Tải bản đầy đủ
Cơ chế của TLTL

Cơ chế của TLTL

Tải bản đầy đủ

học và đã được sự hỗ trợ của nhiều chuyên gia khác trong ngành y. Qua những nghiên
cứu, các chuyên gia thần kinh não bộ (neuroscientists) quan sát thấy khi một cá nhân
đang cố tập trung tinh thần trong lúc ngồi thiền thì các chất hóa học trong não ở vùng
chất xám trước trán (prefrontal cortex) bắt đầu có những sự chuyển động và thay đổi.
Như vậy, sự vận dụng tâm trí qua tác động của TLTL ít nhiều cũng có tác dụng làm thay
đổi các chất dẫn truyền thần kinh trong não bộ tương tự như thuốc men.
Theo Corsini và Rosenberg, TLTL có thể tạo ra 3 yếu tố căn bản có tác dụng thay
đổi tinh thần của người bệnh:
Những yếu tố tri giác bao gồm: (a) tính phổ cập (universality) tức là thân chủ nhận ra
rằng không phải chỉ có cá nhân mình mà còn rất nhiều người khác và nói rộng ra là cả
nhân loại ai cũng có thể có những đau khổ, rủi ro, bất hạnh như mình; do đó thân chủ sẽ
cảm thấy bớt buồn khổ, đau đớn, lo âu... (b) tính nội thị (insight), tức là xuyên qua TLTL
thân chủ dần dần học hỏi được nhiều cách phân tích và nhìn thấy những vấn đề của mình
ở những góc cạnh khác nhau từ bên trong nội tâm, những nguyên nhân, động lực nào đã
đưa đến hành vi của mình, để từ đó hiểu mình và hiểu về người khác. Và (c) làm theo
người mẫu (modeling), tức là TLTL sẽ giúp thân chủ học hỏi được những lợi ích trong
cách suy nghĩ, cách làm của những kiểu mẫu, người mẫu và thấy cần phải bắt chước làm
theo. Ngay cả nhân cách, hành vi và sự đối xử trung thực và tôn trọng của nhà trị liệu
cũng là những mẫu mực để thân chủ suy nghĩ và học làm theo.
Những yếu tố tình cảm bao gồm: (a) sự chấp nhận (acceptance) là khi mối quan hệ
trị liệu đúng đắn giúp thân chủ cảm nhận rằng mình đang được đối xử với tất cả sự thông
cảm, quan tâm và tôn trọng, không có định kiến, phân biệt hay phê phán. Cảm nhận này
đưa đến kết quả là thân chủ sẽ cảm thấy hài lòng và sẵn sàng hợp tác. (b) tính vị tha
(altruism) tức là qua cung cách đối xử của nhà trị liệu, thân chủ sẽ học được tính vị tha
khi nhìn thấy những ý nghĩ, tình cảm và cư xử của nhà trị liệu luôn có tính nhân bản,
không qui kết hay phán xét thiên vị, mà ngược lại rất rộng mở và cảm thông. (c) sự
chuyển tâm (transfercence) là yếu tố tình cảm rất thường dễ xảy ra trong TLTL, nghĩa là
một tình cảm (thương/ghét) đã có với một người nào đó trong quá khứ đột nhiên sống lại
làm ảnh hưởng đến mối quan hệ trong hiện tại.
Trong phân tâm hoc, hiện tượng chuyên tâm là khi thân chủ đột nhiên có tình cảm
(thương/ghét) với nhà trị liệu, và chuyển tâm ngược (counter-transference) là khi nhà trị
liệu đột nhiên có tình cảm (thương/ghét) với thân chủ. Cả hai hiện tượng này rất dễ xảy ra
do sự tái hiện của một tình cảm tương tự nào đó mà các đối tượng trị liệu đã trải nghiệm
trong quá khứ. Cả hai hiện tượng nêu trên đều có những mặt tích cực hoặc tiêu cực của
26

