Tải bản đầy đủ
Lạm dụng trẻ em

Lạm dụng trẻ em

Tải bản đầy đủ

Các mức độ lạm dụng trẻ em: (Các dạng lạm dụng thường đi kèm với nhau
và hầu như rất hiếm khi NVXH thấy chỉ xảy ra một dạng lạm dụng).
1.1.

Lạm dụng thân thể

Lạm dụng thân thể bao gồm: đánh đập, lắc, ném, đầu độc, đốt hay làm bỏng,
dìm chết, làm nghẹn thở, hay gây những tổn thương thể xác cho một đứa trẻ( Bộ Y
tế Anh Quốc, 1995,p5)
“Lạm dụng thể chất trẻ em là hành vi có nguy cơ hoặc thực sự gây tổn
thương thể chất cho trẻ từ sự tương tác hoặc sự thiếu tương tác nằm trong tầm kiểm
soát của bố mẹ hay người có trách nhiệm, quyền lực hay được tin tưởng. Những tai
nạn này có thể chỉ diễn ra một lần hay lặp đi lặp lại. Ví dụ của những hành vi lạm
dụng trẻ em bao gồm tát, đánh đập bằng tay hay đồ vật, đấm, đá, đẩy, đánh và
cấu”. W.H.O
Điều quan trọng là khi xem xét định nghĩa này ta cần chú ý đến ba khía cạnh
của định nghĩa:
Định nghĩa không nêu lên mức độ tổn thương thể chất gây ra bởi một hành
động để một hành động này được coi là lạm dụng. Vào thời điểm điều tra, cán bộ
xã hội cần tiến hành đánh giá bối cảnh để xem hành đông đó có bị coi là lạm dụng
không.
Trẻ em thường phải chịu những chấn thương thể xác trong suốt thời thơ ấu
và hầu hết là do tai nạn ngẫu nhiên và không cần điều trị về y tế.
Người chăm sóc có thể mắc lỗi tương tự ví dụ khi đánh vào mông đứa trẻ,
điều này có thể rơi vào phạm vi rộng lớn của các khái niệm chủ tâm và tiên liệu
trước cũng như không chủ tâm và không tiên liệu trước.

Ví dụ người chăm sóc số 1 có thể vì buồn bực mà dùng tay đánh vào mông
đứa trẻ, trong khi người chăm sóc 2 có thể đã định trước đánh vào mông đứa trẻ để
gây tổn thương đáng kể cho nó. Mặc dù đứa trẻ bị lạm dụng thể xác trong cả hai
trường hợp nhưng bối cảnh thì rất khác nhau, nhất là cách hiểu về sự lạm dụng này
khi có hành động can thiệp và phản ứng.
1.2.

Lạm dụng tình cảm

Lạm dụng tình cảm là ‘sự đáp lại những biểu lộ tình cảm và hành vi biểu đạt
đi kèm của trẻ theo cách kéo dài, lặp lại và không thích hợp”( Bộ Y tế, 1999, trang
6)
Theo định nghĩa này cần nhận thức được sự suy sụp xảy ra khi yêu cầu được
đáp lại tình cảm của trẻ đối với người lớn không được đáp lại một cách thích hợp.
Ví dụ mẹ Lan đã không tin tưởng và chấn an em khi Lan nói cho mẹ về sự lạm
dụng của bố dượng đối với em chính là một ví dụ về lạm dụng tình cảm.
1.3.

Lạm dụng tâm lý

Lạm dụng tâm lý “những hành vi kéo dài, lặp lại, không thích hợp gây tổn
thương hoặc làm giảm nhận thức của trẻ về cái tôi, giá trị và năng lực bản thân từ
đó tác động lên tiềm năng sáng tạo và phát triển của quá trình hoạt động, khả năng
trí tuệ của trẻ; bao gồm trí thông minh, trí nhớ, nhận thức, sự tập trung, khả năng
ngôn ngữ và đạo đức” (Meemeduma, 2005; mở rộng định nghĩa của
O’Hagan(2002))
Định nghĩa trên phân biệt rõ lạm dụng tâm lý là một loạt các hành động,
cũng như hậu quả đối với trẻ là nạn nhân của lạm dụng.

1.4.

Lạm dụng tình dục

Lạm dụng tình dục là “cưỡng ép hay lôi cuốn một đứa trẻ tham gia vào các
hoạt động tình dục, dù đứa trẻ có nhận thức được việc đang xảy ra hay không. Lạm
dụng tình dục là bao gồm những hành vi tiếp xúc như động chạm, giao cấu, cũng
như những hành vi không tiếp xúc như quan sát hoạt động tình dục, ghi băng
những hình ảnh khiêu dâm trẻ em”.( Bộ Y tế, 1999, trang 6)
Một định nghĩa khác, lạm dụng tình dục ‘là sự dính lứu vào các hoạt động
tình dục của một đứa trẻ mà bản thân đứa trẻ không nhận thức thấu đáo, đồng ý mà
không am hiểu hết, hoặc đứa trẻ chưa được chuẩn bị trước và không có quyền đồng
ý, hoặc sự vi phạm những điều cấm kỵ trên phương diện luật pháp hay xã hội của
một xã hội. Định nghĩa này không chỉ giới hạn trong sự thuyết phục hay cưỡng ép
trẻ em tham gia vào các hoạt động tình dục bất hợp pháp mà còn bao gồm sự bóc
lột lao động mại dâm và sử dụng trẻ em vào mục đích văn hóa phẩm đồi trụy hay
vào những hoạt động tình dục bất hợp pháp”. W.H.O
Lạm dụng trẻ em được coi là có căn cứ xác thực khi có sự khác biệt sức
mạnh lớn giữa trẻ và một người khác. Ví dụ hành động khám phá về tình dục giữa
trẻ nhỏ khi chúng khám phá thân thể nhau không được coi là lạm dụng tình dục vì
sự sức mạnh thể chất tương đương. Tuy nhiên, những hành vi tình dục giữa một
đứa trẻ và người lớn, dù được đồng ý hay không được coi là lạm dụng tình dục vì
có sự chênh lệnh sức mạnh.
1.5.

