Tải bản đầy đủ
Phần II: CÁCH THỨC TỔ CHỨC, CƠ CHẾ BẢO VỆ DỮ LIỆU TRONG LINUX 4

Phần II: CÁCH THỨC TỔ CHỨC, CƠ CHẾ BẢO VỆ DỮ LIỆU TRONG LINUX 4

Tải bản đầy đủ

2.6. Kiểu hệ thống file trợ giúp bằng cơ chế journaling file
system
................................................................................................................................
21

2.6.1.
Hệ
thống
file
Reiserfs
............................................................................................................
21
2.6.2. Hệ thống file XFS
............................................................................................................
22
2.6.3.
Hệ
thống
File
JFS
............................................................................................................
22
2.6.4.
Ext3
............................................................................................................
22

BẢNG PHÂN CÔNG VIỆC CỦA CÁC THÀNH VIÊN
NHÓM 12
STT

Người phụ trách

Công việc thực hiện

5

- Tìm hiểu về hệ thống ghi nhật kí, cơ chế
1

Nguyễn Thị Thanh

-

2

journaling file system (JFS), journaling
block device (JBD).
Lên kế hoạch cho nhóm.(học, nghiên cứu,..)

- Tìm hiểu về kiểu hệ thống file Reiserfs và hệ

Nguyễn Đức Nam

-

thống file XFS.
Thu thập thêm( bổ xung) tài liệu cho thành
viên nghiên cứu.

3

- Tìm hiểu về linux và các tập tin quản lý, ý

Doãn Thanh Tùng

nghĩa các tệp tin con trong etc và một số thư

4

Trần Quý Long

mục.
Tổng hợp bài nghiên cứu của các thành viên.

- Tìm hiểu về sơ bộ kiến trúc của hệ thống file
và ý nghĩa của thư mục hệ thống trong
LINUX.

5

Doãn Văn Long

- Tìm hiểu về hệ thống file JFS và Ext.
- Chỉnh sửa lại lần cuối và đưa ra báo cáo
chính thức

6

Phần I:GIỚI THIỆU
- Linux bắt đầu từ một hệ điều hành lớn hơn có tên Unix.
- Unix là một hệ điều hành thông dụng trên thế giới do được nhiều
hệ thống hỗ trợ. Hệ điều hành này tồn tại trên hầu hết các kiểu máy
tính kể cả máy tính cá nhân.
- Linux là hệ thống Unix tự do được hình thành từ một đồ án giải trí
của một sinh viên Phần Lan: Linus Torvalds, lấy nguồn cảm hứng
từ Minix.
- Ban đầu hệ điều hành linux đã được phát triển như một hệ điều
hành đa nhiệm cho các máy mini và các máy lớn (mainframe)
trong những năm 70. Cho tới nay nó đã được phát triển trở thành
một hệ điều hành phổ dụng trên toàn thế giới, mặc dù với giao diện
chưa thân thiện và chưa được chuẩn hóa hoàn toàn.
- Hiện nay, Linux làm việc tại tập đoàn Transmeta và tiếp tục phát
triển nhân hệ điều hành Linux ( Linux kernel).
- Linux là một hệ điều hành khác hoàn toàn với các hệ điều hành
khác, dựa vào những tối ưu:
 Là một mã nguồn mở của hệ thống, cũng như của hạt nhân,
các công cụ lập trình cũng như phát triển đều được phân
 Hệ thống Linux được thiết kế dựa trên bộ xử lý Intel và tận
dụng được tất cả những chức năng của chúng.
 Linux là hệ điều hành bao gồm hạt nhân, bộ thông dịch lệnh
và nhiều trình tiện ích.
- Hạt nhân quản lý những tài nguyên vật lý (như bộ xử lý, bộ nhớ,
thiết bị ngoại vi) và logic (như tiến trình, tập tin…). Hạt nhân được
tạo thành tự một tập hợp các thủ tục hàm được thiết kế bằng ngôn
ngữ C. Cấu trúc của hạt nhân là nguyên khối của lớp. Người sử
dụng thao tác với Linux thông qua bộ thông dịch lệnh. Một trong
những đặc điểm của Linux là có nhiều shell khác nhau.
7

