Tải bản đầy đủ
Những quy định của pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em ở Việt Nam

Những quy định của pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ

. Quyền được chăm sóc nuôi dưỡng để phát triển ( Điều 12)
. Quyền được sống chung với cha mẹ ( Điều 13)
. Quyền được tôn trọng bảo vệ tính mạng thân thể, nhân phẩm và danh dự
( Điều 14)
. Quyền được chăm sóc sức khỏe( Điều 15)
. Quyền được học tập ( Điều 16)
. Quyền được vui chơi giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hóa, nghệ
thuật, thể dục thể thao, du lịch phù hợp với lứa tuổi ( Điều 17)
. Quyền được phát triển năng khiếu (Điều 18)
. Quyền có tài sản và thừa kế tài sản (Điều 19)
. Quyền được tiếp cận thông tin phù hợp, bày tỏ ý kiến và tham gia hoạt
động xã hội phù hợp với nhu cầu và năng lực (Điều 20)
Luật còn quy định rõ bổn phận và những việc mà trẻ em không được làm,
nhằm giáo dục ý thức đạo đức giúp các em biết yêu thương kính trọng, chia sẻ giúp
đỡ mọi người, biết tránh xa những hành vi, việc làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tổn
hại cho bản thân, gia đình và xã hội. Bên cạnh đó Luật quy định trách nhiệm của
các nhóm gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân trong việc tôn trọng
và thực hiện các quyền của trẻ em.
Để triển khai việc thực hiện Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em,
Đảng và chính phủ đã có các chương trình và chính sách cụ thể quy định rõ vai trò
và trách nhiệm của các ban ngành trong việc thực hiện quyền của trẻ em: Chỉ thị
55 – CT/TW ngày 28/06/2000 của Bộ Chính Trị về tăng cường sự lãnh đạo của các
cấp ủy đảng tại cơ sở đối với công tác BVCSGDTE; Chỉ thị số 1408/CT-TTG ngày
03/9/2009 của Thủ tướng chính phủ về việc tăng cường công tác bảo vệ và chăm
sóc trẻ em; và các Chương trình Hành động Quốc gia vì Trẻ em Việt Nam giai
đoạn 1991-2000, giai đoạn 2001-2010 và giai đoạn 2011-2020 đã đưa ra những

định hướng nhằm hỗ trợ các ngành xây dựng các chương trình cụ thể về chăm sóc,
bảo vệ và giáo dục trẻ em.
Riêng với lĩnh vực bảo vệ trẻ em, nhà nước đã có những chính sách cụ thể
như sau:
- Thông tư liên bộ số 09/TT-LB-BLĐTBXH-BYT ngày 13/4/1955 của liên
Bộ LĐ-TB & XH và Bộ Y tế quy định các điều kiện lao động có hại và các công
việc cấm sử dụng lao động chưa đến tuổi thành niên;
- Thông tư số 21/1999/TT-BLĐTBXH ngày 11/9/1999 của Bộ LĐTB&XH
quy định danh mục nghề, công việc và điều kiện được nhận trẻ em chưa đủ 15 tuổi
vào làm việc;
- Chương trình quốc gia phòng chống tội phạm trong đó có phòng chống các
loại tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm trong lứa tuổi vị thành niên;
- Chương trình phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ trẻ em giai đoạn
2004-2010;
- Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em
bị xâm hại tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc trong điều kiện độc hại
nguy hiểm giai đoạn 2004-2010 (Quyết định số 19/2004/QĐ-TTg ngày 12/2/2004);
- Nghị Định 67/2007/NĐ-CP và Nghị Định13/2010/NĐ-CP quy định mức
trợ cấp xã hội cho các đối tượng yếu thế trong đó có trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
như trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ tàn tật nặng, trẻ em là
nạn nhân của chất độc hoá học và nhiễm HIV/AIDS; và
- Quyết định số 38/2004/QĐ-TTg ngày 17/3/2004 hướng dẫn trợ giúp kinh
phí cho gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi ().

V.

