Tải bản đầy đủ
Hiệu quả của TLTL

Hiệu quả của TLTL

Tải bản đầy đủ

người bệnh và người trị liệu. Đó là những lý do chính mà các chuyên gia thường gặp
nhiều khó khăn khi đặt căn bản trên những tiêu chuẩn lượng giá hoàn toàn khách quan để
nghiên cứu kết quả của một ca bệnh.
Hơn nữa, tiêu chuẩn đánh giá tính hiệu quả của TLTL đôi khi rất khó đo lường trong
nhiều trường hợp. Chẳng hạn, có những trường hợp sự thành công của một ca TLTL đôi
khi chỉ do sự cảm nhận riêng tư của thân chủ, mà những cảm nhận của thân chủ thường
lại bị tác động bởi nhiều yếu tố có thể không có liên hệ gì đến tính hiệu quả thật sự của
TLTL. Thực tế cho thấy có những thân chủ, có lẽ vì đã tốn nhiều thì giờ và chi phí cho
các phiên TLTL, nên có ảo tưởng rằng bản thân mình đã thật sự có nhiều biến chuyển
mới mẻ. Nhưng về mặt tâm lý nó cũng là một ảo tưởng có ích, ít ra là trong một giai
đoạn. Ngược lại, cũng có những trường hợp thân chủ nửa chừng tự ý bỏ cuộc vì cảm thấy
không có tiến triển gì qua một thời gian trị liệu. Tuy nhiên, về sau này chính thân chủ lại
nhận thấy rằng nhờ vào tác động của những buổi làm việc với nhà trị liệu trước đây mà
hiện nay nhận thấy bản thân mình có nhiều thay đổi và tiến bộ trong các cách suy nghĩ,
phán đoán, cảm nhận và hành động trong cuộc sống hiện tại. Vậy khác với trường hợp
trước, trường hợp sau lại cho thấy kết quả tích cực của TLTL vẫn là điều thực tế, chẳng
qua nó đã diễn biến một cách chậm chạp, ngấm ngầm và tiềm ẩn, rất khó để nhận biết
thôi.
Ngoài ra, định nghĩa về sự thành công của TLTL cũng là một vấn đề khó khăn. Mức
độ thành công trong việc chữa trị một rối loạn tâm thần hay một số triệu chứng bất
thường về tâm lý không dứt khoát như việc chữa trị một căn bệnh thể chất. Ở mức độ nào
thì gọi là TLTL đã thành công? Có người cho rằng sự thành công của công việc TLTL
không thể được đánh giá bằng những con số, mà phải được nhận thức một cách uyển
chuyển và tinh tế hơn. Kết quả của TLTL có thể xảy ra ở nhiều mức độ và giai đoạn khác
nhau chứ không nhất thiết phải đạt đến một mức độ lành bệnh nhất định như một căn
bệnh thể chất. Ở mức độ khiêm nhường nhất, TLTL cũng như toa thuốc giảm đau, nếu nó
không có khả năng chữa lành căn bệnh được thì ít nhất nó cũng làm dịu đi sự đau đớn,
cảm giác buồn khổ, hay giúp thân chủ nhận ra được những nét tiêu cực, không hợp lý, sai
trái trong những cách ứng xử nào đó của mình để có sự thay đổi. Như vậy, một khi thân
chủ xác nhận rằng TLTL đã làm cho mình có sự thay đổi, cảm thấy thoải mái hơn, nhận
thức đúng đắn hơn, ứng xử thích hợp hơn… chỉ chừng đó là đủ để nói lên sự thành công
rồi.
Chẳng hạn, một đôi vợ chồng đang trên đường tiến hành thủ tục ly dị vì lý do là cả hai
đều không chịu đựng nhau nữa về sự khác biệt cá tánh, cũng như các cách cư xử trong
cuộc sống chung. Cả hai được khuyến khích tìm gặp chuyên viên TLTL. Sau một số
17

