Tải bản đầy đủ
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG

Tải bản đầy đủ

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội

4

Khoa Kế toán-Kiểm toán

“Tiền lương là khoản tiền mà người lao động nhận được khi họ đã hoàn thành hoặc
sẽ hoàn thành một công việc nào đó , mà công việc đó không bị pháp luật ngăn cấm
”.
“ Tiền lương là khoản thu nhập mang tính thường xuyên mà nhân viên được hưởng
từ công việc ”

“ Tiền lương được hiểu là số lượng tiền tệ mà người sử dụng

lao động trả cho người lao động khi họ hoàn thành công việc theo chức năng ,
nhiệm vụ được pháp luật quy định hoặc hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng lao
động”.
Tiền công chỉ là một biểu hiện, một tên gọi khác của tiền lương. Tiền công gắn trực
tiếp hơn với các quan hệ thỏa thuận mua bán sức lao động và thường được sử dụng
trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, dịch vụ, các hợp động dân sự thuê mướn lao
động có thời hạn. Khái niệm tiền công được sử dụng phổ biến trong những thỏa
thuận thuê nhân công trên thị trường tự do và có thể gọi là giá công lao động. (Ở
Việt nam , trên thị trường tự do thuật ngữ “tiền công” thường được dùng để trả công
cho lao động chân tay , còn “thù lao” dùng chỉ việc trả công cho lao động trí óc ).
Liên quan đến tiền lương ở Việt nam còn có một số khái niệm như:
Tiền lương cơ bản: Là tiền lương được chính thức ghi trong các hợp đồng lao
động, các quyết định về lương hay qua các thỏa thuận chính thức.
Tiền lương cơ bản phản ánh giá trị của sức lao động và tầm quan trọng của công
việc mà người lao động đảm nhận.
Tiền lương tối thiểu: Là tiền lương trả cho lao động giản đơn nhất trong điều kiện
bình thường của xã hội. Tiền lương tối thiểu được pháp luật bảo vệ.
Tiền lương danh nghĩa: Là số lượng tiền mà người lao động nhận được khi họ
hoàn thành một khối lượng công việc nhất định.

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội

5

Khoa Kế toán-Kiểm toán

Tiền lương thực tế: Cùng một khối lượng tiền tệ nhưng ở những thời điểm khác
nhau hay vùng địa lý khác nhau thì khối lượng hàng hóa hay dịch vụ mua được
cũng có thể khác nhau. Như vậy Tiền lương thực tế là khối lượng hàng hóa hay dịch
vụ mà người lao động nhận được thông qua tiền lương danh nghĩa.
Mức tăng của tiền lương được quyết định bởi các phương tiện sống khách quan cần
thiết cho tái sản xuất sức lao động cả về số lượng và chất lượng phù hợp với nhu
cầu phát triển xã hội.
Tiền lương có khuynh hướng tăng lên không ngừng bởi vì bản thân giá trị sức lao
động tăng lên không ngừng. Việc giảm tiền lương so với mức đã dạt được sẽ gặp
phải sự kháng cự mạnh mẽ đến nỗi trên thực tế không được coi là một khả năng có
thể xảy ra trong một thời gian dài hay trong phạm vi mà người ta có thể cảm nhận
thấy được.
Nhịp độ phát triển của tiền lương phải chậm hơn so với nhịp độ phát triển kinh tế
bởi quy luật phát triển tích lũy của tư bản nghiêng về phần cố định đảm bảo cho tái
sản xuất mở rộng.
1.1.2 .Vai trò và chức năng của tiền lương
1.1.2.1 . Vai trò
Tiền lương có một vai trò rất lớn không chỉ đối với riêng bản thân người lao động
mà còn đối với cả nền kinh tế đất nước. Tiền lương không chỉ giúp người lao động
tái sản xuất sức lao động đã bị tiêu hao trong quá trình lao động mà còn giúp người
lao động nuôi sống gia đình họ, trang trải những chi phí phát sinh do gặp rủi ro
trong cuộc sống cũng như góp phần nâng cao trình độ. Tiền lương còn là một trong
những công cụ kinh tế để Nhà nước quản lý kinh tế, tài chính và bình ổn xã hội.

Tiền lương là một bộ phận cấu thành nên giá trị của sản phẩm mà sản phẩm là cơ sở
tạo ra nguồn thu nhập doanh nghiệp. Chính vì vậy việc quản lý chặt chẽ về công tác