chúng. Tích cực là khi thân chủ và nhà trị liệu đều cùng có những cảm xúc đồng dạng,
những tình cảm thuận lợi cho tiến trình điều trị, và tiêu cực là khi hai tình cảm đó có
nhiều yếu tố xung khắc nhau tạo ra nhiều cản trở cho tiến trình điều trị. Ví dụ, mối quan
hệ trị liệu tích cực và thuận lợi khi thân chủ cảm thấy nhà trị liệu như là một ông thầy tốt
bụng đã từng giúp mình, và nhà trị liệu lại xem thân chủ như một đứa em thiếu may mắn
cần được cứu giúp.
Những yếu tố hành vi bao gồm: (a) trắc nghiệm thực tế (reality testing) tức là TLTL
sẽ giúp thân chủ dần dần nhận ra được thực tại và thực tế của sự việc; ví dụ, sẽ làm thân
chủ ý thức được tính chất không có thật của những triệu chứng hoang tưởng, ảo giác
và/hay là ảo tưởng đã có của mình. Khi đã có khả năng trắc nghiệm được thực tại thì thân
chủ sẽ cảm thấy tự tin hơn về bản thân và hành vi của mình. (b) sự thông thoáng
(ventilation) tức là TLTL giúp cho thân chủ có cơ hội tháo gỡ những ẩn ức, cảm xúc, tâm
tư sâu kín của mình. Nhờ vào môi trường đối thoại kín đáo, riêng tư, được bảo đảm bằng
sự thông cảm, không phê phán và tôn trọng nên qua đó thân chủ có điều kiện để kể ra
những câu chuyện riêng tư, từng được giấu kín của đời mình, thân chủ có thể than khóc,
la hét để trút bỏ, giải tỏa những nỗi phẫn uất, đau buồn mà không cảm thấy e ngại. (c) sự
tương tác (interaction) tức là mọi tác động qua lại, từ lời nói, cử chỉ, hành vi trong quan
hệ trị liệu đều là những hành động tương tác có tính cách mẫu mực, một môi trường cần
thiết để thân chủ có điều kiện học hỏi và sửa đổi.
7. Kết luận
Dù là một môn học có tính chất sâu rộng, đang đòi hỏi thêm nhiều nghiên cứu và thực
nghiệm để tiếp tục phát triển, TLTL thực sự đã có mặt và đang đóng góp rất nhiều lợi ích
thiết thực vào những lĩnh vực sinh hoạt khác nhau cho cuộc sống nhân loại hiện nay tại
hầu hết các cộng đồng quốc gia đã và đang phát triển trên thế giới. Cho đến nay TLTL đã
có chổ đứng vững vàng trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, tòa án, các cơ quan công quyền,
các cơ sở kỹ nghệ công tư, và các tổ chức cộng đồng... Thế nhưng khi đánh giá mức độ
khả tín cũng như thành quả của công việc TLTL thì rất nhiều ý kiến khác biệt đã được
đưa ra. Tựu trung, có thể gom lại thành một số ý kiến chính sau đây:
Ý kiến cho rằng TLTL thật là một phát minh tối quan trọng cho nhân loại, vì nó là
môn khoa học nhân văn và thực nghiệm có đủ các tính chất luân lý, đạo đức, và nghệ
thuật trong thực hành. Nó giúp con người tạo dựng một đời sống hiểu biết, thông cảm,
rộng mở, chia sẻ, tha thứ và như thế con người sẽ vơi bớt những mỗi đau khổ trong đời
sống, giảm thiểu tội ác và tật xấu, cuộc sống chung từ đó sẽ có phần hài hòa hơn trong
cộng đồng xã hội. TLTL không phải là viên thần dược chữa lành hết mọi triệu chứng bất
27