Phần II: CÁCH THỨC TỔ CHỨC, CƠ CHẾ BẢO VỆ DỮ LIỆU TRONG
LINUX

Trong môi trường làm việc của linux cách thức tổ chức file có các
đặc tính riêng nắm một chức năng quan trọng trong hệ điều hành. Vì thế
cấu trúc và chức năng của từng thư mục luôn được thể hiện rõ nét. Ở
linux các file cấu hình có nội dung theo nhóm, cấu trúc cấp bậc cây thư
mục. Tất cả các thư mục được nhóm theo cấu trúc gốc "/" . Linux có tính
kế thừa các đặc tính cơ bản từ Unix nên hầu hết đều mang đặc điểm của
hệ điều hành tiền nhiệm.
2.1. Sơ bộ kiến trúc của hệ thống file

Trên đĩa từ, hệ thống file được coi là dãy tuần tự các khối lôgic
mỗi khối chứa hoặc 512B hoặc 1024B hoặc bội của 512B là cố định
trong một hệ thống file. Trong hệ thống file, các khối dữ liệu được địa
chỉ hóa bằng cách đánh chỉ số liên tiếp, mỗi địa chỉ được chứa trong 4
byte (32 bit).
Cấu trúc và hệ thống file, thư mục trong linux bao gồm 4 thành
phần kế tiếp nhau:
- Block 0: Boot block thường chứa mã để nạp hệ điều hành(tương
ứng với boot sector trong MS Dos).
- Block 1: Siêu khối (Super block) chứa thông tin liên quan đến
trạng thái của hệ thống file (số lượng I-node; Số Disk Block; Điểm bắt
đầu của danh sách các khối đĩa trống).
- Inode: Tương ứng bảng Fat trong Ms – Dos , chứa thông tin mô
tả về lưu trữ file trên đĩa và số lượng thông tin khác nhau (chủ sở hữu,
quyền truy cập, thời gian truy cập file). Mỗi I – node dài 64 byte, mô tả
chính xác một file.
- Khối dữ liệu ( Data block): Tất cả file và thư mục được lưu trữ tại
8

đây
Siêu khối
Siêu khối chứa nhiều thông tin liên quan đến trạng thái của hệ
thống file. Trong siêu khối có các trường sau đây:
- Kích thước của danh sách Inode: định kích cỡ vùng không gian
trên hệ thống file quản lý các Inode.
- Kích thước của hệ thống file.
Hai kích thước trên đây tính theo đơn vị dung lượng bộ nhớ ngoài,
một danh sách chỉ số các khối rỗi trong hệ thống file.
Chỉ số các khối rỗi thường trực trên siêu khối được dùng để đáp
ứng nhu cầu phân phối mới. Danh sách chỉ số các khối rỗi có trên siêu
khối chỉ là một bộ phận của tập tất cả các khối rỗi có trên hệ thống file.
Chỉ số của khối rỗi, dùng để hỗ trợ việc tìm kiếm tiếp các khối rỗi,
bắt đầu tìm từ khối có chỉ số này trở đi. Điều đó có nghĩa là mọi khối có
chỉ số không lớn hơn chỉ số này hoặc có trong danh sách các khối rỗi
thường trực hoặc đó được cấp phát cho một file nào đó.
Hai tham số trên đây tạo thành cặp xác định được danh sách các Inode rỗi
trên hệ thống file các thao tác tạo file mới, xoá file cập nhật thông tin
này. ...............................................................................................................
Một danh sách các Inode rỗi (thường trực trên siêu khối) trong hệ thống
file. Danh sách này chứa chỉ số các Inode rỗi được dùng để phân phối
ngay được cho một

file mới được khởi tạo. Thông thường, danh sách

này chỉ chứa một bộ phận các Inode rỗi

trên hệ thống file.

Các trường khóa (lock) danh sách các khối rỗi và danh sách Inode
rỗi. Trong một số trường hợp, chẳng hạn khi hệ thống đang làm việc thực
sự với đĩa từ để cập nhật các danh sách này, hệ thống không cho phép
cập nhật tới hai danh sách nói trên.
Trong thời gian máy hoạt động, theo từng giai đoạn, nhân sẽ đưa
siêu khối lên đĩa nếu nó đó được biến đổi để phù hợp với dữ liệu trên hệ
thống file. Một trong khái niệm cốt lõi xuất hiện trong hệ thống file đó là
9