Tải bản đầy đủ
Doanh nghiệp có nhiều loại lao động khác nhau nên để thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán kế toán cần thiết phải tiến hành phân loại theo các nhóm khác nhau.

Doanh nghiệp có nhiều loại lao động khác nhau nên để thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán kế toán cần thiết phải tiến hành phân loại theo các nhóm khác nhau.

Tải bản đầy đủ

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội

10

Khoa Kế toán-Kiểm toán

sản phẩm. Ngoài ra một số doanh nghiệp còn áp dụng các hình thức trả lương khác
như h́ình thức trả lương sản phẩm thưởng luỹ tiến, khoán khối lượng hoặc khoán
từng việc, khoán quỹ lương.
1.5.1 Hình thức trả lương theo thời gian
Hình thức trả lương theo thời gian: Theo hình thức này, việc tính trả lương cho nhân
viên theo thời gian làm việc, theo ngành nghề và tŕnh độ thành thạo nghiệp vụ, kỹ
thuật chuyên môn của người lao động. Tuỳ theo tính chất lao động khác nhau mà
mỗi ngành nghề cụ thể có một thang lương riêng: thang lương nhân viên cơ khí,
nhân viên lái xe… Trong mỗi thang lương lại tuỳ theo tŕnh độ nghiệp vụ, kỹ thuật,
chuyên môn mà lại chia làm nhiều bậc lương, mỗi bậc lương có một mức tiền lương
nhất định. Đơn vị để tính tiền lương thời gian là lương tháng, lương ngày, lương
giờ.
Lương tháng được quy định sẵn đối với từng bậc lương trong các thang lương.
Lương tháng thường được áp dụng để trả lương cho công nhân viên làm công tác
quản lý kinh tế, quản lý hành chính và các nhân viên thuộc các ngành không có tính
chất sản xuất.
Lương ngày là lương trả cho người lao động theo mức lương ngày và số ngày làm
việc thực tế trong tháng. Mức lương ngày đựơc tính bằng cách lấy mức lương tháng
chia cho số ngày làm việc trong tháng theo chế độ. Lương ngày thường được áp
dụng để trả lương cho lao động trực tiếp hưởng lương theo thời gian, tính trả lương
cho người lao động trong những ngày hội họp, học tập, làm nghĩa vụ khácvà làm
căn cứ để tính trợ cấp, Bảo hiểm xă hội.
Mức lương giờ tính bằng cách lấy mức lương ngày chia cho số giờ làm việc trong
ngày theo chế độ. Lương giờ thường được áp dụng để trả lương cho lao động trực
tiếp hưởng lương trong thời gian làm việc không hưởng lương theo sản phẩm .
Nhìn chung, hình thức trả lương theo thời gian có mặt hạn chế là mang tính chất
bình quân, nhiều khi không phù hợp với kết quả lao động. Vì vậy chỉ những trường

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội

11

Khoa Kế toán-Kiểm toán

hợp nào chưa đủ điều kiện thực hiện hình thức trả lương theo sản phẩm mới phải áp
dụng hình thức trả lương theo thời gian.
Tiền lương được trả căn cứ vào thời gian làm việc.
+ Cách tính lương thời gian của công ty : tùy theo tính chất mức độ khác nhau
mà mỗi ngành nghề cụ thể có 1 thang lương riêng . trong mỗi 1 thang lương
lại tùy theo trình độ chuyên môn mà chia làm nhiều bậc thang cơ bản,mỗi
bậc thang cơ bản có một mức độ riêng hay còn gọi là “ mức lương cơ bản”.
Lương tháng: áp dụng đối với cán bộ nhân viên làm ở bộ phận gián tiếp được tính là
26 ngày theo chế độ.
Lương tháng = Mức lương tối thiểu * hệ số lương theo cấp bậc, chức vụ và
phụ cấp theo lương.
Mức lương tháng
Tiền lương ngày =
Số ngày làm việc trong tháng theo chế độ
Tiền lương phải

=

Tiền lương

X

Số ngày thực tế làm việc

trả trong tháng
ngày
trong tháng
+ Các khoản khấu trừ vào lương: từ ngày 1/1/2012
- BHXH = lương tối thiểu x hệ số lương x 7%
- BHYT = lương tối thiểu x hệ số lương x 1,5%
- BHTN = lương tối thiểu x hệ số lương x 1%
+ Các khoản khấu trừ vào lương : từ ngày 1/1/2014
- BHXH = lương tối thiểu x hệ số lương x 8%
- BHYT = lương tối thiểu x hệ số lương x 1,5%
- BHTN = lương tối thiểu x hệ số lương x 2%