thường trong cuộc sống của cá nhân hay tập thể, nhưng qua nhiều nghiên cứu, song hành
với dược lý trị liệu, TLTL đã chứng tỏ có nhiều hiệu quả chữa trị cho nhiều trường hợp.
Và đặc biệt, dù cho tính hiệu quả của nó rất khó đo lường được chính xác đối với những
trường hợp khác nhau, TLTL cũng hiếm khi gây ra những phản ứng phụ làm thiệt hại con
người, nếu đem so sánh cách chữa trị của nó với cách chữa trị bằng thuốc men.
Ý kiến ngược lại cho rằng TLTL không phải là sự sáng tạo gì to lớn. Nó là một nghề
nghiệp được hình thành và chỉ được phổ biến trong các cộng đồng xã hội đã đầy đủ hay
dư dật về vật chất, nhưng trong giới lao động nghèo khổ làm sao có đủ được điều kiện về
tiền bạc và thì giờ để thực hiện và theo đuổi? Dù cho TLTL có thể đem lại một số lợi ích,
nhưng mục tiêu đề ra của nó lại quá lý tưởng, không thực tế, và đôi khi lại có vẻ huyễn
hoặc khi cho rằng đã là con người thì ai cũng phải luôn luôn ở trong trạng thái vui vẻ,
hạnh phúc và phải có đầy đủ năng lực; vậy nếu ai không có được những trạng thái như
thế thì sẽ là người bất thường, bệnh hoạn và cần phải được chữa trị hay sao? Mỗi cá nhân
đều có nhân cách, tư tưởng, tình cảm khác nhau nên không thể nói rằng ai cũng cần phải
biểu lộ những hành vi và cách ứng xử trong cuộc sống của mình cho phù hợp hay tương
tự với những người chung quanh. Hơn nữa, thật là viễn vông và ảo tưởng nếu cứ cho rằng
qua trị liệu bằng TLTL mọi cá nhân rốt cuộc đều có thể thay đổi được con người và lối
sống của họ. TLTL có thể thay đổi được mọi vấn đề cho con người không?. Thực tế cho
thấy có những con người không bao giờ muốn thay đổi, và cũng có rất nhiều vấn đề trong
cuộc sống không thể nào thay đổi được dễ dàng.
Ý kiến trung dung thừa nhận rằng TLTL thật ra cũng không phải là một công trình
sáng tạo gì quá đặc biệt và vĩ đại, nhưng nó cũng không phải là một môn học thuật không
cần thiết gì cho đời sống thường nhật của mọi người. TLTL được khai sinh từ ý thức tự
nhiên và từ những nhu cầu bức thiết của sự sống, cũng không khác gì sự khai sinh ra các
môn y học, triết học, tôn giáo… Hơn nữa, nó là môn khoa học thực nghiệm có tính nhân
văn, bao gồm những kiến thức nền tảng rút ra từ các lãnh vực học thuật khác của y học,
tâm lý học, xã hội học, v, v…
TLTL đã có những bước tiến triển đều đặn và vững vàng xuyên qua chiều dọc của
lịch sử. Từ những hình thức có tính cách hỗ trợ, giáo dục, khuyên can, răng đe… mà
nhân loại đã từng áp dụng từ xa xưa trên phạm vi cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội,
ngày hôm nay TLTL đang cố tiến xa hơn nữa để trở thành một môn khoa học về chữa trị
các rối loạn tâm thần tâm lý trong ngành y tế, bên cạnh thuốc men và các phương pháp trị
liệu khác. Tất nhiên, cũng còn rất nhiều việc TLTL không làm được, nhưng lại cũng có
những việc mà chỉ có lãnh vực học thuật này mới làm đươc. Chẳng hạn, nếu không có sự
can thiệp của các hình thức TLTL, thuốc men không thể nào giúp thay đổi một ý tưởng
28

lầm lạc, một tập quán xấu, một cá tánh bất thường, một hành vi sai trái, một sự bất hòa
trong mối quan hệ, và còn nhiều vấn đề nữa không thể kể xiết trong cuộc sống đầy nhiêu
khê và phức tạp của con người.
TLTL không làm cho cá nhân trở thành con người hoàn toàn khác, trong nhiều trường
hợp cũng không thể giúp cá nhân lành bệnh tức thì, và cũng khó có thể giúp cá nhân vĩnh
viễn sẽ có một đời sống tinh thần ổn định, hạnh phúc, êm ả, thoải mái, hoàn toàn không
có vấn đề. Nhưng TLTL có thể giúp thân chủ lấy lại sự ổn định tinh thần sau những lần bị
vấp ngã, khủng hoảng, và khó khăn. TLTL giúp thân chủ hiểu được và biết phân tích
những ý nghĩ và tình cảm đang diễn biến trong tâm tư, ý thức được những sai trái, bất
thường, hư hỏng trong hành vi và cử chỉ của mình, để từ đó thân chủ có thể có những
quyết định tốt hơn cho bản thân.
TLTL cũng sẽ giúp cho thân chủ có cái nhìn tích cực hơn vào cuộc sống, gắn bó và
hăng hái hơn với công ăn việc làm, hài hòa hơn trong các mối quan hệ liên cá nhân hằng
ngày, và mục tiêu lý tưởng của nó là giúp thân chủ của mình xây dựng được một quan
niệm sống lành mạnh và có ý nghĩa.
--------------------------------

Câu hỏi:
(Mỗi câu trả lời tối thiểu phải đầy một trang A4, cỡ chữ 13)
1- Theo anh/chị thì môn tham vấn và tâm lý trị liệu cần thiết như thế nào cho cộng
23456-

