, Liệu Pháp Tường thuật (Narrative
Therapy) đại diện là Michael White, Liệu Pháp Công bố Thành Quả (OutcomeInformed therapy) đại diện là Scott Miller và Barry Duncan, v, v…
Cũng trong giai đoạn này, trong giới các chuyên gia tâm lý lâm sàng nổi lên một
phong trào phê phán tính hạn hẹp, thiếu sót của các lý thuyết đã từng được xem là nền
tảng của lãnh vực tâm lý trị liệu, và hô hào hình thành một phương thức trị liệu có tính
tổng hợp, nghĩa là phải có cái nhìn thoát ra những giới hạn của mỗi phương thức trị liệu
có sẵn và đồng thời phân tích và kết hợp những điểm mấu chốt nổi bật của chúng để làm
thành một hình thức trị liệu gọi là Liệu Pháp Tổng Hợp (Psychotherapy Integration) hay
còn gọi là Liệu Pháp Chiết Trung (Eclecticism). Khoảng giữa thập niên 1990, một tổ
chức quốc tế gọi là Hiệp hội Khảo sát Liệu Pháp Tâm lý Tổng hợp (Society for the
Exploration of Psychotherapy Integration) (SEPI) được thành lập và cho ra đời tờ báo
Journal of Psychotherapy Integration. Phong trào xây dựng và phát triển liệu pháp tâm lý
tổng hợp trong giai đoạn này được các giới chuyên gia khắp nơi cổ vũ, xem như là tinh
thần của thời đại (zeitgeist). Tóm lại, những người tán trợ phong trào kết hợp tâm lý trị
liệu đưa ra những ý kiến sau đây để thuyết phục cho quan điểm của họ:
- Tình trạng quá nhiều trường phái liệu pháp đã tung ra trong lãnh vực trị liệu tâm
lý trong các thập niên gần đây làm cho tình hình trở nên hỗn loạn và phức tạp. Thậm chí
có rất nhiều liệu pháp trùng lặp nhau, hoặc có nhiều điểm tương đồng trên những khía
cạnh lý luận và kỹ thuật. Nó tạo ra môi trường để các nhóm chuyên gia luôn có sự cạnh
tranh và phê phán lẫn nhau. Mỗi nhóm chuyên gia đều có cái nhìn thiển cận khi tự cho là
liệu pháp của họ có hiệu quả nổi bật và vượt trội lên trên các liệu pháp khác.

40

- Qua thực nghiệm thì rõ ràng một trường phái lý thuyết đơn lẻ trong nhiều trường
hợp không thể nào có đủ hiệu quả chữa trị hoàn hảo cho một căn bệnh nếu không có sự
phối hợp của một số kỹ thuật khác.
- Tình trạng tổn phí đôi khi quá cao đối với các trường phái đòi hỏi thời gian trị
liệu cần có sự lâu dài. Hơn nữa, để giảm thiểu phí tổn, các công ty bảo hiểm sức khỏe
hiện nay luôn thúc ép, đòi hỏi các chuyên gia phải chứng tỏ tính hiệu quả nhanh chóng
trong công việc trị liệu.
- Kết luận của nhiều nghiên cứu cho thấy hiệu quả tốt đẹp của trị liệu thường do
những yếu tố tích cực liên quan đến những đặc điểm có sẵn nơi người thân chủ và tính
chất của mối quan hệ trị liệu giữa thân chủ và nhà trị liệu chứ không phải thiết yếu là do
phương pháp, kỹ thuật của một trường phái lý thuyết nào.
Tuy có sự đồng thuận về sự cần thiết phải thành tựu một phương pháp tâm lý trị
liệu tổng hợp để có thể mang lại nhiều hiệu quả chữa trị trong tương lai, các chuyên gia
lại chia thành từng nhóm riêng có những quan điểm khác nhau trong các vấn đề thuộc về
định nghĩa và hình thức của phương pháp tổng hợp trị liệu. Để có khái niệm rõ hơn, có
thể chia làm bốn nhóm chính trong nỗ lực tìm kiếm một liệu pháp tâm lý trị liệu tổng hợp
như sau:
Liệu pháp chiết trung kỹ thuật (Technical Eclecticism):
Tập trung vào việc gia tăng khả năng chọn lựa và thực hành các phương pháp và
kỹ thuật nào thích hợp cho ca trị liệu rút ra từ các nguồn lý thuyết khác nhau. Liệu pháp
chiết trung không nghiêng nặng về lý thuyết, nhưng không có nghĩa là không lý thuyết
hay chống lại lý thuyết. Đại diện cho nhóm tán trợ liệu pháp này có Lazarus (1997) với
phương pháp Đa kiểu mẫu (multimodal) (BASIC-ID) (9), và Beutler & Clarkin (1990)
với phương pháp Hệ thống chữa trị tuyển chọn (systematic treatment selection) (STS)
(10).
a. Liệu pháp phối hợp lý thuyết (Theoretical Integration)
Tổng hợp hai hay vài lý thuyết lại với nhau để hy vọng tạo ra một kết quả chữa trị
tốt hơn là chỉ một lý thuyết đơn thuần. Nói rõ hơn là kết hợp cả lý thuyết và kỹ thuật của
hai hay vài trường phái tâm lý lại với nhau. Đại diện cho liệu pháp này có Wachtel
(1987) (11) với đề nghị kết hợp phân tâm học và hành vi liệu pháp vào nhau, gọi là liệu
pháp Tâm động chu ky (cyclical psychodynamic), và Prochaska & DiClemente (1984)
41

