Tải bản đầy đủ
IV. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

IV. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Tải bản đầy đủ

Những quy định của pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em ở Việt
Nam
Công ước quốc tế về quyền trẻ em được phê chuẩn năm 1990 đã quy định bốn
Nhóm quyền cơ bản của trẻ em được qui định tại Công ước về quyền trẻ em
- Nhóm quyền sống còn : các quyền này bao gồm quyền được sống và quyền
được chăm sóc sức khỏe, y tế ở mức cao nhất có thể có được
- Nhóm quyền bảo vệ: Các quyền này bao gồm việc bảo vệ trẻ em thoát khỏi
mọi phân biệt đối xử, lạm dụng hay không được quan tâm, bảo vệ .trẻ em không có
gia đình cũng như trẻ em tị nạn
- Nhóm quyền phát triển: Các quyền này bao gồm mọi hình thức giáo dục và
có quyền được có mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần,
đạo đức ...
- Nhóm quyền tham gia: bao gồm quyền trẻ em được bày tỏ ý kiến quan
điểm của mình trong mọi vấn đề có liên quan đến bản thân, quyền được lắng nghe
và kết giao hội họp.
Trên cơ sở phê chuẩn công ước quốc tế về quyền trẻ em, Việt Nam đã xây
dựng luật Bảo vệ Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 1991 và sửa đổi năm 2004
nhằm thể chế hoá việc thực hiện các quyền của trẻ em tại Việt nam. Luật Bảo vệ,
Chăm sóc và Giáo dục trẻ bao gồm 5 chương, 60 điều quy định các quyền cơ bản
và bổn phận của trẻ em, trách nhiệm của gia đình, các cơ quan Nhà nước, các tổ
chức xã hội và mọi công dân trong việc đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản của
trẻ em.
Luật qui định một hệ thống những quyền cơ bản của trẻ em ( Từ điều 11 đến
điều 20). Trong đó, tất cả các quyền đều có tác dụng trực tiếp hoặc gián tiếp giúp
trẻ em tránh khỏi nguy cơ lâm vào hoàn cảnh đặc biệt
. Quyền được khai sinh và có quốc tịch ( Khoản 1 điều 11)
. Quyền được giúp đỡ để xác nhận cha mẹ ( Khoản 2 điều 11)

. Quyền được chăm sóc nuôi dưỡng để phát triển ( Điều 12)
. Quyền được sống chung với cha mẹ ( Điều 13)
. Quyền được tôn trọng bảo vệ tính mạng thân thể, nhân phẩm và danh dự
( Điều 14)
. Quyền được chăm sóc sức khỏe( Điều 15)
. Quyền được học tập ( Điều 16)
. Quyền được vui chơi giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hóa, nghệ
thuật, thể dục thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi ( Điều 17)
. Quyền được phát triển năng khiếu (Điều 18)
. Quyền có tài sản và thừa kế tài sản (Điều 19)
. Quyền được tiếp cận thông tin phù hợp, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt
động xã hội phù hợp với nhu cầu và năng lực (Điều 20)
Luật còn quy định rõ bổn phận và những việc mà trẻ em không được làm,
nhằm giáo dục ý thức đạo đức giúp các em biết yêu thương kính trọng, chia sẻ giúp
đỡ mọi người, biết tránh xa những hành vi, việc làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tổn
hại cho bản thân, gia đình và xã hội. Bên cạnh đó Luật quy định trách nhiệm của
các nhóm gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân trong việc tôn trọng
và thực hiện các quyền của trẻ em.
Để triển khai việc thực hiện Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em,
Đảng và chính phủ đã có các chương trình và chính sách cụ thể quy định rõ vai trò
và trách nhiệm của các ban ngành trong việc thực hiện quyền của trẻ em: Chỉ thị
55 – CT/TW ngày 28/06/2000 của Bộ Chính Trị về tăng cường sự lãnh đạo của các
cấp ủy đảng tại cơ sở đối với công tác BVCSGDTE; Chỉ thị số 1408/CT-TTG ngày
03/9/2009 của Thủ tướng chính phủ về việc tăng cường công tác bảo vệ và chăm
sóc trẻ em; và các Chương trình Hành động Quốc gia vì Trẻ em Việt Nam giai
đoạn 1991-2000, giai đoạn 2001-2010 và giai đoạn 2011-2020 đã đưa ra những

định hướng nhằm hỗ trợ các ngành xây dựng các chương trình cụ thể về chăm sóc,
bảo vệ và giáo dục trẻ em.
Riêng với lĩnh vực bảo vệ trẻ em, nhà nước đã có những chính sách cụ thể
như sau:
- Thông tư liên bộ số 09/TT-LB-BLĐTBXH-BYT ngày 13/4/1955 của liên
Bộ LĐ-TB & XH và Bộ Y tế quy định các điều kiện lao động có hại và các công
việc cấm sử dụng lao động chưa đến tuổi thành niên;
- Thông tư số 21/1999/TT-BLĐTBXH ngày 11/9/1999 của Bộ LĐTB&XH
quy định danh mục nghề, công việc và điều kiện được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi
vào làm việc;
- Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm trong đó có phòng chống các
loại tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên;
- Chương trình phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ trẻ em giai đoạn
2004-2010;
- Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em
bị xâm hại tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại
nguy hiểm giai đoạn 2004-2010 (Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg ngày 12/2/2004);
- Nghị Định 67/2007/NĐ-CP và Nghị Định13/2010/NĐ-CP quy định mức
trợ cấp xã hội cho các đối tượng yếu thế trong đó có trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
như trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ tàn tật nặng, trẻ em là
nạn nhân của chất độc hoá học và nhiễm HIV/AIDS; và
- Quyết định số 38/2004/QĐ-TTg ngày 17/3/2004 hướng dẫn trợ giúp kinh
phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi ().