đồng nhân loại? Nếu bỏ môn học này đi thì sẽ xảy ra những điều gì?
Hãy cho một thí dụ thật cụ thể để phân biệt sự khác nhau giữa tham vấn và tâm lý
trị liệu?
Tại sao các chuyên gia thường gặp những khó khăn khi nghiên cứu và đánh giá
hiệu quả của công việc tham vấn và tâm lý trị liệu?
Theo anh/chị thì những gì thường là khó khăn và cản trở nhất trong bước đầu thực
hành công việc tham vấn và tâm lý trị liệu?
Anh/chị đặc biệt thích làm công tác tham vấn và tâm lý trị liệu với loại thành phần
thân chủ nào? Tại sao?
Tại sao anh/chị chọn ngành tham vấn và tâm lý trị liệu làm nghề nghiệp chuyên
môn cho mình?
29

7- Anh/chị hãy cho biết tổng quát những nét tiêu cực và tích cực trong bản chất công

việc của ngành tham vấn và tâm lý trị liệu.
8- Tại sao ngành tham vấn và tâm lý trị liệu đòi hỏi người hành nghề phải thật sự
nghiêm chỉnh tuân thủ những luật lệ và đạo đức của ngành đặt ra?

30

CHƯƠNG 2

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN MÔN TÂM LÝ TRỊ LIỆU

Quan niệm về các trường hợp rối loạn tâm lý tâm thần và những phương thức trị
liệu đã được hình thành và chuyển biến qua nhiều thời đại kể từ xa xưa trong lịch sử nhân
loại. Bắt đầu từ những hình thức trị liệu mang tính mê tín dị đoan, rồi đến các hình thức
trị liệu bằng các kỹ thuật như ép buộc hay giáo huấn, khuyên can, và trong thời đại hiện
nay thì áp dụng những phương pháp và kỹ thuật chữa trị dựa trên tính khoa học thực
nghiệm và nhân văn. Tâm lý trị liệu ngày hôm nay là môn học được xây dựng và cũng cố
bằng những kiến thức căn bản rút ra từ các lãnh vực khoa học thực nghiệm thuộc về các
bộ môn tâm lý, xã hội, và y học. Để có khái niệm sơ qua về tiến trình hình thành và phát
triển lâu dài của môn học thuật này, có thể lần lượt điểm qua một số diễn biến trong các
thời đại dưới đây:
1. Thời cổ đại
(Từ 500 năm trước CN đến thế kỷ thứ II sau CN)
Từ xa xưa người ta thường tin rằng các trường hợp rối loạn tâm lý tâm thần đều là
do sự tác động, áp đặt của thần linh hay ma quỉ lên trên sự sống của con người, và phần
lớn các cuộc chữa trị đều do các tăng lữ hay thầy cúng đóng vai trò chủ động. Vào thời
đại này, các vị tăng lữ và thầy cúng sử dụng những hình thức chữa trị như, cúng bái, cầu
hồn, hay hành hạ thân xác con bệnh bằng sự đánh đập, bỏ đói, cho uống nước dơ, dìm
xuống nước... để mong hồn ma quỉ dữ tha thứ hay thoát ra khỏi cơ thể người bệnh.
Những hình thức chữa trị mang tính cách “mê tín dị đoan” như thế là một lối trị liệu tâm
lý đối với quan niệm và nhận thức của người xưa. Theo các tài liệu khảo cổ, đã có những
trường hợp tìm thấy những sọ người bị chẻ ra làm đôi nằm dưới lòng đất từ lâu, và các
nhà khảo cổ suy đoán rằng có lẽ những chiếc sọ này là bằng chứng thể hiện cho cách
chữa trị bệnh tâm thần thời đó, nghĩa là người ta cắt cái sọ ra làm đôi với hy vọng là để
hồn ma thoát ra, không còn bám víu vào đầu óc con bệnh.
Nhưng bên cạnh đó cũng có những hình thức khác, mang tính chất hoặc ép buộc
hoặc cố vấn hay tham vấn, như những lời giáo huấn, khuyên nhủ, những hành động mẫu
mực về cách ăn ở, xử thế, những quan niệm về thiện ác, tốt xấu, đúng sai của các hiền
31