phiên gặp, cả hai nhận thức được vấn đề và tạm thời đồng ý một giải pháp hòa giải.
Người chồng hứa sẽ không đi sớm về khuya, la cà chỗ này chỗ nọ nữa, và đối lại người
vợ hứa sẽ bỏ thái độ hay phàn nàn và đay nghiến với người chồng. Sau những tuần làm
việc, giải pháp hòa giải nhà tâm lý đề nghị đã tỏ ra có hiệu quả vì cả hai vợ chồng đều
hứa sẽ cố gắng giữ lời cam kết, và vào lúc này họ quyết định rút lại đơn xin ly dị. Vậy
đến đây có thể cho rằng công việc của TLTL đã có kết quả tích cực chưa?
Có ý kiến nói rằng khi thân chủ chấp nhận sửa đổi và đồng thuận rút đơn xin ly dị thì
đó là một dấu hiệu thành công rồi, vì nó đã đạt được mục tiêu đang mong muốn trước
mắt của công việc TLTL lần này. Nếu có những yêu cầu gì thêm nữa thì đó là công việc
của tương lai. Nói khác đi, làm sao có thể giúp cho cuộc sống của đôi vợ chồng từ đây về
sau vĩnh viễn sẽ không có vấn đề?
Nhưng ý kiến khác lại nói rằng ta không thể dựa vào một kết quả tạm thời để kế luận
rằng đó là hiệu quả của công việc TLTL, vì các thành quả của công việc TLTL phải có
tính cách toàn diện và lâu dài. Liệu rằng sự cam kết này có bền vững và làm thay đổi thật
sự cách cư xử của cả hai vợ chồng chưa, hay nó chỉ là một cam kết tạm thời và thoáng
qua do những yếu tố khác bên ngoài tác động vào trong khi đôi bên đang tiến hành
TLTL? Rõ ràng những lập luận khác nhau như vậy khiến cho việc đánh giá hiệu quả của
TLTL thường gây ra rất nhiều bàn cải và khó đi đến kết luận.
Mặc dù vậy, cho đến nay cũng đã có hằng trăm các cuộc nghiên cứu và kiểm tra được
thiết lập để trắc nghiệm tính hiệu quả của TLTL. Kết luận của nhiều nhà nghiên cứu là,
trên một bình điện tổng quát, TLTL rõ ràng đã giúp rất nhiều cho cuộc sống của nhiều cá
nhân và sinh hoạt của cộng đồng xã hội. (Qua nhiều năm hành nghề, chính bản thân
người viết giáo trình này cũng đã được nghe nhiều thân chủ phát biểu trực tiếp hay qua
thư từ rằng sau thời gian tiếp nhận TLTL, họ giờ đây thật sự cảm thấy có những thay đổi
và tiến bộ hơn trên một số phương diện thuộc về nhận thức, cảm xúc và ứng xử).
Tuy vậy, dù sao cũng cần phải ý thức rằng không phải là không có những trường hợp
mà trong đó TLTL có thể gây ra thiệt hại cho thân chủ, nhất là vì những lý do liên quan
đến các đặc tính tiêu cực trong khả năng và nhân cách của nhà trị liệu; chẳng hạn anh/cô
ta có sự yếu kém về kiến thức và kinh nghiệm nghề nghiệp, hoặc anh/cô ta có tính thành
kiến, phân biệt, hoặc có những hành vi thiếu luân lý, đạo đức làm mất đi tính chất tốt đẹp
của mối quan hệ trị liệu.
TLTL thường là phương tiện chữa trị chính yếu và có thể là duy nhất, có khả năng mang
lại nhiều kết quả tốt cho những ca bệnh thuộc loại tâm căn (neurosis) không thuộc loại
18

