Tải bản đầy đủ
II. Bước 2: Xác minh và đánh giá

II. Bước 2: Xác minh và đánh giá

Tải bản đầy đủ

Để tiến hành thu thập thông tin, nhân viên xã hội trước tiên cần phải liên lạc,
gặp gỡ với những người có liên quan đến vụ việc. Tùy thuộc vào hoàn cảnh của
từng vụ việc xảy ra với trẻ mà cán bộ sẽ liên lạc với những người có liên quan, đặc
biệt là những người có vai trò quan trọng đối với cuộc sống của trẻ. Ví dụ : Trẻ
được báo là bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng hay có nguy cơ; Cha mẹ/người nuôi
dưỡng, chăm sóc bảo hộ của trẻ; Anh/chị/em của trẻ; Người đã gây ra hành vi xâm
hại/bị tình nghi xâm hại trẻ em; Họ hàng có liên quan đến việc chăm sóc trẻ hoặc
biết rõ về quá trình chăm sóc của trẻ; Những người có liên quan tại cộng đồng
(hàng xóm, giáo viên, nhân viên y tế); cơ quan, tổ chức và các cá nhân giúp đỡ
khác (các tổ chức đoàn thể, Ủy ban Nhân dân, phóng viên báo chí...) có thể biết về
hoàn cảnh của trẻ và gia đình; các cơ quan, bộ ngành khác; và các tổ chức có
chương trình, dự án tham gia giúp đỡ trẻ tại cộng đồng.
Sau khi đã liên hệ, hẹn gặp làm việc với những người cung cấp thông tin,
người cán bộ thực hiện nhiệm vụ thu thập thông tin về các sự việc có liên quan đến
vụ việc xảy ra với trẻ. Những thông tin mà người cán bộ tìm kiếm phải liên quan
đến ba nội dung sau: Hiện trạng trẻ bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng hay có nguy cơ;
tình hình chăm sóc trẻ hiện nay; và tình hình chăm sóc trẻ trước đây. Phần khó
khăn là làm sao để thu thập được những thông tin cần thiết cho việc xác minh và
đánh giá nguy cơ. Nhân viên xã hội có thể vận dung các kỹ năng vấn đàm và kỹ
năng quan sát trong khi thu thâp thông tin từ các nhóm đối tượng có liên quan.
Ngoài ra nhân viên xã hội cần thăm quan thực tế điều kiện sống, vật chất nơi nuôi
dưỡng trẻ và đọc các tài liệu, văn bản có liên quan đến trẻ.
Trong quá trình thu thập thông tin người cán bộ cần ghi chép tất cả thông
tin có liên quan đến tình hình chăm sóc trẻ cần để lưu lại. Việc lưu lại thông tin
thông qua ghi chép nhằm mục đích thu thập bằng cớ chứng minh cho những kết
luận điều tra về việc trẻ đã bị xâm hại, bóc lột, sao nhãng và giúp cho việc lập kế
hoạch cho trẻ một cách chính xác.

Trên cơ sở những thông tin đã được ghi lại và tổng hợp, nhân viên xã hội
xem xét đi đến kết luận về vụ việc xâm hại, bóc lột, sao nhãng và tình hình chăm
sóc trẻ.
Ví dụ : Nếu thông tin ghi lại là: “Hàng xóm của trẻ báo là trẻ thường xuyên
tìm kiếm thức ăn ngoài đường hoặc xin ăn nhờ nhà người khác” thì có thể đưa ra
nhận định: “Trẻ không được cho ăn đầy đủ”.
Nhân viên xã hội có thể đi đến kết luận dựa trên các nhận định và đánh giá.
Tuy nhiên trước khi đi đến kết luận cần xác định rõ những dấu hiệu hoặc bằng
chứng dẫn đến các nhận định, đánh giá. Khi kết luận, cần phải thu thập càng nhiều
bằng cớ và từ nhiều nguồn khác nhau để kết luận chính xác và khách quan.
Ví dụ một số biểu hiệu làm căn cứ xác định các dạng xâm hại của trẻ:
Các dấu hiệu thân thể

Các dấu hiệu hành vi, thái độ

Kết

luận

dạng xâm hại

- Có những vết thương, - Trẻ sợ tiếp xúc với mọi người
bầm tím.

xung quanh

Xâm hại thân

- Có những vết thương - cư xử thái quá – hung hăng hoặc thể
đang lành.

thờ ơ lãnh đạm.