(12) với đề nghị tổng hợp hết các trường phái chính để làm thành phương thức trị liệu gọi
là Xuyên lý thuyết (transtheoretical approach).
b. Liệu pháp nhận dạng yếu tố chung (Common Factors)
Các chuyên gia thuộc nhóm này cho rằng nếu phân tích kỷ thì trong các hệ thống
lý thuyết khác nhau đã được giới thiệu luôn luôn có những thành tố cốt lõi có tính cách
chung nhất, và mục tiêu của nhà trị liệu là gom chúng lại để hình thành một mục tiêu trị
liệu vừa có tính chắt lọc và vừa hiệu quả. Đại diện nhóm này có Frank (1993) (13) cho
rằng những yếu tố chung nhất tìm thấy trong các lý thuyết có tầm quan trọng trị liệu hơn
là những yếu tố cho là độc đáo của mỗi lý thuyết.
c. Liệu pháp tổng hợp đồng hoá (Assimilative Integration)
Nhóm này cho rằng trong khi vẫn giữ nguyên một hệ thống lý thuyết, nhà trị liệu
phải biết chọn lựa và phối hợp những kỹ thuật trị liệu của các hệ thống lý thuyết khác;
nói cách khác, khi thực hành phải biết đồng hoá phương thức và kỹ thuật nhiều hệ thống
lý thuyết khác nhau. Ví dụ, nhà trị liệu sử dụng liệu pháp hành vi đôi khi cũng cần phối
hợp áp dụng với liệu pháp đối thoại kịch nghệ của Fritz Perls trong qúa trình chữa trị.
Đại diện cho nhóm này có Messer (2001) (14).
Thật ra, dù 4 nhóm chuyên viên có những quan điểm khác nhau về việc tìm ra một
hình thức gọi là liệu pháp trị liệu tổng hợp/chiết trung, những lập luận của họ đã không
vẽ ra được những ranh giới rõ ràng của những điểm khác biệt để có thể cho thấy tính cách
độc lập và hiệu quả trong thực hành. Nói khác đi, những nhóm này chỉ khác nhau về một
số từ ngữ và quan niệm trong lập luận chứ không khác nhau bao nhiêu trong thực hành.
5. Tâm lý trị liệu trong tương lai
Tựu trung, sự sinh sôi nảy nở hằng trăm liệu pháp tâm lý trong thời kỳ cuối thế kỷ
20 này cho thấy rằng môn khoa học về tâm lý tâm thần vẫn luôn luôn là một lĩnh vực
kiến thức phức tạp và đang còn rất mới mẻ, vẫn còn nhiều bước đi trên con đường chưa
thấy được đích điểm, còn đòi hỏi nhiều sự tìm tòi và nghiên cứu liên tục; theo đó, khả
năng và giá trị thực hành của môn tâm lý trị liệu cho đến nay, dù đã được áp dụng lan
rộng trên nhiều lĩnh vực sinh hoạt trong đời sống, cũng vẫn còn là một công việc có nhiều
giới hạn và những kết quả thành tựu vẫn còn ở mức độ khiêm tốn.

42