nhân và đạo sĩ đương thời. Các hiền nhân thời xưa cũng thường có những lời nói hay bài
viết liên quan đến ý nghĩa của sự sống, bản chất con người, ý niệm về vũ trụ và các thần
linh, các quan niệm về trách nhiệm và đạo lý làm người, v, v... để nâng cao tầm nhận
thức cho cộng đồng xã hội. Mặt khác, cũng có những mẫu truyện huyền thoại, những câu
ca dao truyền tụng trong dân gian có mục đích hoặc là để bài bác, răn đe những việc làm
xấu xa, ác độc hoặc để khuyến khích, cổ vũ cho những việc tốt lành, đạo đức mà con
người nên noi theo. Ngoài ra, những lời chỉ dạy, giáo huấn và khuyên răn con cái nên biết
cách ăn ở, từ bỏ những tập quán xấu, thực hành những điều tốt của các bậc phụ huynh
trong gia đình cũng đều mang tính cách như những hình thức tham vấn và tâm lý trị liệu
của thời đại.
Thời cổ đại Hy Lạp, khoảng những năm 500-600 trước Công Nguyên, một thời kỳ
mà các nhà nước trong vùng đều nằm dưới sự cai trị của những vị vua độc đoán và các
đoàn quân tàn bạo, xã hội loạn lạc và nghèo đói, con người luôn tìm cách chém giết nhau
để tranh giành thế lực. Nhưng trong khi đó vẫn có một số nhà hiền triết sinh thời như
Pythagore, Socrate, Plato (còn gọi là Platon) và Aristotle thường nêu ra những quan
điểm về luân lý và đạo đức để làm chuẩn mực cho con người trong cộng đồng xã hội noi
theo. Các vị thức giả này khuyên nhủ con người phải ý thức được trách nhiệm và đạo lý
trong cuộc sống bản thân, cũng như phải cùng nhau có nhiệm vụ xây dựng một môi
trường xã hội lấy nhân đức và sự công chính làm đầu (1).
Câu châm ngôn “Hãy tự biết mình” (Know thyself) đã được gắn trên đền thờ
thành phố Delphi tại Hy Lạp vào thời đó, được xem là lời nhắc nhở thường trực để mỗi
người công dân phải có ý thức rõ về bản thân mình. Nhà triết và toán học Pythagore đã
mở trường tu học để luyện tập cho các môn sinh cách sống một đời sống khắc kỷ và khổ
hạnh. Triết gia Plato cùng các môn đồ thường đi rao giảng triết thuyết của ông về sự liên
quan giữa tri thức, thiện ác, và quan niệm về hạnh phúc. Ông cho rằng tri thức là điều
kiện tiên quyết và tối cần để mở đường cho sự nhận thức và khả năng phân biệt được
giữa thiện và ác, để có khả năng thực hiện những điều hợp lý, công bằng và nhân đạo, và
đó mới là con đường đưa dẫn con người đi đến hạnh phúc (2).
Một số đạo sĩ và triết nhân trong thời cổ đại đã có quan niệm rằng hai mặt tinh
thần (phần tâm lý) và thân xác (phần sinh lý) trong một con người là hai lĩnh vực hoàn
toàn khác biệt. Các triết nhân như Socrate và Plato đều tin tưởng rằng bên cạnh sự sống
hữu hạn của con người trên trái đất còn có sự hiện diện của một thế giới siêu nhiên
(supernatural), một thế giới của những linh hồn bất tử vượt ra ngoài không gian và thời
gian, nhưng luôn luôn lẫn quất bên cạnh con người. Và con người hiểu biết được những
gì ở thế giới siêu nhiên là nhờ vào lý trí, một khả năng tuyệt đối đặc biệt thuộc phần tâm
32