Hình thức tiền lương này có ưu và nhược điểm như sau
-

Ưu điểm : Hình thức này dễ tính lương khi việc chấm công và hạch
toán ngày công, giờ công được cụ thể chính xác

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội
-

12

Khoa Kế toán-Kiểm toán

Nhược điểm : Nó mang tính bình quân, không khuyến khích sử dụng
hợp lý thời gian lao động, chưa thực sự gắn với kết quả sản xuất,
không thúc đẩy quá trình lao động của công nhân viên

1.5.2 Hình thức trả lương theo sản phẩm
Hình thức trả lương theo sản phẩm là hình thức tính trả lương cho người lao động
theo số lượng và chất lượng sản phẩm hoặc công việc đă hoàn thành. Đây là hình
thức trả lương phù hợp với nguyên tắc phân phối theo lao động, gắn chặt năng suất
lao động với thù lao lao động, có tác dụng khuyến khích người lao động nâng cao
năng suất lao động góp phần tăng sản phẩm cho xã hội . Trong việc trả lương theo
sản phẩm th́ì điều kiện quan trọng nhất là phải xây dựng được các định mức kinh tế
– kỹ thuật để làm cơ sở cho việc xây dựng đơn giá tiền lương đối với từng loại sản
phẩm, từng công việc một cách hợp lý.
Hình thức trả lương theo sản phẩm tuỳ thuộc vào tình hình cụ thể ở từng doanh
nghiệp mà vận dụng theo từng h́nh thức cụ thể .
Tùy tình hìn cụ thể ở từng doanh nghiệp mà các doanh nghiệp lại vận dụng các hình
thức trả lương theo sản phẩm khác nhau.
Hình thức tiền lương theo sản phẩm trực tiếp không hạn chế. Với h́ình thức này, tiền
lương phải trả cho người lao động được tính trực tiếp theo số lượng sản phẩm hoàn
thành đúng quy cách , phẩm chất và đơn giá tiền lương đã quy định , không chịu bất
cứ một hạn chế nào .
Hình thức trả lương theo sản phẩm gián tiếp: thường được áp dụng để trả lương cho
lao động gián tiếp ở các bộ phận sản xuất như lao động làm nhiệm vụ vận chuyển
vật liệu, thành phẩm, bảo dưỡng máy móc thiết bị … Tuy lao động của họ không
trực tiếp tạo ra sản phẩm , nhưng lại gián tiếp ảnh hưởng đến năng suất của người
lao động trực tiếp, nên có thể căn cứ vào kết quả lao động trực tiếp mà lao động
gián tiếp phục vụ để tính lương sản phẩm cho lao động gián tiếp .

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội

13

Khoa Kế toán-Kiểm toán

Hình thức trả lương theo sản phẩm có thưởng, có phạt: Theo hình thức này, ngoài
tiền lương theo sản phẩm trực tiếp, người lao động còn được thưởng trong sản xuất
như thưởng về chất lượng sản phẩm tốt , năng suất lao động hiệu quả, tiết kiệm vật
tư. Trong các trường hợp lao động làm ra sản phẩm háng , lãng phí vật tư trên định
mức quy định hoặc không bảo đảm đủ ngày công quy định th́ có thể chịu tiền phạt
trừ vào thu nhập cuả họ.
Tiền lương được trả trên cơ sở số lượng sản phẩm và chất lượng sản phẩm được tạo
ra.
Lương sản phẩm thuần: LSPi = ĐGi * Qi
Lương sản phẩm theo hệ số điều chỉnh: LSPi = ĐGi * Qi * HSĐCi
Trong đó:
-

LSPi: Lương sản phẩm i

-

Qi: Sản lượng sản phẩm i

-

ĐGi: Đơn giá sản phẩm i

-

HSĐCi: Hệ số điều chỉnh chất lượng SP i

Xác định sản lượng định mức (Qi) và Đơn giá lương sản phẩm (ĐGi)
-

Sản lượng định mức: Thông qua định mức lao động, xác định thời gian hoàn

thành một sản phẩm
Công thức tính sản lượng định mức:
Sản lượng định mức (Qi) = Ngày công chuẩn (C) * 8 / Thời gian hoàn thành
một SP
-

Đơn giá lương sản phẩm:

Đơn giá lương SP (ĐGi) = Mức lương tháng (ML) / Sản lượng định mức tháng
(Qi)
Các phương pháp phân phối lương sản phẩm tập thể (theo hệ số):
-