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội

6

Khoa Kế toán-Kiểm toán

hạch toán tiền lương trên hai phương diện số lượng và chất lượng là yêu cầu bức
thiết đối với mỗi doanh nghiệp. Mặt khác, để tồn tại và đứng vững trên thương
trường hay điều kiện cạnh tranh gay gắt như hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp phải
củng cố sự cân bằng cục bộ doanh nghiệp làm cho tiến trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp ngày càng hiệu quả hơn.
1.1.2.2. Chức năng của tiền lương
- Chức năng là thước đo giá trị sức lao động: là thước đo để xác định mức tiền công
các loại lao động, là căn cứ để thuê mướn lao động, là cơ sở để xác định đơn giá sản
phẩm
- Chức năng tái sản xuất sức lao động: tiền lương trả cho người lao động phải đủ bù
đắp những hao phí sức lao động tính cả trước, trong và sau quá trình lao động cũng
như
những biến động về giá cả trong sinh hoạt, những rủi ro hoặc các chi phí khác phục
vụ cho việc nâng cao trình độ ngành nghề của người lao động.
- Chức năng kích thích người lao động làm việc hiệu quả, tăng năng xuất lao động
- Chức năng tích lũy: Tiền lương trả cho người lao động phải đảm bảo duy trì được
cuộc sống hàng ngày trong thời gian làm việc và còn dự phòng cho cuộc sống lâu
dài khi họ
hết khả năng lao động hay gặp rủi ro
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới tiền lương
Có thể chia các yếu tố ảnh hưởng đến tiền lương làm 4 nhóm như sau:
1.Nhóm các yếu tố thuộc về bản thân công việc :
- Sự phức tạp của công việc: Các công việc phức tạp đòi hỏi trình độ và kỹ năng cao
mới có khả năng giải quyết được sẽ buộc phải trả lương cao. Thông thường các
công việc phức tạp gắn liền với những yêu cầu về đào tạo, kinh nghiệm và như vậy
sẽ ảnh hưởng đến mức lương. Sự phức tạp của công việc phản ánh mức độ khó
khăn và những yêu cầu cần thiết để thực hiện công việc. Sự phức tạp của công việc

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội

7

Khoa Kế toán-Kiểm toán

được phản ánh qua các khía cạnh sau đây :
- Yêu cầu về trình độ học vấn và đào tạo
- Yêu cầu các kỹ năng cần thiết để hoàn thành công việc
- Các phẩm chất cá nhân cần có
- Trách nhiệm đối với công việc.
- Tầm quan trọng của công việc: Phản ánh giá trị của công việc. Các công việc có
tầm quan trọng cao sẽ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả hoạt động của tổ chức.
- Điều kiện để thực hiện công việc. Các điều kiện khó khăn nguy hiểm đương nhiên
sẽ được hưởng mức lương cao hơn so với điều kiện bình thường. Sự phân biệt đó để
bù đắp những tốn hao sức lực và tinh thần cho người lao động cũng như động viên
họ bền vững với công việc.
2.Nhóm các yếu tố thuộc về bản thân nhân viên:
- Trình độ lành nghề của người lao động
- Kinh nghiệm của bản thân người lao động.
Kinh nghiệm được coi như một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
lương bổng của cá nhân. Hầu hết các cơ quan tổ chức trên thế giới đều dựa vào yếu
tố này để tuyển chọn và trả lương.
- Mức hoàn thành công việc.
Thu nhập tiền lương của mỗi người còn phụ thuộc vào mức hoàn thành công việc
của họ . Cho dù năng lực là như nhau nhưng nếu mức độ hoàn thành công việc là
khác nhau thì tiền lương phải khác nhau. Đó cũng là sự phản ánh tất yếu của tính
công bằng trong chính sách tiền lương
- Thâm niên công tác.
Ngày nay trong nhiều tổ chức yếu tố thâm niên có thể không phải là một yếu tố
quyết định cho việc tăng lương. Thâm niên chỉ là một trong những yếu tố giúp cho
đề bạt, thăng thưởng nhân viên.
- Sự trung thành. Những người trung thành với tổ chức là những người gắn bó làm
việc lâu dài với tố chức. Trả lương cho sự trung thành sẽ khuyến khích nhân viên
lòng tận tụy tận tâm vì sự phát triển của tổ chức. Sự trung thành và thâm niên có

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội

8

Khoa Kế toán-Kiểm toán

mối quan hệ với nhau nhưng có thể phản ánh những giá trị khác nhau. Các tổ chức
của người Hoa đề cao các giá trị trung thành còn người Nhật đề cao giá trị thâm
niên trong trả lương.
- Tiềm năng của nhân viên.
Những người có tiềm năng là những người chưa có khả năng thực hiện những công
việc khó ngay, nhưng trong tương lai họ có tiềm năng thực hiện được những việc
đó. Trả lương cho những tiềm năng được coi như đầu tư cho tương lai giúp cho việc
giữ chân và phát triển tài năng cho tiềm năng của tương lai .Có thể có những người
trẻ tuổi được trả lương cao bởi vì họ có tiềm năng trở thành những nhà quản trị cấp
cao trong tương lai.
3.Nhóm các yếu tố thuộc về môi trường Công ty
- Chính sách tiền lương của Công ty
- Khả năng tài chính của Công ty
- Năng suất lao động
4.Nhóm các yếu tố thuộc về môi trường xã hội
- Tình hình cung cấp sức lao động trên thị trường
- Mức sống trung bình của dân cư
- Tình hình giá cả sinh hoạt
- Sức mua của công chúng
- Công đoàn , xã hội
- Nền kinh tế
- Luật pháp
Khi xây dựng hệ thống tiền lương người ta có xu hướng trước tiên dựa vào công
việc sau đó sử dụng các yêu cầu về kỹ năng và kết quả làm việc để xác định mức
lương cho mỗi nhân viên.
1.3 Nhiệm vụ của kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương
+ Theo dõi việc trích nộp, chi trả bảo hiểm xã hội của người lao động theo chế độ
thu chi BHXH hiện hành;

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội

9

Khoa Kế toán-Kiểm toán

+ Tính lương theo quy chế Công ty;
+ Tính và thanh toán các chế độ BHXH mà người lao động được hưởng theo chế độ
hiện hành.