quá trầm trọng, là những loại triệu chứng rối loạn tâm thần tâm lý do tác động của tình
huống ngoại cảnh. Một số các loại bệnh thuộc loại tâm căn có thể thích hợp với việc chữa
trị bằng TLTL, như các loại bệnh tâm thể (psychosomatic illness) (còn gọi là bệnh cơ thê
tâm sinh, tức là có triệu chứng đau nhức cơ thể nhưng không có bằng chứng trong trắc
nghiệm y khoa ), trầm cảm thứ đẳng (dysthymic disorder) (các triệu chứng trầm cảm nhẹ
nhưng dai dẳng), bệnh sản hậu (postpartum depression) (trầm cảm sau khi sinh đẻ), rối
loạn stress sau sang chấn (posttraumatic stress disorder), rối loạn lo âu tổng quát
(generalized anxiety disorder), cũng như các loại rối loạn sợ hãi (phobic disorder), và
ám ảnh cưỡng bức (obsessive compulsive disorder), v, v...
Trong nhiều trường hợp TLTL phải cần đến sự phối hợp của dược lý trị liệu để
giúp người bệnh về mặt sinh lý và thể chất, như làm thay đổi và điều hòa một số chất dẫn
truyền thần kinh (neurotransmitters) trong não, quân bình tinh thần, cảm xúc, và cải thiện
việc ăn ngủ. Nhưng thuốc men cũng chỉ là biện pháp can thiệp và hỗ trợ có tính cách giai
đoạn, vì thuốc không thể làm căn bệnh vĩnh viễn biến mất. Thuốc men dù có tác dụng,
nhưng rõ ràng nó không phải là công cụ có thể phát hiện được nguyên nhân cốt lõi của
vấn đề đã gây ra các triệu chứng tâm lý và tâm thần của thân chủ. Hơn thế nữa, sẽ không
có phương tiện trị liệu nào ngoài TLTL được xem là duy nhất để đối xử với các vấn đề
liên quan đến những triệu chứng rối loạn thuộc về cá tánh, nhân cách, tập quán, hành vi
nghiện ngập, và những vấn đề rắc rối, khó khăn, xung khắc, khủng hoảng trong các mối
quan hệ liên cá nhân trong cuộc sống của thân chủ.
Mặt khác, đối với các triệu chứng rối loạn tâm thần có mức độ trầm trọng thuộc
các nhóm bệnh như: tâm thần phân liệt (schizophrenia), rối loạn khí sắc (mood
disorders), rối loạn lo âu (anxiety disorders), v. v... thì dù cho TLTL không đóng vai trò
chữa trị đơn độc và quyết định, nhưng nó vẫn rất cần thiết, không thể bị loại bỏ trong tiến
trình chữa trị cần có sự phối hợp. Trong khi thuốc men đóng vai trò chính để hạ giảm các
triệu chứng điên loạn cấp tính của bệnh nhân thì trước mắt TLTL sẽ giúp xét nghiệm và
theo dõi tình trạng bệnh, giáo dục người bệnh và thân nhân hiểu rõ tính chất hiểm nghèo
của căn bệnh, hỗ trợ và giúp giải quyết một số những khó khăn trước mắt trong cuộc
sống thường nhật cho người bệnh, đồng thời thuyết phục người bệnh và thân nhân chấp
nhận một kế hoạch trị liệu dài hạn cho căn bệnh thuộc loại mãn đời này.
Sau khi thuốc men làm dịu lại những cơn điên loạn và người bệnh bắt đầu nhận ra
được sự khác biệt giữa thực tại và ảo giác, thực tế với hoang tưởng, thì vào lúc này
TLTL lại trở nên rất cần thiết để giúp người bệnh hiểu rõ hơn những triệu chứng của căn
bệnh mình, biết phân biệt, cảnh giác, và điều hành được những lúc tâm thần và cảm xúc
của mình trở nên khác thường, không ổn định. TLTL sẽ giúp cho người bệnh biết tập
19

luyện các liệu pháp giải cảm và thư giãn để vượt qua những giai đoạn căn thẳng tinh
thần, đồng thời chấp nhận và chuẩn bị cho mình một cuộc sống thích ứng được với
những điều kiện mãn tính của căn bệnh. Nói cách khác, khi các triệu chứng bệnh bước
vào giai đoạn di chứng (residual), nghĩa là bệnh vẫn còn tồn đọng nhưng tạm ổn định, thì
cả hai liệu pháp, dược lý và tâm lý trị liệu vẫn cần phải tiếp tục song song để duy trì và
nâng cao sự ổn định các mặt tâm sinh lý của người bệnh.
Trong một cuộc thăm dò tại Hoa Kỳ để so sánh hiệu quả giữa dược lý trị liệu và
TLTL đối với bệnh trầm cảm, các chuyên gia đã rút ra một kết luận như sau: trong vòng
6 tháng, có 30% số người bị tái bệnh nếu trong quá trình chỉ được chữa trị bằng thuốc,
6% số người tái bệnh nếu chỉ chữa bằng TLTL, và 0% nếu được chữa bằng sự phối hợp
của cả dược lý và TLTL. Và sau 2 năm ổn định, số tái bệnh là 78% nếu trước đây chỉ
được chữa bằng thuốc, 23% bằng TLTL, và 21% nếu đã được chữa bằng sự phối hợp của
cả hai (1).
Trong nhiều năm qua cũng đã có hằng trăm những cuộc kiểm tra để đánh giá kết
quả chữa trị của TLTL. Đơn cử một cuộc nghiên cứu tổng hợp (meta-analysis) mới đây
của Smith và Glass. Các nghiên cứu gia tổng gộp lại 475 kết quả của các cuộc nghiên
cứu độc lập đã thực hiện trước đây liên quan đến 3000 bệnh nhân từng được trị liệu với
những liệu pháp tâm lý khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã phân tích, chiết tính và đo
lường để lấy con số hiệu quả trung bình. Cuộc nghiên cứu tổng hợp đưa ra đáp số với độ
lệch chuẩn (standard diviation) là (.85) có nghĩa là, ở mức độ tương đối, kết quả nghiên
cứu có số trung bình nghiêng hẳn về phía nhóm bệnh nhân đã có sự can thiệp của TLTL.
Nói rõ hơn, cuộc nghiên cứu cho thấy khoảng 66% bệnh nhân được khỏi bệnh nếu đã có
sự can thiệp của TLTL so với 34% bệnh nhân tự nhiên lành bệnh dù đã không có sự chữa
trị nào trong thời gian trên (2). Kết quả này cho thấy, tuy rằng có một số triệu chứng rối
loạn tâm thần tâm lý có thể tự nhiên giảm thiểu hay biến mất sau một thời gian không cần
có trị liệu, điều này cũng giống như một số các bệnh thuộc về thể chất, nhưng đồng thời
kết quả đó cũng cho thấy đa số số bệnh nhân lành bệnh nhờ có sự can thiệp của TLTL
vẫn là một thực tế không thể chối bỏ.
Tuy vậy, khi so sánh hiệu quả chữa trị giữa các liệu pháp tâm lý khác nhau đã
được áp dụng cho các ca bệnh thì cuộc nghiên cứu đã không đưa ra được con số so sánh
thực tiễn nào. Điều này cho ta hiểu rằng sự khác biệt về các mặt phương pháp và kỹ thuật
trong số những trường phái TLTL khác nhau thường không phải là vấn đề chính yếu
trong việc mang lại thành quả cho công việc trị liệu.