- Vết bỏng trên người.

- Sợ về nhà.

- Nhiều vết lằn sẹo ở - không muốn cho người khác đến
khắp người.

nhà.
- Trẻ khai báo về những thương
tích trên cơ thể.
- Lo lắng, sợ sệt trước những hoạt
động sinh hoạt hành ngày như ăn,
nghỉ ngơi, dùng nhà vệ sinh.
- Thể hiện sự kinh hãi hoặc hoảng

loạn.
…………..
- Trẻ phải xin và ăn cắp thức ăn.

- Trẻ bị bỏ đói.

Sao nhãng

- Trẻ không được vệ sinh - Trẻ trông mệt mỏi, bơ phờ và hay
sạch sẽ.

ngủ gật.

- Trẻ không có đủ quần - Trẻ không chỉ ra được ai là người
áo và quần áo ấm để đang chăm sóc mình.
mặc.

- Trẻ tấn công những trẻ em khác vì

- Trẻ có những dấu hiệu chúng có nhiều thứ hơn, ví dụ như
về thể chất thiếu sự chăm thức ăn, sự yêu thương, bạn bè….
sóc y tế ví dụ da phát
ban.
- Trẻ bị bỏ rơi.
- Trẻ gặp khó khăn khi đi - Trẻ có biểu khêu gợi tình dục với
lại và ngồi.

người khác giới.

Xâm hại tình

- Trẻ có quần áo lót bị - Trẻ không muốn tham gia các dục
rách, dính máu hoặc có hoạt động thể thao cùng với bạn bè
vết bẩn, nhàu nát.

- có những hành vi bất thường ví dụ

- Trẻ bị ngứa, khó chịu ở không tắm rửa hoặc tắm rửa liên
vùng ngoài cơ quan sinh tục.
dục hay hậu môn.

- Trẻ có những hiểu biết không

- Trẻ có những triệu thích hợp về hoạt động tình dục của
chứng

của

bệnh

lây người lớn.

nhiễm qua đường tình - Trẻ không có mối quan hệ tốt với
dục.
bạn cùng tuổi.
- Trẻ cảm thấy trống - Trẻ đáp lại tình cảm của người
rỗng, không có tình cảm khác không phù hợp.
gì.

Xâm hại tình

- Trẻ đòi hỏi tình cảm và bám víu cảm/ tâm lý

- Trông đờ đẫn.

người khác.

- Trên mặt bộc lộ sự - Trẻ không gắn kết về tình cảm với
hoảng loạng, sơ hãi….

người khác.
- Trẻ cư xử thô lỗ, không quan tâm
đến tình cảm của người khác.
- Trẻ không định hình được mình là
ai.
- Trẻ tự thấy bản thân mình không
có giá trị, vô ích, không quan trọng,
đánh giá thấp bản thân.
- Trẻ không cho là trẻ có năng lực
để hoạt động hiệu quả với thế giới
xung quanh.

2. Đánh giá
2.1.
-

Mục đích của đánh giá

Xác định liệu trong tương lai trẻ có bị tổn thương hay được an toàn hay
không nếu vẫn duy trì môi trường chăm sóc hiện thời mà KHÔNG can thiệp.

-

Xác định những vấn đề ưu tiên của trẻ trong hiện tại, từ đó xác định được
nhu cầu ưu tiên của trẻ để chuẩn bị cho bước lập kế hoạch tiếp theo.

2.2.

Đối tượng cần đánh giá

2.2.1.