Nguyên tắc đạo đức khi làm việc với trẻ em

1. Hành động chuyên môn không dựa trên tình cảm cá nhân.
Khi làm việc với Trẻ em có Hoàn cảnh Đặc biệt chắc chắn sẽ gợi nên những
phản ứng tình cảm ở người cán bộ xã hội. Việc chứng kiến trẻ em sống trong sợ
hãi, nghèo đó, lạnh giá, hoang mang, là nạn nhân bạo lực, bị lạm dụng tình dục,
phải chứng kiến bạo lực trong gia đình; sẽ tạo nên những phán xét mạnh mẽ đối
với người lớn mà họ cho rằng gây nên những đau khổ cho trẻ em. Làm việc với
những thanh thiếu niên mà không còn tin hoặc quý mến người lớn và có nguy cơ
trở thành những người thô lỗ, thiếu tôn trọng và bạo lực trong tương tác với người
khác có thể tạo nên những phản ứng tình cảm mạnh mẽ trong người trưởng thành.
Cán bộ xã hội cũng là những cá thể với tình cảm cá nhân. Đối với một cán
bộ xã hội giỏi làm việc một cách đúng đắn và hiệu quả với mọi người, khó có thể
mong rằng anh ta sẽ không có cảm xúc về tình cảnh của những đứa trẻ và thái độ
của những người lớn mà anh ta đã chứng kiến. Tuy nhiên, người đó được hy vọng
là sẽ gác tình cảm lại và hành động một cách chuyên nghiệp nhất.
Người cán bộ bước vào thế giới thực tế với quan điểm và tình cảm cá nhân
về những gì họ cho là hành vi tốt đối với họ và người khác. Khi làm việc với Trẻ
em có Hoàn cảnh Đặc biệt thì học viên-cán bộ xã hội sẽ gặp những người mà hành
vi đi ngược lại với những gì họ tin tưởng. Hành vi của nhiều thân chủ sẽ gợi nên
các cảm giác buồn, giận dữ, bực bội, ghê tởm và phán xét ở người cán bộ.
Hành vi của nhiều thân chủ và đồng nghiệp sẽ gợi lên những cảm giác quan
ngại, trắc ẩn, thấu cảm và quan tâm; cũng như những cảm giác khác : bực bội, tức
giận, tuyệt vọng. Khi làm việc trong lĩnh vực của Trẻ em có Hoàn cảnh Đặc biệt
cũng như nhiều lĩnh vực khác trong công tác xã hội, người cán bộ sẽ rơi vào những
cảm giác phức tạp và trái ngược.
Rõ ràng, hành động đúng đắn và hiệu quả chuyên nghiệp sẽ không thể xảy ra
nếu một cán bộ xã hội có:
Tình cảm tiêu cực về người họ đang làm việc với.
Tình cảm lẫn lộn về người họ đang làm việc với.

Cho phép tình cảm ảnh hưởng đến thái độ nghề nghiệp.
Một điều quan trọng là cán bộ xã hội phải luôn ý thức được sự cần thiết của
tư cách đạo đức trong hoạt động của học.
2. Tôn trọng trẻ
Cán bộ xã hội được mong đợi sẽ không phán xét và nhìn con người cũng
như những vấn đề của họ theo một ‘quan điểm sức mạnh’; điều này làm cho mọi
người đều có những điểm mạnh và khả năng tích cực riêng cho dù họ đang có
nhiều vấn đề về cách cư xử. Một ‘quan điểm sức mạnh’ chỉ ra khả năng của con
người để thay đổi hoàn cảnh bản thân bất chấp khó khăn và áp lực từ hoàn cảnh
hiện tại của họ.
Khi làm việc với trẻ em nhất thiết cần phải coi trọng ý kiến và quyết định
của trẻ. Nhân viên xã hội tuy là người có nhiều kinh nghiệm sống hơn các em,
song chính bản thân em mới biết được một cách chính xác vấn đề và nhu cầu riêng
của mình. Việc tôn trọng trẻ em hể hiện ở việc coi trẻ như những cá nhân có năng
lực và tin tưởng vào năng lực mà trẻ em có. Việc phủ nhận năng lực, dù là nhỏ của
trẻ có thể khiến các em bị tổn thương và mất niềm tin vào bản thân. Khi tin tưởng
vào cá nhân trẻ, người nhân viên xã hội có thể phát hiện ra những điểm mạnh của
trẻ mà ít người thấy được.
Ví dụ: Chương trình hỗ trợ trẻ em lang thang tổ chức cuộc thi vẽ tranh với
chủ đề ước mơ của em. Nhiều bức tranh vẽ rất đẹp và sáng tạo. Tuy nhiên khi tranh
được triển lãm, ban tổ chức khẳng định rằng một số bức tranh là do người lớn vẽ
hộ, trẻ em nhất là trẻ đường phố ít được học hành hơn các trẻ khác không thể vẽ
được bức tranh nhiều ý nghĩa như vậy. Lời nhận định của ban tổ chức như vậy là
không tôn trọng và tin tưởng vào năng lực của trẻ.