linh hay tinh thần, biệt lập với những giác quan thuộc về khả năng của thân xác. Nói cách
khác, Socrate và Plato cùng nhiều triết gia thời đó đã tin tưởng vào lý thuyết nhị nguyên
(dualism) (quan điểm nhị nguyên của Descartes vào thế kỷ 17 cũng tương tự như thế).
Lý thuyết nhị nguyên cho rằng hồn (spirit) và xác (organism), hay là tinh thần (mind) và
cơ thê (body) là hai thực thể mặc dù cùng gắn bó và tồn tại đồng thời trong mỗi con
người, nhưng chúng vẫn có những chức năng sinh hoạt độc lập và tách biệt với nhau.
Nhưng đến thời Aristotle, khoảng 400 năm trước Công Nguyên, quan điểm nhị
nguyên về sự tách biệt giữa tinh thần và thể xác bắt đầu bị phản bác. Triết gia Aristotle
cho rằng trong bản thể của sự sống, hai thành tố linh hồn (tinh thần) và thê xác (cơ thể)
dù rõ ràng có sự khác biệt, nhưng chúng luôn luôn có sự gắn bó, không thể tách rời với
nhau. Ông nói rằng tinh thần (bao gồm lý trí, suy tư, tư tưởng, tình cảm, tưởng tượng,
cảm xúc, ước ao...) là phần dẫn dắt cho thân xác, tạo cho cơ thể có một sự sống, một sự
diễn xuất sống động và có ý nghĩa. Ông xác quyết rằng có ba đẳng cấp trong sự sống của
một con người, tinh thần (mind) là phần có chức năng và vai trò cao nhất, rồi kế đến là
các cảm quan (giác quan) (senses) và thấp nhất là chức năng của các cơ năng làm nhiệm
vụ dinh dưỡng (metabolic organs) trong cơ thể (3)
Cũng trong thời kỳ này tại Hy Lạp, Hippocrates, được xem là ông tổ của ngành y
học hiện đại, đã bác bỏ các quan niệm đang phổ biến về tính cách huyền bí của lĩnh vực
tinh thần (linh hồn). Hippocrates đồng ý với quan điểm của Aristotle về sự liên hệ mật
thiết, không thể tách rời được của hai mặt tinh thần và thể chất, nhưng ông chỉ tập trung
nghiên cứu vào lĩnh vực sinh hoạt của cơ thể. Ông cho rằng các tiến trình sinh hoạt của
tinh thần, chẳng hạn như các động tác suy nghĩ, buồn vui, ước muốn đều có sự liên hệ
trực tiếp và khăn khít với các tiến trình sinh hoạt sinh lý của cơ thể. Từ quan điểm này
ông kết luận rằng các chứng rối loạn tâm thần tâm lý là do ảnh hưởng của sự mất cân đối
giữa các chất lỏng và chất mật (bile) đang luân lưu trong cơ thể. Do đó, ông đã đề nghị
hình thức trị liệu cho các chứng rối loạn tâm thần bằng việc điều hòa sự ăn uống, ngủ
nghỉ, tình dục, và thể dục cơ thể đều đặn. Có thể nói đây là sự mở đầu một phương pháp
trị liệu tâm lý có tính khoa học thực nghiệm (4).
Tương tự như thế, vào thời đại này con người tại các xã hội Đông phương cũng có
niềm tin vào thần linh hay ma quỉ là tác nhân gây ra những vấn đề rối loạn tâm lý tâm
thần, và các hành vi thiện ác của cá nhân cũng mang lại các hậu qủa tốt xấu cho đời sống
tâm lý tâm thần của cá nhân ấy. Các hình thức cầu nguyện, cúng bái, tế lễ hay hành hạ
người bệnh, v, v, ... cũng là lối trị liệu rất phổ biến trong các xã hội Đông phương đương
thời. Đến khoảng giữa 600-500 năm trước Công nguyên, đạo Phật và đạo Lão xuất hiện
với những quan niệm và định nghĩa mới về những vấn đề thiện ác, tốt xấu, sướng khổ
33

khác hẵn với quan điêm siêu hình (metaphysical) (tương tự như quan điêm siêu nhiên đã
nói trên) cũng như các hình thức mê tín dị đoan (superstitious) đang phổ biến trong xã
hội đương thời tại phương Đông.
Phật giáo và Lão giáo có những phân tích về bản chất của con người rất gần với
những khía cạnh khoa học mà nhiều nhà tâm lý hiện nay vẫn đặc biệt quan tâm nghiên
cứu đến. Lý thuyết Phật giáo nêu lên ý niệm mới về thân phận và kiếp luân hồi của con
người, về luật nhân quả của thiện ác và phước họa. Phật và Lão đều khuyên răn con
người cần biết dọn mình để giác ngộ, tu niệm, sống một đời sống trong sạch, lành mạnh,
không vướng mắc với những ước muốn, tham lam vật chất của cải, và không gieo tại họa,
ác đức đến cho tha nhân.
Đạo Phật cho rằng khi ta đã có cái thân tức là ta có cái khổ, vì cái thân, tức là cái
tôi (self), là cái chứa đầy tính tham, sân, si, ái dục, tà kiến, phiền não... Nếu phải bị lệ
thuộc vào những đòi hỏi của cái tôi thì cá nhân sẽ rơi vào tình trạng gọi là bệnh chấp
ngã, và như thế cá nhân sẽ chuốc lấy nhiều nỗi phiền lụy và khổ đau triền miên. Vậy
muốn thoát khỏi khổ đau triền miên trong sự luân hồi của kiếp người thì hãy từ bỏ bệnh
chấp ngã, tức là phải thực hành vô ngã (Anatta). Trong “Đạo đức kinh” của Lão tử cũng
có nói rằng nguyên nhân của sự khổ chính là vì có cái thân (tức là cái tôi, cái ngã). Lão tử
nói: “Ngô sở dĩ đại hoàn dả, vị ngô hửu thân. Cập ngô vô thân, ngô hửu hà hoạn?” Lão
tử cho rằng vì ta có cái thân nên mới có hoạn nạn, nếu ta không có cái thân thì làm gì có
hoạn nạn.
Quan niệm trên của Phật và Lão rõ ràng là đối kháng với lý thuyết tâm lý cái tôi
(self psychology) của một số các tâm lý gia Tây phương trong thời kỳ đầu thế kỷ 20. Lý
thuyết tâm lý cái tôi nhấn mạnh đến tầm quan trọng phải luôn chú ý và quan tâm thỏa
mãn những nhu cầu đòi hỏi thiết yếu của bản thân, liên quan đến cả vật chất lẫn tinh thần.
Một cá nhân lành mạnh phải là người có khả năng nhận biết rõ những nhu cầu thuộc cái
tôi của mình, nghĩa là phải chấp ngã, phải biết làm sao thỏa mãn những ao ước, khỏa lấp
thiếu thốn của mình thì mới có được cuộc sống quân bình, không rối loạn về mặt tinh
thần. Dù cho thuyết vô ngã và chấp ngã có những quan niệm hoàn toàn đối kháng nhau
về mục đích trong kiếp sống của con người, nhưng rõ ràng cả hai lý thuyết đều có những
giá trị về mặt lý luận dựa trên bản chất tự nhiên của con người và thực tiễn của cuộc
sống. Hai quan niệm này đặc biệt giúp ta chú ý khi nghiên cứu về tính chất phức tạp liên
quan đến những nhu cầu của hai mặt tinh thần và thể xác trong cuộc sống của mỗi thân
chủ.