Đánh giá trẻ:

Khi đánh giá về trẻ cần tập trung vào thực tế mức độ tổn thương của trẻ về tinh
thần và thể chất và các nguy cơ cho trẻ trong tương lai.
Đánh giá mức độ tổn thương

Thể chất: Sức khỏe hiện tại so với thời điểm bình thường và so với trẻ cùng
độ tuổi? Cháu có sinh hoạt vận động được bình thường như các trẻ cùng độ tuổi
không?
Về tinh thần: Các dấu hiệu về hành vi, thái độ của cháu có giống trẻ bình
thường không hay có những biểu hiện khác lạ? Cháu có suy nghĩ như thế nào về sự
việc xảy ra với mình và cháu đang ở trạng thái cảm xúc ra sao?..
Đánh giá nguy cơ
Dựa vào khung đánh giá khả năng phục hồi của trẻ, cán bộ QLTH cần đánh giá các
thông tin liên quan đến trẻ dựa vào các yếu tố sau:
+ Sức khỏe thể chất hiện nay (chú ý đến độ tuổi, giới tính…)
+ Nhận thức của trẻ (học lớp mấy, hiểu biết..)
+ Khả năng tự khẳng định bản thân của trẻ;
+ Các mối quan hệ xã hội của trẻ;
+ Khả năng tự chăm sóc và bảo vệ bản thân của trẻ.
2.2.2.

Đánh giá người chăm sóc trẻ.

Với người chăm sóc các nội dung cần đánh giá liên quan đến khả năng làm
cha mẹ: nguồn lực kinh tế, khả năng ảnh hưởng tới các thành viên gia đình, đặc
biệt là với người có hành vi gây tổn hại, mối quan hệ, sự quan tâm tới trẻ, nhận
thức sự hiểu biết và các kĩ năng chăm sóc bảo vệ cũng như các kĩ năng nuôi dưỡng
khác.
2.2.3.

Đánh giá người gây tổn thương cho trẻ (có thể trùng với người chăm
sóc hoặc không).

Cần đánh giá về những nội dung sau đây:
+ Khả năng tiếp cận để gây tổn thương cho trẻ;
+ Khả năng kiểm soát về kinh tế đối với người chăm sóc trẻ- không gây tổn

thương;

+ Nhận thức/ quan điểm tích cực với tiêu cực với sự an toàn của trẻ;
+ Tiểu sử cá nhân (những trải nghiệm trong cuộc sống trước đây)
2.2.4.

Đánh giá môi trường chăm sóc:

Đây chính là việc đánh giá nguồn lực, các yếu tố tác động tích cực tới việc bảo
vệ trẻ.
- Trong môi trường chăm sóc, có thể đề cập tới hệ thống gia đình mở rộng: cô
dì chú bác, họ hàng xa gần. Cần đánh giá xem mức độ quan tâm, khả năng hỗ trợ
trẻ gia đình trẻ về kinh tế và đời sống tinh thần, xem xét các mối quan hệ gắn bó
của các thành viên trong hệ thống này để có được các thông tin chuẩn bị cho việc
lập kế hoạch.
- Các tổ chức xã hội trong cộng đồng như hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội
chữ thập đỏ, đoàn đội địa phương cần được đánh giá về các mối quan hệ hiện tại
với trẻ và gia đình trẻ, khả năng có thể tham gia để giải quyết vấn đề của trẻ;
- Các cơ sở y tế, công an, nhà trường là những đơn vị sẽ vào cuộc trong quá
trình triển khai hoạt động bảo vệ an toàn cho trẻ.
- Các nhóm bạn bè của trẻ cũng cần được đánh giá vì sẽ có những nhóm trẻ có
tác động tích cực và có nhóm trẻ có tác động tiêu cực tới vấn đề của trẻ. Việc đánh
giá nhóm trẻ sẽ trợ giúp việc lập kế hoạch nhằm phòng ngừa nguy cơ cũng như tìm
nguồn lực trợ giúp việc triển khai kế hoạch.
2.3.