Đối với thuế

+ Kê khai thường xuyên kịp thời hoá đơn đầu vào, đầu ra một cách chính xac, theo
thời gian phát sinh.
+ Lập các báo cáo thuế theo pháp lệnh thuế hiện hành;
+ Thường xuyên nộp và thanh toán với cơ quan thuế kịp thời
1.4 Phân loại tiền lương
Doanh nghiệp có nhiều loại lao động khác nhau nên để thuận lợi cho việc quản lý
và hạch toán kế toán cần thiết phải tiến hành phân loại theo các nhóm khác
nhau.
1. Phân loại theo thời gian lao động
+ Thường xuyên: Là toàn bộ tiền lương trả cho những lao động thường xuyên có
trong danh sách lương công ty
+ Lương thời vụ: Là loại tiền lương trả cho người lao động tạm thời mang tính thời
vụ.
2. Phân loại theo quan hệ với quá trình sản xuất
+ Lương trực tiếp: là phần tiền lương trả cho Lao động trực tiếp sản xuất chính là bộ
phận nhân công trực tiếp sản xuất hay trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản
phẩm và thực hiện các lao vụ dịch vụ.
+ Lương gián tiếp: là phần lương trả cho người lao động gián tiếp sản xuất, hay là
bộ phận lao động tham gia một cách gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp như bộ phận quản lý, hành chính, kế toán…
1.5 Các hình thức tiền lương trong doanh nghiệp
Tùy từng tính chất công việc mà mỗi doanh nghiệp lựa chọn cho mình các hình
thức trả lương khác nhau. Nhưng tổng quan lại, doanh nghiệp thường áp dụng 2
hình thức trả lương chính đó là trả lương theo thời gian và hình thức trả lương theo

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp

Trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội

10

Khoa Kế toán-Kiểm toán

sản phẩm. Ngoài ra một số doanh nghiệp còn áp dụng các hình thức trả lương khác
như h́ình thức trả lương sản phẩm thưởng luỹ tiến, khoán khối lượng hoặc khoán
từng việc, khoán quỹ lương.
1.5.1 Hình thức trả lương theo thời gian
Hình thức trả lương theo thời gian: Theo hình thức này, việc tính trả lương cho nhân
viên theo thời gian làm việc, theo ngành nghề và tŕnh độ thành thạo nghiệp vụ, kỹ
thuật chuyên môn của người lao động. Tuỳ theo tính chất lao động khác nhau mà
mỗi ngành nghề cụ thể có một thang lương riêng: thang lương nhân viên cơ khí,
nhân viên lái xe… Trong mỗi thang lương lại tuỳ theo tŕnh độ nghiệp vụ, kỹ thuật,
chuyên môn mà lại chia làm nhiều bậc lương, mỗi bậc lương có một mức tiền lương
nhất định. Đơn vị để tính tiền lương thời gian là lương tháng, lương ngày, lương
giờ.
Lương tháng được quy định sẵn đối với từng bậc lương trong các thang lương.
Lương tháng thường được áp dụng để trả lương cho công nhân viên làm công tác
quản lý kinh tế, quản lý hành chính và các nhân viên thuộc các ngành không có tính
chất sản xuất.
Lương ngày là lương trả cho người lao động theo mức lương ngày và số ngày làm
việc thực tế trong tháng. Mức lương ngày đựơc tính bằng cách lấy mức lương tháng
chia cho số ngày làm việc trong tháng theo chế độ. Lương ngày thường được áp
dụng để trả lương cho lao động trực tiếp hưởng lương theo thời gian, tính trả lương
cho người lao động trong những ngày hội họp, học tập, làm nghĩa vụ khácvà làm
căn cứ để tính trợ cấp, Bảo hiểm xă hội.
Mức lương giờ tính bằng cách lấy mức lương ngày chia cho số giờ làm việc trong
ngày theo chế độ. Lương giờ thường được áp dụng để trả lương cho lao động trực
tiếp hưởng lương trong thời gian làm việc không hưởng lương theo sản phẩm .
Nhìn chung, hình thức trả lương theo thời gian có mặt hạn chế là mang tính chất
bình quân, nhiều khi không phù hợp với kết quả lao động. Vì vậy chỉ những trường

Nguyễn Thị Hải Yến,lớp ĐHKT6 k5

Chuyên Đề Tốt Nghiệp