V.

Nguyên tắc đạo đức khi làm việc với trẻ em

1. Hành động chuyên môn không dựa trên tình cảm cá nhân.
Khi làm việc với Trẻ em có Hoàn cảnh Đặc biệt chắc chắn sẽ gợi nên những
phản ứng tình cảm ở người cán bộ xã hội. Việc chứng kiến trẻ em sống trong sợ
hãi, nghèo đó, lạnh giá, hoang mang, là nạn nhân bạo lực, bị lạm dụng tình dục,
phải chứng kiến bạo lực trong gia đình; sẽ tạo nên những phán xét mạnh mẽ đối
với người lớn mà họ cho rằng gây nên những đau khổ cho trẻ em. Làm việc với
những thanh thiếu niên mà không còn tin hoặc quý mến người lớn và có nguy cơ
trở thành những người thô lỗ, thiếu tôn trọng và bạo lực trong tương tác với người
khác có thể tạo nên những phản ứng tình cảm mạnh mẽ trong người trưởng thành.
Cán bộ xã hội cũng là những cá thể với tình cảm cá nhân. Đối với một cán
bộ xã hội giỏi làm việc một cách đúng đắn và hiệu quả với mọi người, khó có thể
mong rằng anh ta sẽ không có cảm xúc về tình cảnh của những đứa trẻ và thái độ
của những người lớn mà anh ta đã chứng kiến. Tuy nhiên, người đó được hy vọng
là sẽ gác tình cảm lại và hành động một cách chuyên nghiệp nhất.
Người cán bộ bước vào thế giới thực tế với quan điểm và tình cảm cá nhân
về những gì họ cho là hành vi tốt đối với họ và người khác. Khi làm việc với Trẻ
em có Hoàn cảnh Đặc biệt thì học viên-cán bộ xã hội sẽ gặp những người mà hành
vi đi ngược lại với những gì họ tin tưởng. Hành vi của nhiều thân chủ sẽ gợi nên
các cảm giác buồn, giận dữ, bực bội, ghê tởm và phán xét ở người cán bộ.
Hành vi của nhiều thân chủ và đồng nghiệp sẽ gợi lên những cảm giác quan
ngại, trắc ẩn, thấu cảm và quan tâm; cũng như những cảm giác khác : bực bội, tức
giận, tuyệt vọng. Khi làm việc trong lĩnh vực của Trẻ em có Hoàn cảnh Đặc biệt
cũng như nhiều lĩnh vực khác trong công tác xã hội, người cán bộ sẽ rơi vào những
cảm giác phức tạp và trái ngược.
Rõ ràng, hành động đúng đắn và hiệu quả chuyên nghiệp sẽ không thể xảy ra
nếu một cán bộ xã hội có:
Tình cảm tiêu cực về người họ đang làm việc với.
Tình cảm lẫn lộn về người họ đang làm việc với.

Cho phép tình cảm ảnh hưởng đến thái độ nghề nghiệp.
Một điều quan trọng là cán bộ xã hội phải luôn ý thức được sự cần thiết của
tư cách đạo đức trong hoạt động của học.
2. Tôn trọng trẻ
Cán bộ xã hội được mong đợi sẽ không phán xét và nhìn con người cũng
như những vấn đề của họ theo một ‘quan điểm sức mạnh’; điều này làm cho mọi
người đều có những điểm mạnh và khả năng tích cực riêng cho dù họ đang có
nhiều vấn đề về cách cư xử. Một ‘quan điểm sức mạnh’ chỉ ra khả năng của con
người để thay đổi hoàn cảnh bản thân bất chấp khó khăn và áp lực từ hoàn cảnh
hiện tại của họ.
Khi làm việc với trẻ em nhất thiết cần phải coi trọng ý kiến và quyết định
của trẻ. Nhân viên xã hội tuy là người có nhiều kinh nghiệm sống hơn các em,
song chính bản thân em mới biết được một cách chính xác vấn đề và nhu cầu riêng
của mình. Việc tôn trọng trẻ em hể hiện ở việc coi trẻ như những cá nhân có năng
lực và tin tưởng vào năng lực mà trẻ em có. Việc phủ nhận năng lực, dù là nhỏ của
trẻ có thể khiến các em bị tổn thương và mất niềm tin vào bản thân. Khi tin tưởng
vào cá nhân trẻ, người nhân viên xã hội có thể phát hiện ra những điểm mạnh của
trẻ mà ít người thấy được.
Ví dụ: Chương trình hỗ trợ trẻ em lang thang tổ chức cuộc thi vẽ tranh với
chủ đề ước mơ của em. Nhiều bức tranh vẽ rất đẹp và sáng tạo. Tuy nhiên khi tranh
được triển lãm, ban tổ chức khẳng định rằng một số bức tranh là do người lớn vẽ
hộ, trẻ em nhất là trẻ đường phố ít được học hành hơn các trẻ khác không thể vẽ
được bức tranh nhiều ý nghĩa như vậy. Lời nhận định của ban tổ chức như vậy là
không tôn trọng và tin tưởng vào năng lực của trẻ.