Chứng kiến cảnh bạo lực trong gia đình

Chứng kiến bạo hành trong gia đình – gây tổn thương cho trẻ em khi chứng
kiến và tham dự trong suốt quá trình thực hiện hành vi bạo lực của một thành viên
trong gia đình với những người còn lại.
1.6.

Bóc lột vì mục đích thương mại

Bóc lột với mục đích thương mại – là sử dụng trẻ em trong công việc hay
những hoạt động khác nhằm làm lợi cho người khác. Điều này không chỉ giới hạn
trong mại dâm trẻ em, lao động trẻ em trong môi trường độc hại, và lạm dụng trẻ
em trong sách báo khiêu dâm
2. Sao nhãng trẻ em
Sao nhãng trẻ em là ‘việc liên tục chểnh mảng không đáp ứng đủ các nhu
cầu vật chất và/ hoặc tâm lý của trẻ dẫn đến giảm sút sức khỏe và sự phát triển của
trẻ’. ( Bộ Y tế, 1999, trang 6)
Một định nghĩa khác, sao nhãng trẻ em là “sự vô ý hay vô tình của người
chăm sóc trong cung cấp các nguồn lực sẵn có cho sự phát triển toàn diện của trẻ
về : sức khỏe, học vấn, phát triển tình cảm, dinh dưỡng, mái ấm và các điều kiện
sống an toàn; hoặc gây nên những tổn hại cho sức khỏe, thể chất, tinh thần, sự phát
triển về nguyên tắc sống hay xã hội. Định nghĩa này còn bao gồm sự chểnh mảng
trong giám sát và bảo vệ trẻ khỏi tổn thương trong mức tối đa”.W.H.O

Khi xem xét định nghĩa này cần chú ý một điều quan trọng rằng sao nhãng là
một khía cạnh rất khó đánh giá trong lạm dụng trẻ em vì mối liên quan chặt chẽ
của nó với nghèo đói. Các chuẩn mực kinh tế-xã hội của một gia đình sẽ tác động
rất lớn đến khả năng chăm sóc con cái của họ. Điều quan trọng là khi đánh giá về
hiện tượng sao nhãng, cần đặt nó vào bối cảnh kinh tế - xã hội rộng hơn phạm vi
gia đình . Người cán bộ xã hội cần hỏi rằng cộng đồng mà gia đình này là thành
viên có những nguồn lực kinh tế nào Đánh giá về nguồn lực này sẽ là khuôn khổ
cho việc tham khảo nhìn nhận và ứng phó sự lạm dụng trẻ em.

3. Bóc lột trẻ em
Là việc sử dụng trẻ em vào các hoạt động để đem lại lợi ích cho người khác,
bao gồm lợi ích về tài chính, tình dục hay chính trị. Trong trường hợp này, các hoạt
động gây ra tổn thương về mặt thể chất và tâm lý cho trẻ, thậm chí ảnh hưởng đến
an toàn và sự sống của trẻ, bao gồm buôn bán trẻ em, lao động trẻ em, mại dâm trẻ
em, khiêu dâm trẻ em, ép buộc hôn nhân với trẻ em và buộc trẻ em tham gia vào
các hoạt động vũ trang.
4. Những chỉ số thể hiện sự lạm dung và ngược đãi trẻ
Nhân viên xã hội khi làm việc với trẻ em cần phải nhìn nhận sự ngược đãi
trẻ dựa trên các bằng chứng cụ thể. Để tránh những ‘kết luận sai lầm’ về con người
nếu lạm dụng chưa hề xảy ra và để ‘khẳng định chứng cứ’ của lạm dụng xảy ra và
có hành động bảo vệ kịp thời cho trẻ em.
Những chứng cớ cho thấy một đứa trẻ đã chịu một số dạng ngược đãi được
gọi là “chỉ số’. Có hai dạng chỉ số:


Chỉ số về thể chất – tổn hại cho cơ thể trẻ



Chỉ số về tâm lý, nhận thức và tình cảm.

Nhân viên xã hội không thể chỉ dựa vào nội dung trẻ kể lại với họ để kết
luận về sự ngược đãi, vì trẻ em có thể quá nhỏ để có thể diễn đạt câu chuyện xảy ra
với em ; hoặc quá sợ hãi để kể lại một cách đầy đủ, hoặc chịu áp lực từ phía cha
mẹ chúng nên không thể tiết lộ bí mật về sự ngược đãi, hoặc quá xúc động đến
mức lẫn lộn không thể nhớ được những tình tiết câu chuyện đã xảy ra với em.
Thay vào đó, nhân viên xã hội cần quan sát kỹ trẻ cả bề ngoài lẫn tinh thần để đọc
được những dấu hiệu là bằng chứng sự ngược đãi và suy ra những điều đang xảy ra

cho trẻ. Vì vậy, các thông tin để làm căn cứ cho chỉ số phải được thu thập qua
những cuộc nói chuyện với trẻ, với thủ phạm và những người khác trong trường
hợp lạm dụng để chứng minh cho những gợi ý của dấu hiệu nhận biệt.
Sự hiện diện của mỗi đặc điểm không có nghĩa là có sự lạm dụng trẻ em, tuy
nhiên nghiên cứu đã chứng minh rằng mỗi chỉ sốcó một mối quan hệ ‘chặt chẽ’ với
sự lạm dụng trẻ em.