20

Đa số những chuyên viên nhiều kinh nghiệm trong ngành đều đồng ý rằng TLTL
luôn luôn là một công việc khó khăn và phức tạp. Một trong những khó khăn là do vấn đề
tác dụng trị liệu của TLTL thường rất tiềm tàng, nếu có sự tiến triển nào thì cũng thường
chậm chạp và khó nhận biết, vì vậy thân chủ thường dễ bị nản lòng, ít có ai theo đuổi đến
cuối cùng những mục tiêu khởi đầu đề ra trong hợp đồng trị liệu. Đó cũng chính là điều
gây ra nhiều khó khăn cho các cuộc điều tra và nghiên cứu khi cần phải chọn lựa đủ số
lượng những ca trị liệu nào đã hoàn tất được hợp đồng để có thể đánh giá mức độ đáng
tin cậy và hiệu quả của công việc.
Dù sao trên thực tế, ngành TLTL thật sự đã chứng nghiệm được tính hiệu quả
trong các dịch vụ giúp cho thân chủ thuyên giảm các triệu chứng lo âu, đau buồn, những
cảm xúc quá trớn, và những hành vi chệch hướng, v, v... TLTL cũng có tiềm năng phòng
ngừa, ngăn chặn những dấu hiệu và triệu chứng có thể khởi đầu cho một loại bệnh lý nào
đó trong tương lai, đồng thời giúp cho thân chủ thấy được những hướng đi thích hợp hơn
cho cuộc sống tương lai của họ. Tuy nhiên, để đạt được các thành quả này, đòi hỏi người
chuyên viên phải có nhiều kiến thức về con người và xã hội, cùng với kinh nghiệm nghề
nghiệp trong ứng xử, tương tác, đối thoại, và đặc biệt phải luôn luyện tập cho chính mình
một tư chất khiêm tốn, thành thật, cởi mở và lòng ham muốn học hỏi không ngừng để
nâng cao khả năng và thành quả trong công việc.
4. Những yếu tố tích cực trong TLTL
Như đã trình bày ở trên, thành quả của một ca TLTL là tùy thuộc phần lớn vào những
yếu tố chủ quan. Những yếu tố chủ quan, hay còn gọi là những biến số có tính cách phụ
thuộc, tổng quát bao gồm ba yếu tố chính: thứ nhất là tính chất của cá tánh, tuổi tác, trình
độ, quyết tâm và động cơ của người thân chủ; thứ hai là tình trạng, mức độ và tính chất
của vấn đề hay bệnh lý của thân chủ; thứ ba là khả năng, kinh nghiệm và thiện chí của
người trị liệu. Ngoài ra, các biến số khác, như lý thuyết và kỹ thuật áp dụng trong ca trị
liệu, đều chỉ là những yếu tố thứ yếu. Tóm lại, các chuyên gia tâm lý đều đồng ý những
yếu tố sau đây là then chốt cho việc tiên đoán được kết quả tích cực của một ca trị liệu.
4.1 Bản thân người bệnh
Đối tượng của TLTL thường là những thành phần rất phức tạp và đa dạng với
những yêu cầu, động cơ và cá tánh khác biệt nhau. Nhiều cuộc kiểm tra cho thấy, những
thân chủ thích hợp nhất cho TLTL thường là những cá nhân tuổi còn trẻ, thông minh và
tương đối có trình độ học vấn, có nhận thức tốt, cá tánh cởi mở và sự chân thành hợp tác
trong tiến trình trị liệu, có sự mong đợi và đặt hy vọng vào kết quả của công việc. Ngược
21

lại, những cá nhân có cá tánh cứng cỏi, cố chấp, thủ cựu, không thành thật và đóng cõi,
thường nghi kỵ, cáo buộc, đổ lỗi cho người khác, và không thích hợp tác thì thường khó
có thể gặt hái được những kết quả tích cực nào. Ngoài ra, cá nhân có những vấn đề khó
khăn về khả năng tiếp thu và diễn đạt trong tương tác và đối thoại (ví dụ, những cá nhân
tâm thần phân liệt đang trong giai đoạn cấp tính, cá nhân có bệnh chậm trí hay bệnh tự
kỷ…) cũng đem lại không ít trở ngại cho công việc trị liệu.
4.2- Bản thân nhà trị liệu
Khả năng, kinh nghiệm và cá tánh của người chuyên viên cũng có ảnh hưởng rất
lớn vào kết quả của công việc. Câu hỏi tại sao những chuyên viên cùng được đào tạo từ
những trường lớp giống nhau, nhưng khi ra hành nghề tại hiện trường lại có người dễ
thành công và có người dễ thất bại? Câu trả lời là, dù kiến thức và kinh nghiệm trong
ngành nghề là rất cần thiết, nhưng đặc biệt nhà trị liệu còn cần phải có những nét cá tánh
thích hợp với nghề nghiệp nữa. Bác sĩ Carl Rogers, người sáng tạo liệu pháp Nhân vị
Trọng tâm (client-centered therapy), có quan điểm rằng nhà trị liệu phải là người luôn
luôn có thái độ quan tâm tích cực vô điều kiện (unconditional positive regard), nghĩa là
phải có lòng rộng mở cảm thông, chân thành chấp nhận, không phê phán và tôn trọng đối
tượng mới mời gọi được sự hợp tác của họ. Trong khi hành nghề, nhà trị liệu phải luôn
giữ tinh thần và cảm xúc vững vàng trong mọi tình huống, biết kiên nhẫn và chịu đựng,
không dễ bị bối rối, chao đảo vì những xúc cảm quá trớn, và luôn tận tâm với nghề
nghiệp. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu cũng cho thấy khi người trị liệu và thân chủ có vài
điểm tương đồng về lòng tin, giá trị, kiểu sống, sở thích và kinh nghiệm thì tiến trình
TLTL thường là thuận lợi và có nhiều cơ hội mang lại kết quả nhanh chóng hơn.
4.3- Mối quan hệ trị liệu
Trong công việc TLTL, mối quan hệ trị liệu, hay là liên minh trị liệu là yếu tố then
chốt cho sự thành công. Mối quan hệ trị liệu phải được thiết lập và xây dựng trên nỗ lực
và sự tin tưởng của cả hai bên. Một liên minh trị liệu có tiềm năng đem lại những kết quả
tốt đẹp nhất là một liên minh mà trong đó người trị liệu và thân chủ đều có được những
điểm tích cực trong cá tánh của họ như đã được mô tả ở hai mục trên. Nhưng điều này
không hàm ý rằng người trị liệu và thân chủ phải có cùng lứa tuổi, giới tính, chủng tộc,
tôn giáo, văn hóa, v, v... và cũng không cần thiết rằng họ phải có sự yêu thích lẫn nhau.
Tuy nhiên, cũng cần chú ý đến những lý do khiến cho người trị liệu và thân chủ
không hiểu hay dễ đi đến hiểu lầm nhau, liên quan đến những vấn đề như có thành kiến
trái ngược về giá trị và lòng tin, hay khác biệt về văn hóa.... Ví dụ, vì không hiểu rõ văn
22