3. Dành quyền tự quyết cho trẻ
Nguyên tắc dành quyền tự quyết cho trẻ kế thừa tinh thần của nguyên tắc tôn
trọng thân chủ. Trẻ em dù nhỏ cũng có quyền được tham gia vào quá trình định
đoạt liên quan đến định hướng của kế hoạch can thiệp.
Tuy nhiên đối với những vấn đề phức tạp liên quan đến cha mẹ, các mối
quan hệ khác trong gia đình và xã hội, nhân viên xã hội cần có sự trao đổi thêm với
những người chịu trách nhiệm về trẻ trong gia đình.
4. Chấp nhận trẻ
Thông tin với thân chủ: thân chủ với những vấn đề và nhu cầu riêng có
quyền đòi hỏi cán bộ xã hội phải cởi mở và rõ ràng về sự thấu hiểu, hoạch định và
phương hướng của tình huống miễn là điều này không gây nguy hiểm đến sự an
toàn, quyền hạn và nhu cầu của người khác.
Hành động chuyên nghiệp không xây dựng trên sự chối bỏ con người chỉ vì
họ có nhiều vấn đề phức tạp và mâu thuẫn trong cuộc sống riêng
Tư cách đạo đức là cần thiết trong thái độ nghề nghiệp vì bản chất phức tạp
và mâu thuẫn của vấn đề mà người thực hiện sẽ phải đối phó. Hành động phần lớn
không chỉ liên quan đến một người mà thường là hai, ba , bốn hay nhiều hơn với
những vấn đề, nhu cầu, lợi ích cần được xem xét. Thông thường, lợi ích của một
hay hai người có thể mâu thuẫn với nhu cầu của một( nhiều) người khác. Hoặc là
trong cùng một hành động một người có thể có những nhu cầu xung đột nhau.
Ví dụ như trong gia đình ông Hùng, nhu cầu và lợi ích tốt nhất cho ông là
được ở cùng và được gia đình hỗ trợ. Tuy nhiên nhu cầu này có thể xung đột với
nhu cầu thoát khỏi bạo hành trong gia đình của lũ trẻ và nhu cầu thoát khỏi vị thế
nạn nhân của vợ ông. Cũng như vậy, nhu cầu thoát khỏi bạo hành trong gia đình
của lũ trẻ có thể dẫn đến kết quả là các em sẽ bị tách rời khỏi gia đình, tuy nhiên
việc gia đình đổ vỡ rất có thể sẽ gây ra chấn thương và rối loạn cho các em.

5. Giữ bí mật thông tin
Thân chủ với những vấn đề và nhu cầu riêng có quyền đòi hỏi cán bộ xã hội
giữ bí mật thông tin
Trong quá trình làm việc với trẻ hoặc gia đình trẻ, một lưu ý mà cán bộ quản
lý trường hợp cần thực hiện đó là đảm bảo bí mật thông tin. Việc bảo mật thông tin
sẽ giúp tăng cường hơn sự tin tưởng giữa trẻ và người trợ giúp. Trên cơ sở đó, mối
quan hệ giúp đỡ sẽ được thúc đẩy, nhờ vậy, công việc trợ giúp sẽ thuận tiện và
hiệu quả hơn. Tuy nhiên, cũng cần cho trẻ và gia đình trẻ biết về những trường hợp
không thể giữ bảo mật khi nó liên quan tới tính mạng và sự sống còn của trẻ hoặc
một cá nhân nào đó. Việc thoả thuận về giữ bảo mật cần được thông báo cho trẻ và
gia đình ngay lần làm việc đầu tiên và được thực hiện một cách nghiêm túc trong
suốt quá trình trợ giúp.
Trong thực tiễn, có nhiều tình huống khó xử xảy ra cho nhân viên xã hội khi
phải giữ bí mật thông tin của đối tượng. Chẳng hạn, việc một bé trai, vì quá giận bố
dựơng hoặc mẹ kế, có thể tiết lộ với nhân viên xã hội ý nghĩ trả thù họ, hoặc một
em bé gái tiết lộ với nhân viên xã hội là lỡ có thai với người bạn trai ít tuổi. Đây là
những tình huống đặt nhân viên xã hội trong tình huống khó xử. Nếu tiết lộ thông
tin về ý nghĩ trả thù của trẻ để cha dượng hoặc mẹ kế phòng ngừa, hoặc thông báo
cho bố mẹ biết tình huống đứa trẻ có thai để cùng tìm ra cách giải quyết sẽ làm cho
trẻ mất đi sự tin tưởng với nhân viên xã hội. Vậy phải làm thế nào? Việc cần nói
cho đối tượng biết về thông tin bảo mật có điều kiện là hết sức cần thiết trong
những trường hợp này. Nó sẽ giúp nhân viên xã hội tránh được việc khó xử khi cần
phải báo cho người có nguy cơ bị trả thù của trẻ. Tuy nhiên, với mỗi tình huống
cần sự nhạy cảm nhất định để kịp thời đưa ra các biện pháp phù hợp. Cần nhấn
mạnh việc cán bộ quản lý trường hợp cần phải tập trung vào việc thay đổi nhận
thức cho trẻ về vấn đề mà trẻ đang gặp phải, giúp trẻ suy nghĩ một cách tích cực