Bảng và các chỉ số đánh giá

2.3.1.

Chỉ số đánh giá trẻ

TT

Đánh giá trẻ

1
2
3

NHỮNG ĐIỂM MẠNH
Trẻ biết tự bảo vệ
Trẻ biết người có thể bảo vệ được em
Trẻ có thể liên lạc được với người có thể bảo vệ em

4
5

Có người có thể bảo vệ trẻ ở bên cạnh
Người chăm sóc sẵn sàng bảo vệ trẻ
NHỮNG ĐIỂM YẾU
Mức độ trẻ bị tổn thương hiện nay
Mức độ trẻ bị tổn thương trước đây
Người xâm hại trẻ có thể gặp trẻ
Mức độ xâm hại ảnh hưởng đến việc học tập, khả năng lao động

1
2
3
4

của trẻ
Các yếu tố cản trở khả năng tự bảo vệ của trẻ

5

Nếu số điểm mạnh ít hơn 3 và số điểm yếu nhiều hơn 3 thì kết luận trẻ
không có khả năng tự bảo vệ mình
Nếu số điểm mạnh nhiều hơn 3 và số điểm yếu ít hơn 3 thì kết luận trẻ có
khả năng tự bảo vệ mình
2.3.2.

T
T
1
2
3
4
1
2
3
4

Chỉ số đánh giá người chăm sóc

Đánh giá Người chăm sóc- Không xâm hại
NHỮNG ĐIỂM MẠNH
Cam kết bảo vệ trẻ
Có khả năng bảo vệ trẻ
Có người giúp đỡ trong việc bảo vệ trẻ
Có khả năng nhận biết khi trẻ bị tổn hại
NHỮNG ĐIỂM YẾU
Không có khả năng nhận biết nguy cơ tổn hại cho trẻ
Không có khả năng bảo vệ trẻ
Không có ai giúp đỡ trong việc bảo vệ trẻ
Có khó khăn khi thực hiện bảo vệ trẻ
Nếu số điểm manh nhiều hơn 3 và số điểm yếu ít hơn 3 thì người chăm sóc

có khả năng ảo vệ trẻ

Nếu số điểm mạnh ít hơn 3 và số điểm yếu nhiều hơn 3 thì người chăm sóc
không có khả năng bảo vệ trẻ
2.3.3.

Chỉ số đánh giá người xâm hại

TT Đánh giá người xâm hại
NHỮNG ĐIỂM MẠNH
Thể hiện sự ăn năn hối hận và cam kết bảo vệ trẻ
Mong muốn thay đổi hành vi ngược đãi
Có thể thay đổi được hành vi ngược đãi
Hiểu được những tác hại của hành động ngược đãi trẻ
NHỮNG ĐIỂM YẾU
Có âm mưu tính toán xâm hại trẻ
Chối bỏ không thú nhận việc xâm hại trẻ
Không hiểu các tác hại của hành động xâm hại trẻ
Đã xâm hại nhiều trẻ khác

1
2
3
4
1
2
3
4

Nếu số điểm manh nhiều hơn 3 và số điểm yếu ít hơn 3 thì người xâm hại có
khả năng gây tổn thương cho trẻ trong tương lai
Nếu số điểm mạnh ít hơn 3 và số điểm yếu nhiều hơn 3 thì người xâm hại ít
có khả năng gây tổn thương cho trẻ trong tương lai
2.3.4.