Phương pháp 1: Phân phối theo mực độ phức tạp công việc cá nhân

-

Phương pháp 2: Phân phối theo mực độ phức và ngày công làm việc cá nhân

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội
-

14

Khoa Kế toán-Kiểm toán

Phương pháp 3: Phân phối theo mức độ phức tạp – ngày công & hiệu quả lao

động.
Những yêu cầu cần thiết để áp dụng hiệu quả phương pháp trả lương theo sản
phẩm:


Đối với Q:

-

Phải hoàn thiện công tác nghiệm thu, thống kê sản lượng

-

Phải hoàn thiện công tác kiểm tra chất lượng (KCS)

-

Kiểm soát được hiệu suất hoạt động máy móc thiết bị


Đối với ĐG:

-

Có phương pháp xác định đơn giá công bằng, hợp lý

-

Xác định định mức lao động chính xác trên cơ sở năng suất lao động bình

quân tiên tiến
-

Kiểm soát được quỹ lương sản phẩm

Quy trình tính lương sản phẩm:
-

Bước 1: Xác định quỹ lương sản phẩm danh nghĩa (cá nhân hoặc tập thể)

-

Bước 2: Xác định định mức lao động

-

Bước 3: Tính đơn giá tiền lương (cá nhân hoặc tập thể)

-

Bước 4: Tổng hợp số liệu sản lượng, chất lượng SP

-

Bước 5: Tính toán hệ số điều chỉnh

-

Bước 6: Tính lương sản phẩm/tổng quỹ lương sản phẩm tập thể thực tế trong

tháng
-

Bước 7: Phân chia quỹ lương theo hệ số.

1.5.3 Hình thức trả lương khoán
Chế độ tiền lương này thường được áp dụng cho những công việc mà nếu giao từng
chi tiết, bộ phận sẽ không có lợi mà phải giao toàn bộ khối lượng công việc cho
người lao động trong một khoảng thời gian nào đó phải hoàn thành mới có hiệu quả.
Chế độ tiền lương này thường được áp dụng trong các nghành như xây dựng cơ
bản, nông nghiệp …

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội

15

Khoa Kế toán-Kiểm toán

Về thực chất chế độ tiền lương khoán là một dạng đặc biệt của hình thức tiền lương
sản phẩm.
Đơn giá khoán có thể được tính cho 1m2 diện tích (trong xây dựng cơ bản), cho
1hec-ta (trong nông nghiệp)…
Chế độ tiền lương này sẽ khuyến khích mạnh mẽ người lao động hoàn thành công
việc trước thời hạn.
Khi giao khoán những chỉ tiêu khoán thường bao gồm:
-

Đơn giá khoán

-

Thời gian hoàn thành

-

Chất lượng sản phẩm hay công việc

Lương khoán = ĐG khoán x Khối lượng công việc hoàn thành.
Chế độ tiền lương này có thể áp dụng cho cá nhân hoặc tập thể. Nếu đối tượng nhận
khoán là tập thể thì khi phân phối tiền lương cho cá nhân sẽ giống như chế độ tiền
lương tập thể.
Điều cần chú ý là khi xây dựng đơn giá khoán để bảo đảm chính xác cần phải tỉ mỉ,
chặt chẽ.
Sự khác biệt chế độ tiền lương này với chế độ tiền lương sản phẩm trực tiếp cá nhân
là người ta không kiểm soát thời gian làm việc của người lao động mà miễn sao họ
hoàn thành công việc theo đúng hạn định là được. Và khi hoàn thành khối lượng
khoán người lao động không nhất thiết phải làm thêm.
1.6 Các chế độ trả lương phụ, thưởng, trợ cấp