34

Vào thời kỳ này, Khổng Tử (năm 551 trước Công Nguyên) và các môn đệ của
ông cũng thường đi khắp nơi trong Hoa lục để rao giảng những lời dạy về cách ăn ở và
xử thế trong dân gian. Trong bộ Tứ thư, Khổng Tử khuyên mọi người hãy giữ vững hai
ý niệm quân tư và chính danh trong quan hệ hằng ngày. Ông cho rằng nếu mỗi người ở
mọi tầng lớp trong xã hội đều thực hiện đúng đắn hai vai trò mình đang nắm giữ thì xã
hội sẽ luôn được quân bình và trật tự, hòa bình và hạnh phúc. Người quân tử thì phải
thành ý, chính tâm, trí tuệ, tu thân, tề gia, v. v... và đặc biệt là làm việc gì cũng phải
chính danh, nghĩa là phải hành động cho phù hợp với cái danh mình đang có. Nói rõ hơn,
Khổng Tử dạy rằng muốn cho xã hội không bị chệch hướng, thác loạn, và sụp đổ thì ai
cũng phải tu luyện cho bản thân mình có một cái tâm với những đức tính tốt và phải có
trách nhiệm và bổn phận đúng với vị thế của mình trong xã hội. Sách Luận ngữ có để lại
lời nói của Khổng Tử khi một vị vua hỏi ông về phép trị nước, ông đáp: “Vua hãy cư xử
cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha, con cho ra con”. Ông muốn nói rằng nếu vua
không hành động đúng với cương vị, trách nhiệm, và phẩm hạnh của mình thì vua không
còn là vua nữa, và trong một gia đình cũng vậy, cách hành động và cư xử đúng đắn hay
không trong vị trí của người cha hay người con cũng sẽ tương tự như vậy.
Bên trời Tây vào khoảng thế kỷ thứ I và II sau Công nguyên, Aretaeus và Galen
cũng giới thiệu về cách chữa trị các rối loạn tâm lý tâm thần với những quan niệm tương
tự như ý kiến của Hippocrates đề ra khoảng 500 năm trước đây. Nhưng khác với quan
niệm của Hippocrates, những vị lương y này cho rằng các triệu chứng bất thường hay rối
loạn trong hành vi và cử chỉ của một số người thường không có liên hệ gì đến phần sinh
lý cơ thể của họ, mà là do hậu quả của những vấn đề quá trớn, bất thường thuộc về cảm
xúc, tức là những vấn đề thuộc về lĩnh vực tâm lý đơn thuần của người ấy.
Galen cho rằng có hai loại bệnh của não bộ. Một loại do bộ não bị tổn thương vì sự va
chạm và tai nạn, hoặc vì tác động của các chất kích thích như đồ ăn, thức uống hay dược
liệu. Một loại tổn thương khác là do ảnh hưởng của những vấn đề ngoại cảnh làm tạo ra
những cảm xúc quá lớn, tác động mạnh vào lĩnh vực tinh thần, tâm lý của cá nhân, như
những cảnh tai ương thuộc về động đất, bão tố, lũ lụt, chiến tranh, giết chóc, hiếp đáp,
đói khổ, mất mát, làm ăn thất bại, v, v... Theo đó, các vị này đề nghị chữa trị những bệnh
nhân tâm thần bằng các hình thức có tính cách tâm lý trị liệu, như an ủi, hỗ trợ, khuyến
khích, cho nghe nhạc, làm những công việc vui vẻ để tạo ra cảm hứng và thích thú, cho
tắm nước nóng và tập thể dục. Trong một số trường hợp đặc biệt, con bệnh cũng được
cho chảy máu để giảm số lượng máu lên đầu với hy vọng là sự sụt giảm máu sẽ làm cơn
điên loạn dịu dần (5).