với vấn đề của mình để tự quyết định các giải pháp lựa chọn một cách khôn ngoan
nhất. Sự đồng hành của cán bộ trong việc điều chỉnh hoặc định huớng cho trẻ đi tới
quyết định là việc làm cần thiết.

CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG I
1. Trình bày khái niệm trẻ em. Phân tích nhu cầu phát triển của trẻ?
2. Các nguồn lực để thỏa mãn các nhu cầu của trẻ? Liên hệ thực tế ở Việt
Nam?
3. Trình bày các dạng lạm dụng trẻ em? Các chỉ số thể hiện sự lạm dụng trẻ
em?
4. Sao nhãng trẻ em và bóc lột trẻ em là gì? Liên hệ với tình hình thực tế Việt
nam hiện nay?
5. Trình bày những nguyên tắc đạo đức khi làm việc với trẻ em?
6. Nêu những điểm chính trong công ước quốc tế về quyền trẻ em? Việt Nam
tham gia thực hiện công ước này từ khi nào? Việc thực hiện công ước trong
thực tế có gặp những khó khăn gì?
7. Những quy định liên quan đến quyền trẻ em theo Luật Bảo vệ Chăm sóc và
Giáo dục trẻ em năm 1991 và sửa đổi năm 2004?

Chương II. Quy trình quản lý trường hợp trong bảo vệ trẻ em
I.

Bước 1. Tiếp nhận thông báo và đánh giá sơ bộ

1. Tiếp nhận thông báo
Bất cứ ai cũng có thể thông báo về các trường hợp trẻ em có nguy cơ hay bị
xâm hại, bóc lột và sao nhãng. Khi nhận được thông báo, nhân viên xã hội phải
làm những việc sau đây:
- Khai thác những thông tin cần thiết về trẻ và gia đình;
- Khai thác những thông tin về tình trạng bị tổn thương hay nguy cơ của trẻ;
- Khai thác những thông tin về môi trường sống và các điều kiện bảo vệ trẻ;
- Cung cấp cho người thông báo biết cách liên lạc với người tiếp nhận thông báo
về: Địa điểm liên lạc; Tên người cần liên lạc (liên lạc với ai?); Cách thức liên lạc
(liên lạc như thế nào? có thể là trực tiếp với cơ quan có trách nhiệm hoặc cung cấp
số máy liên lạc).
- Để người thông báo không phải lo lắng về việc tiết lộ thông tin của họ, không yêu
cầu người thông báo phải cho biết tên và địa chỉ của họ nếu họ không muốn;
- Trấn an người thông báo rằng họ không phải chịu trách nhiệm về việc xác định
xem trẻ em đó đã bị ngược đãi hay chưa;
- Hướng người thông báo vào việc cung cấp những thông tin cần thiết bằng các câu
hỏi đóng/ ngắn theo thứ tự trong biểu mẫu ghi chép. Giai đoạn này, người tiếp
nhận thông báo phải hành động nhanh: đặt câu hỏi tập trung vào vấn đề chính,
tránh đặt câu hỏi rườm rà, khó hiểu khiến người thông báo phải suy nghĩ lâu hoặc
trả lời không chính xác. Các câu hỏi bao gồm:
+ Trẻ bị tổn hại hoặc có nguy cơ bị tổn hại là ai?
+ Trẻ bao nhiêu tuổi?
+ Giới tính của trẻ?
+ Chuyện xảy ra với trẻ như thế nào?

+ Nơi ở của trẻ?
+ Tình trạng của trẻ hiện nay?
+ Người chăm sóc hiện nay trẻ là ai?
+ Nơi ở của người chăm sóc trẻ?
+ Theo người thông báo nếu không có các trợ giúp thì điều gì sẽ xảy ra?
- Nếu theo người thông báo vấn đề là nghiêm trọng thì trấn an họ rằng cơ quan
hoặc cán bộ có trách nhiệm sẽ có hành động hỗ trợ ngay lập tức.
- Khẳng định lại thông tin tiếp nhận được bằng việc hỏi xem người thông báo đã
cung cấp hết thông tin họ muốn thông báo chưa? Đồng thời cũng cần làm cho họ
yên tâm khi họ tỏ ra ngần ngại không dám cung cấp thông tin quan trọng nhất vì có
thể sợ dính dáng đến cơ quan pháp luật, hoặc lo lắng cho sự an toàn của bản thân
và gia đình họ.
- Tóm tắt lại những thông tin mà người thông báo cung cấp để khẳng định tính
chính xác của thông tin sẽ được lưu hồ sơ.
- Hướng dẫn người thông báo biết cách thức để liên lạc với cơ quan anh/ chị khi
cần thiết, ví dụ tên người liên lạc, tên cơ quan, địa điểm, thời gian, số máy điện
thoại liên lạc.
2. Đánh giá sơ bộ mức độ tổn thương và nguy cơ
Dựa trên thông tin của người thông báo, nhân viên xã hội phải tự đánh giá sơ bộ
mức độ trẻ bị tổn thương hay nguy cơ của các dạng xâm hại, bóc lột và sao nhãng.
Cán bộ quản lý trường hợp cần xem xét liệu hiện nay trẻ có phải đã bị tổn thương
hoặc có nguy cơ bị tổn thương nếu không có sự trợ giúp hay không.
Nội dung cần đánh giá sơ bộ để nhận định mức độ tổn thương và nguy cơ của
trẻ bao gồm ba phần cơ bản sau đây:
(1) Việc đánh giá về tình trạng của trẻ.

- Theo thông tin nhận được thì trẻ đã hoặc có nguy cơ bị xâm hại trong tương lai
gần hay không?
- Theo thông tin nhận được thì các tổn thương xảy ra với trẻ có nghiêm trọng/hoặc
đe doạ mạng sống của trẻ hay không?
- Trẻ có nguy cơ bị tổn thương hay không nếu môi trường chăm sóc vẫn như cũ?
(2) Đánh giá về người hoặc yếu tố gây ra tổn thương cho trẻ:
- Thủ phạm/yếu tố có còn khả năng gây tổn thương đến trẻ hay không?
- Người chăm sóc chính hiện nay có cam kết đủ nguồn lực và khả năng bảo vệ trẻ
trong lúc này không?
(3) Đánh giá về môi trường chăm sóc trẻ:
- Có ai là người thân (gia đình, họ hàng) có khả năng và muốn bảo vệ trẻ trong lúc
này không?
Dựa trên cơ sở đánh giá sơ bộ về tình trạng tổn thương nói trên, nhân viên
xã hội cần phải đưa ra những kết luận về nhu cầu bảo vệ của trẻ. Có hai trường hợp
xảy ra: một là, trẻ đang ở trong tình trạng khẩn cấp và cần có biện pháp can thiệp
khẩn cấp; hai là, trẻ cần được trợ giúp nhưng không khẩn cấp. Thông thường, các
trường hợp cần được can thiệp khẩn cấp là các trường hợp sau đây: Trẻ bị xâm hại
tình dục và trẻ bị xâm hại nặng nề về thể chất ; trẻ bị xâm hại nặng nề về tâm lý và
tình cảm ; trẻ bị sao nhãng nghiêm trọng về mặt thể chất. Ngay cả trong những
trường hợp khẩn cấp cũng có thể được chia thành nhiều mức độ khẩn cấp khác
nhau. Mức độ khẩn cấp cao là những trường hợp trẻ bị tổn thương cao, có nguy cơ
đến tính mạng – cần can thiệp trong vòng 24 giờ . Mức độ khẩn cấp trung bình là
những trường hợp trẻ bị tổn thương, nhưng không nguy cơ đến tính mạng – cần
can thiệp trong vòng 3 ngày. Mức độ khẩn cấp thấp là trẻ ít hoặc không bị tổn
thương, nhưng khả năng tự bảo vệ thấp – cần can thiệp trong vòng 10 ngày.
Bảng 2. Mức độ khẩn cấp và thời gian giải quyết