Bảng tổng hợp đánh giá môi trường chăm sóc

TT Đánh giá môi trường chăm sóc

1
2
3
4

NHỮNG ĐIỂM MẠNH
Cộng đồng có tiếp xúc với trẻ hàng ngày
Trẻ có các mối quan hệ với các tổ chức xã hội trong cộng đồng (trường
học, trung tâm y tế, các hoạt động vui chơi giải trí)
Cộng đồng nắm rõ những vấn đề và nhu cầu của trẻ
Cộng đồng đủ khả năng bảo vệ trẻ

5

Cộng đồng quan tâm đến trẻ
NHỮNG ĐIỂM YẾU
Cộng đồng hiếm khi gặp trẻ
Cộng đồng không biết những vấn đề của trẻ
Cộng đồng không biết đến nhu cầu an toàn của trẻ
Cộng đồng không có khả năng bảo vệ trẻ
Cộng đồng không quan tâm đến trẻ

1
2
3
4
5

Nếu số điểm mạnh nhiều hơn 3 và số điểm yếu ít hơn 3 thì kết luận môi
trường chăm sóc có khả năng bảo vệ trẻ.
Nếu số điểm mạnh ít 3 và số điểm yếu nhiều hơn 3 thì kết luận môi trường
chăm sóc không có khả năng bảo vệ trẻ.
Từ bảng tổng hợp đánh giá nguy cơ, nhân viên xã hội cần đi đến một kết
luận chuyên môn về sự an toàn trong tương lai của trẻ.
III.

Bước 3. Lập kế hoạch can thiệp

1. Khái niệm
Lập kế hoạch là việc xây dựng các hoạt động dự kiến để tiến hành giúp đỡ trẻ
dựa trên nhu cầu của trẻ và những nguồn lực hiện có.
2. Mục đích của lập kế hoạch
- Đảm bảo việc can thiệp được diễn ra một cách có kế hoạch, có mục
đích, và phương hướng.
- Đảm bảo tính hiệu quả của việc ngăn chặn trẻ em bị xâm hại trong
tương lai.
3. Các bước trong lập kế hoạch can thiệp
3.1.

Xác định vấn đề của trẻ

Từ những thông tin đã thu thập được từ các bước trên, cần phải xác định vấn
đề trẻ đang gặp phải là gì. Khi xác định vấn đề, cần đối chiếu với các quyền mà trẻ

có quyền được hưởng như quyền học tập, chăm sóc y tế, giáo dục, dinh dưỡng, tình
cảm, vui chơi…. Khi thực tế cho thấy rằng các quyền của trẻ em không được đáp
ứng đầy đủ, trẻ đang gặp những vấn đề khó khăn. Với phương pháp đánh giá vấn
đề dựa trên quyền này sẽ giúp cán bộ QLTH đánh giá được toàn diện được các vấn
đề liên quan đến trẻ và đảm bảo không bỏ sót vấn đề.
Liệt kê 5 vấn đề quan trọng nhất và sắp xếp những yếu tố trong danh sách
theo thứ tự ưu tiên 1, 2, 3…
Ví dụ
Vấn đề xếp theo thứ tự ưu tiên:
1. Bố dượng thô bạo với Lan
2. Mẹ đánh đập Lan vì nghe theo bố dượng
3. Bố dượng nghiện ma túy
4. Mẹ nghiện rượu
5. Lan không có người bảo vệ
3.2.

Xác định nhu cầu của trẻ

Việc xác định được vấn đề chưa đưa ra được định hướng giải quyết vấn đề
cho đối tượng. Vì thế, cán bộ xã hội cần phải chuyển những vấn đề đã xác định ở
trên thành những nhu cầu chăm sóc. Khi chuyển một vướng mắc thành nhu cầu, cả
đối tượng và cán bộ xã hội mới có thể dễ dàng nhìn thấy được những mong muốn
để có hành động can thiệp cho phù hợp.
Để chuyển từ một vấn đề thành nhu cầu, người QLTH cần trả lời câu hỏi: “
Đối tượng cần được hỗ trợ gì để vượt qua được những vấn đề đang gặp phải hiện
nay ?”
Bảng 8: Bảng chuyển đối từ vấn đề thành nhu cầu
Vấn đề của bé Lan
1. Bố dượng thô bạo với Lan

Nhu cầu của bé Lan
Lan cần được bảo vệ khỏi bị đánh và bị

lạm dụng
2. Mẹ đánh đập Lan vì nghe theo Lan cần được nhận tình thương yêu từ Mẹ
bố dượng