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội

16

Khoa Kế toán-Kiểm toán

Việc trả lương, thưởng và các khoản trợ cấp cho từng cá nhân, từng bộ phận nhằm
khuyến khích người lao động làm việc, hoàn thành tốt công việc theo chức danh và
đóng góp quan trọng vào việc hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh của công
ty.
Tạo động lực thúc đẩy người lao động nâng cao kiến thức tích lũy kinh nghiệm.
Là đòn bẩy kinh tế đối với sự phát triển của công ty.
Thực hiện đúng quy định của pháp luật lao động về lương thưởng và các chế độ cho
người lao động.
 - Người lao động có 12 tháng làm việc tại Công ty thì được nghỉ 12 ngày phép
năm hưởng nguyên lương. Mỗi tháng người lao động được nghỉ một ngày phép,
nếu không nghỉ thì ngày phép đó sẽ cộng dồn vào những tháng sau. (dựa theo
điều 74). Cụ thể như sau: Nếu tháng 1 nhân viên có một ngày nghỉ phép hưởng
nguyên lương mà không sử dụng thì có thể cộng dồn vào tháng 2. Đến tháng 2
có nhu cấu sử dụng thì có thể sử dụng cả 2 ngày phép. Nhân viên cũng có thể sử
dụng một lần phép năm nếu không ảnh hưởng đến công việc.
 - Nếu thời gian làm việc dưới 12 tháng thì số ngày phép năm được tính theo tỉ
lệ tương ứng với số tháng làm việc. (dựa theo Khoản 2 điều 77)
 - Người lao động sẽ có thêm một ngày phép năm hưởng nguyên lương cho mỗi
5 (năm) năm làm việc (dựa theo điều 75)
 Người lao động có quyền nghỉ và hưởng đầy đủ lương như những ngày đi làm
trong các trường hợp sau:
 - Bản thân kết hôn: được nghỉ 5 ngày.
 - Con lập gia đình: được nghỉ 1 ngày.
 - Bố mẹ (cả bên chồng và bên vợ) chết, hoặc vợ, chồng, con chết: đuợc nghỉ 3
ngày.
 - Người lao động là chồng có vợ sinh con lần 1 và 2: được nghỉ 2 ngày.
 - Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để xin nghỉ
không hưởng lương, tuy nhiên chỉ trong trường hợp có lý do thật sự chính đáng.

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội

17

Khoa Kế toán-Kiểm toán

 - Quy định người lao động có thề xin nghỉ không lương tối đa: 14 ngày trong
năm.
1.7 Quỹ tiền lương, quỹ BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ
Quỹ tiền lương: Quỹ tiền lương của doanh nghiệp bao gồm tất cả các khoản tiền
lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tính chất tiền lương (tiền ăn giữa ca, tiền
hỗ trợ phương tiện đi lại, tiền quần áo đồng phục ...) mà doanh nghiệp trả cho các
loại lao động thuộc doanh nghiệp quản lý
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian làm việc thực tế (Tiền lương
theo thời gian, tiền lương theo sản phẩm và tiền lương khoán).
- Tiền lương trả cho người lao động sản xuất ra sản phẩm hỏng trong phạm vi chế
độ quy định.
- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do nguyên nhân
khách quan, trong thời gian được điều động đi công tác làm nghĩa vụ theo chế độ
quy định, thời gian nghỉ phép, thời gian đi học.
- Tiền ăn trưa, ăn ca.
- Các loại phụ cấp thường xuyên (phụ cấp làm thêm giờ, phụ cấp dạy nghề, phụ cấp
trách nhiệm, phụ cấp thâm niên...)
- Các khoản tiền thưởng có tính chất thường xuyên. Để phục vụ cho công tác hạch
toán tiền lương trong doanh nghiệp có thể chia thành hai loại: Tiền lương chính và
tiền lương phụ.
- Tiền lương chính là tiền lương doanh nghiệp trả cho người lao động trong thời
gian người lao động thực hiện nhiệm vụ chính của họ, gồm tiền lương trả theo cấp
bậc và phụ cấp kèm theo như phụ cấp trách nhiệm; phụ cấp khu vực, phụ cấp thâm
niên...
- Tiền lương phụ là tiền lương trả cho người lao động trong thời gian người
lao động thực hiện nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính và thời gian người lao
động nghỉ phép, nghỉ tết, nghỉ vì ngừng sản xuất... được hưởng theo chế độ.

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội

18

Khoa Kế toán-Kiểm toán

Việc phân chia tiền lương thành lương chính, lương phụ có ý nghĩa quan trọng đối
với công tác kế toán và phân tích kinh tế. Tiền lương chính của công nhân trực tiếp
sản xuất gắn liền với quá trình sản xuất ra sản phẩm và được hạch toán trực tiếp vào
chi phí sản xuất từng loại sản phẩm. Tiền lương phụ của công nhân trực tiếp
sản xuất không gắn với từng loại sản phẩm nên được hạch toán gián tiếp vào chi phí
sản xuất sản phẩm.
- Quỹ Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đặp một phần thu nhập đối với người
lao động khi họ gặp phải biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc
làm bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của
người lao động và người sử dụng lao động nhằm đảm bảo đời sống cho người lao
động.
Phương thức đóng BHXH dựa trên cơ sở mức tiền lương quy định để đóng góp
BHXH đối với người lao động
Quỹ BHXH: Theo chế độ hiện hành quỹ BHXH được trích theo tỷ lệ 24% trên tổng
quỹ lương cấp bậc và các khoản phụ cấp thường xuyên của người lao động thực tế
trong kỳ hạch toán. Trong đó:
+ 17% người sử dụng lao động phải nộp
+ 7% người lao động trực tiếp đóng góp
- Quỹ Bảo hiểm y tế
Giống như BHXH, BHYT là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần chi phí khám
chữa bệnh cho người lao động khi họ gặp rủi ro, ốm đau, tai nạn…băng cách hình
thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người sử dụng lao
động nhằm đảm bảo sức khoẻ cho người lao động.
Quỹ BHYT: Được hình thành bằng cách trích 4,5% trên số thu nhập tạm tính của
người lao động, trong đó người sử dụng lao động phải chịu 3% khoản này được
tính vào chi phí kinh doanh, người lao đông trực tiếp nộp 1.5% (trừ vào thu nhập).
- Kinh phí công đoàn