35

2. Thời bán cổ đại
(Khoảng thế kỷ thứ 5 đến 13 sau Công Nguyên):
Bước qua thời kỳ sụp đổ của đế quốc La Mã, cùng với những cảnh chinh chiến,
đói khổ trong xã hội, con người lại có khuynh hướng quay trở lại với những ý niệm siêu
nhiên, tin vào sự hiện hữu của một thế giới tâm linh, ma thuật, với những con người vô
hình có quyền năng đang ngự trị trên cõi trần. Những vấn đề bất thường hay rối loạn
trong hành động, cử chỉ, nhân cách của cá nhân đều được gán cho là có nguyên nhân từ
những sự bắt bớ, xâm nhập của thần linh hay ma quỷ. Theo đó, các hình thức chữa trị
những vấn đề tâm lý tâm thần theo lối mê tín dị đoan đã được thực hành trở lại như trong
thời cổ đại, nghĩa là các vị đạo sĩ, thầy cúng, thầy mo thường đứng ra tổ chức những cuộc
ma chay, cúng lạy, tế sinh, cầu hồn, đồng bóng, hay đem con bệnh ra đánh đập, hành hạ,
bỏ đói...như là những hình thức tạ ơn thần linh, hoặc hy vọng xua đuổi được tà ma, quỉ
dữ ra khỏi thân xác người bệnh.
Tuy rằng thời kỳ này được xem như là thời kỳ phát triển chậm chạp, nếu không
muốn nói là “dậm chân tại chỗ” trong một số khía cạnh về khoa học và nền văn minh
nhân loại, nhưng dù sao trong phạm vi tâm lý học cũng có một số ý tưởng tiến bộ đương
thời đáng ghi nhận. Chẳng hạn, hai học giả người Trung đông Al Ghazali và Al Razi
(năm 864-930), đã viết một số sách về y học, trong đó họ đưa ra nhiều ý tưởng mới về
tâm lý học, bàn đến các vấn đề về tiến trình tinh thần, cảm xúc, hành vi, và về tâm lý trẻ
em.
Các học giả này cho rằng sự sợ hãi là một phản ứng học tập có điều kiện (a
learned condition), có nghĩa là hành vi cá nhân, xấu hay tốt, tích cực hay tiêu cực, thường
là do kết quả của sự học hỏi, thao tác, hay bắt chước. Họ cũng quan niệm rằng bản thân
con người ai cũng có những nhu cầu vật chất và tâm lý thôi thúc trong nội tâm, và do đó
ai cũng cần phải được thỏa mãn để có sự quân bình và điều hòa về tinh thần. Các học giả
này đã đề nghị hai kỹ thuật chính trong quan niệm trị liệu: một là kỹ thuật tự đánh giá
(self assessment) để hiểu được mình, và hai là kỹ thuật tự luyện tập (self training) để sửa
đổi và phát triển.
Một thời gian sau, học giả người Ba tư, Avicenna (980-1037) tác giả cuốn sách y
học “Canon of Medicine ” cũng đề nghị một số cách thức chữa trị các rối loạn tâm lý tâm
thần. Hai kỹ thuật ông cho là có nhiều hiệu quả trị liệu là liệu pháp âm nhạc và liệu pháp
giải cảm bằng tự tập luyện. Ông quan niệm rằng tinh thần và thể xác luôn luôn có sự liên
hệ khắn khít và hỗ tương. Ông nói một người mạnh khỏe có thể đột nhiên ngã bệnh nếu
36