Tải bản đầy đủ
Những chỉ số thể hiện sự lạm dung và ngược đãi trẻ

Những chỉ số thể hiện sự lạm dung và ngược đãi trẻ

Tải bản đầy đủ

cho trẻ. Vì vậy, các thông tin để làm căn cứ cho chỉ số phải được thu thập qua
những cuộc nói chuyện với trẻ, với thủ phạm và những người khác trong trường
hợp lạm dụng để chứng minh cho những gợi ý của dấu hiệu nhận biệt.
Sự hiện diện của mỗi đặc điểm không có nghĩa là có sự lạm dụng trẻ em, tuy
nhiên nghiên cứu đã chứng minh rằng mỗi chỉ sốcó một mối quan hệ ‘chặt chẽ’ với
sự lạm dụng trẻ em.

Bảng 1: Chỉ số lạm dụng trẻ em
Dạng lạm dụng

Chỉ sốvề thể xác

Chỉ sốvề hành vi

Thể xác

Trẻ có những vết bầm Trẻ không xuất hiện
không giải thích nổi, trong một thời gian dài
những chấn thương thể Trẻ khiếp sợ những liên
xác
hệ với người lớn
Trẻ có những vết từ Có hành vi thái quá –
việc bị đánh bằng một hay gây hấn hoặc có xu
vật, như gỗ, thắt lưng hướng thu mình lại
và dây điện
Trẻ có những vết bỏng
trên khắp người

Sợ về nhà
Trẻ không tự nguyện
muốn người khác về

Trẻ có vài vết ở các bộ nhà mình
phận khác nhau trên cơ
Trẻ thông báo về
thể
thương tích do bố mẹ
Trẻ có những vết rách gây ra
không giải thích nổi
trên người

Biểu lộ căng thẳng khi
thực hiện những hoạt
động bình thường như
ăn, nghỉ ngơi, dùng toa
lét.
Trẻ sợ bố mẹ mình

Thiếu chăm sóc

Trẻ bị đói

Trẻ xin và ăn trộm thức

Trẻ có vệ sinh kém

ăn

Trẻ không có quần áo Trẻ trông mệt mỏi, bơ
phù hợp với thời tiết, phờ, hay ngủ gục
tuổi tác và giới tính

Trẻ không nói được ai

Trẻ không được chăm đang chăm sóc mình
sóc y tế và có những Trẻ tấn công những trẻ
vấn đề về thể chất như em có những thứ mà
da bị phát ban
chúng không có như
Trẻ bị bỏ bê

thức ăn, tình thương và
bạn bè

Tình dục

Trẻ gặp khó khăn khi Trẻ thể hiện những
thực hiện những hoạt hành vi khêu gợi đối
động thể chất như đi lại, với nam giới
ngồi

Trẻ không tự nguyện

Trẻ có quần áo lót bị xé tham gia những hoạt
rách, dính máu hay bẩn

động thể chất như chơi

Trẻ nêu ra những ngứa thể thao ở trường, tắm
ngáy, khó chịu ở bên gội
ngoài cơ quan sinh dục Hành vi của trẻ tụt hậu
hay hậu môn

so với những người

Trẻ có triệu chứng bệnh cùng tuổi
truyền qua đường sinh Trẻ phát triển những
dục

nhận thức lệch lạc về
hành vi tình dục

Trẻ có quan hệ tồi với
bạn bè
Trẻ thông báo rằng đã
tấn công tình dục.
Trẻ có những ảo giác
Tình cảm

Tình cảm trống rỗng
Trẻ phản ứng không
đúng đắn với tình cảm
của người khác.
Trẻ cần và yêu cầu tình
cảm từ người khác

Tâm lý

Trẻ không thể xác định
mình là người như thế
nào
Trẻ tự miêu tả bản thân
là vô giá trị, vô ích,
không quan trọng
Trẻ không thấy được
rằng chúng có thể giao
tiếp với thế giới một
cách hiệu quả qua hành
động của mình.

IV.

Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt (TECHCĐB) là trẻ em có hoàn cảnh không
bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ
bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật
bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thì trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
được hiểu là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần,
không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng
đồng.
Nhóm đối tượng TECHCĐB bao gồm:
1. Trẻ mồ côi, không nơi nương tựa , trẻ em bị bỏ rơi;
2. Trẻ khuyết tật, tàn tật;
3.Trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học;
4. Trẻ em nhiễm HIV/AIDS;
5. Trẻ em phải làm việc trong điều kiện nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với
chất độc hại;
6. Trẻ em phải làm việc xa gia đình;
7. Trẻ em lang thang;
8. Trẻ em bị xâm hại tình dục;
9. Trẻ em nghiện ma túy;
10. Trẻ em vi phạm pháp luật.
Hiện nay còn có những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt nhưng chưa được đề
cập đến trong Luật như trẻ em bị buôn bán và trẻ em là nạn nhân của bạo lực,
ngược đãi… .

Những quy định của pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em ở Việt
Nam
Công ước quốc tế về quyền trẻ em được phê chuẩn năm 1990 đã quy định bốn
Nhóm quyền cơ bản của trẻ em được qui định tại Công ước về quyền trẻ em
- Nhóm quyền sống còn : các quyền này bao gồm quyền được sống và quyền
được chăm sóc sức khỏe, y tế ở mức cao nhất có thể có được
- Nhóm quyền bảo vệ: Các quyền này bao gồm việc bảo vệ trẻ em thoát khỏi
mọi phân biệt đối xử, lạm dụng hay không được quan tâm, bảo vệ .trẻ em không có
gia đình cũng như trẻ em tị nạn
- Nhóm quyền phát triển: Các quyền này bao gồm mọi hình thức giáo dục và
có quyền được có mức sống đầy đủ cho sự phát triển về thể lực, trí tuệ, tinh thần,
đạo đức ...
- Nhóm quyền tham gia: bao gồm quyền trẻ em được bày tỏ ý kiến quan
điểm của mình trong mọi vấn đề có liên quan đến bản thân, quyền được lắng nghe
và kết giao hội họp.
Trên cơ sở phê chuẩn công ước quốc tế về quyền trẻ em, Việt Nam đã xây
dựng luật Bảo vệ Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 1991 và sửa đổi năm 2004
nhằm thể chế hoá việc thực hiện các quyền của trẻ em tại Việt nam. Luật Bảo vệ,
Chăm sóc và Giáo dục trẻ bao gồm 5 chương, 60 điều quy định các quyền cơ bản
và bổn phận của trẻ em, trách nhiệm của gia đình, các cơ quan Nhà nước, các tổ
chức xã hội và mọi công dân trong việc đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản của
trẻ em.
Luật qui định một hệ thống những quyền cơ bản của trẻ em ( Từ điều 11 đến
điều 20). Trong đó, tất cả các quyền đều có tác dụng trực tiếp hoặc gián tiếp giúp
trẻ em tránh khỏi nguy cơ lâm vào hoàn cảnh đặc biệt
. Quyền được khai sinh và có quốc tịch ( Khoản 1 điều 11)
. Quyền được giúp đỡ để xác nhận cha mẹ ( Khoản 2 điều 11)