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội

19

Khoa Kế toán-Kiểm toán

Người lao động để đảm bảo quyền lợi của mình trước doanh nghiệp. Họ lập ra tổ
chức công đoàn, tổ chức này chuyên trách việc đại diện cho người lao động để thương
thuyết với doanh nghiệp đòi quyền lợi. Nguồn kinh phí hoạt động của tổ chức này lấy
từ KPCĐ.
Theo chế độ hiện hành thì KPCĐ được trích theo tỷ lệ 2% trên tổng quỹ lương phải
trả cho người lao động và đơn vị sử dụng lao động phải chịu khoản chi phí này.
- Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp
Là khoản dùng để chi trả cho người lao động trong thời gian chưa có việc làm sau khi
đã nghỉ làm tại doanh nghiệp.
Quỹ BHTN được tính theo tỷ lệ quy định trên tổng số lương của công nhân.
Tỷ lệ trích BHTN hiện hành là 2% trong đó:
+1% do người sử dụng lao động phải chịu
Tỷ lệ trích đối với doanh nghiệp (DN) đóng góp được đưa vào chi phí hoạt động sản
xuất kinh doanh trong kỳ và người lao động (NLĐ) đóng góp thường được trừ vào
lương như sau:
Tỷ lệ các khoản trích theo lương (BHXH - BHYT - BHTN - KPCD) áp dụng từ
1/1/2014:
- Đối với DN (tính vào Chi phí) (%) như sau :
1. BHXH : 18 %
2. BHYT : 3%
3. BHTN : 1%
4. KPCĐ : 2%
- Đối với người LĐ (Trừ vào lương) :
1. BHXH : 8 %
2. BHYT : 1.5%
3. BHTN : 1%
+ 1% tính vào thu nhập của người lao động

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội

20

Khoa Kế toán-Kiểm toán

1.8 Kế toán lao động về mặt số lượng, thời gian lao động và kết quả lao động
Người lao động là người sử dụng tư liệu sản xuất của chính mình hoặc của người
khác một cách hợp pháp để sản xuất ra sản phẩm có giá trị sử dụng.
Đại đa số lao động của công ty,doanh nghiệp là lao động phổ thông trừ một số vị trí
:cán bộ quản lý,nhân viên văn phòng ,trưởng các bộ phận và một số nhân viên kỹ
thuật ...là đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn
Lao động là một yếu tố quan trọng góp phần vào quá trình sản xuất đợc hoạt động
liên tục và có hiệu quả.Lao động là một thành phần không thể thiếu trong các doanh
nghiệp sản xuất
Người ta phân loại lao động theo 2 nội dung:
• Phân loại lao động theo quan hệ sản xuất
Lao động trực tiếp:là những người công nhân trực tiếp tham gia vào quá trình sản
xuất sản phẩm như công nhân viên ở phan xưởng...
Lao động gián tiếp :là những người không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất
như cán bộ quản lý văn phòng,quản lý phân xưởng...
• Phân loại lao động theo tổ chức quản lý sử dụng theo thời gian lao động:
Lao động thường xuyên trong danh sách là lao động thường xuyên ,đã làm việc lâu
dài trong doanh nghiệp
Lao động không thường xuyên mang tính chất thời vụ :những công nhân viên bốc
vác xếp hàng,lắp đặt sửa chữa ...
• Phân loại theo chức năng của lao động :
Lao động thực hiện chức năng sản xuất:công nhân viên ở các phân xưởng,tổ,bộ
phận sản xuất..
Lao động thực hiện chức năng bán hàng:là những công nhân bán hàng trên thị
trường,tiếp thị,nhân viên quảng cáo..
Lao động thực hiện chức năng quản lý:
Là giám đốc,trưởng phòng bộ phận các ban trong công ty,doanh nghiệp

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp