Tải bản đầy đủ
2 HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG

2 HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG

Tải bản đầy đủ

9
cao, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh việc cho vay tiêu
dùng góp phần tích cực đến nền kinh tế thì cũng gặp một số rủi ro sau:
+ Rủi ro người đi vay thất nghiệp.
+ Rủi ro người đi vay vi phạm pháp luật hình sự.
+ Rủi ro người đi vay chết, mất tích, tai nạn.
Tất cả những rủi ro trên đều không đảm bảo việc trả nợ của người đi vay, vì
vậy Ngân hàng luôn có những biện pháp thích hợp và linh động để đảm bảo việc
hạn chế rủi ro tốt nhất.
1.2.3 Đặc điểm cho vay tiêu dùng
Quy mô từng hợp đồng cho vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí cho vay cao, vì
vậy lãi suất CVTD thường cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay trong lĩnh
vực thương mại và công nghiệp.
Nhu cầu vay tiêu dừng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế,
hầu như ít co giãn với lãi suất và thông thường khách hàng quan tâm tới số tiền phải
thanh toán định kỳ hơn là lãi suất phải trả.
Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai vấn đề cốt lõi có quan hệ rất mật
thiết tới nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng.
Chất lượng thông tin tài chính của khách hàng thường không cao và nguồn
trả nợ cũng vậy, nó phụ thuộc vào trình độ làm việc, kinh nghiệm của người đó đối
với công việc, vì những khách hàng này không có pháp nhân nên việc quản lý khó
hơn, cho nên việc này chủ yếu dựa vào đạo đức của khách hàng. Tư cách cá nhân
của khách hàng là một điều quan trọng, song cũng rất khó để xác định.
CVTD thường có tài sản đảm bảo, khách hàng không sử dụng tiền để hoạt
động kinh doanh nên cũng khó kiểm soát các nguồn trả nợ của khách hàng. Vì vậy,
Ngân hàng thường buộc khách hàng phải có tài sản bảo đảm.

Báo cáo thưc tập tốt nghiệp

Nguyễn Thanh Nam

10
Cho vay tiêu dùng thường có nhiều rủi ro hơn so với cho vay thương mại và
cho vay công nghiệp, bởi vì chúng ta có rất ít thông tin để thẩm định về đối tượng
vay hoặc có chăng thì cũng chịu sự ảnh hưởng của những rủi ro như đã trình bày.
1.2.4 Phân loại tín dụng tiêu dùng
1.2.4.1 Tín dụng tiêu dùng trực tiếp
Tín dụng tiêu dùng trực tiếp là những khoản cho vay mà Ngân hàng giải
quyết cho vay trực tiếp cho khách hàng xin vay tại Ngân hàng, hay còn được hiểu là
Ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ
người này.
1.2.4.2 Tín dụng tiêu dùng gián tiếp
Tín dụng tiêu dùng gián tiếp là việc Ngân hàng tài trợ bán trả góp, hay còn
được hiểu là Ngân hàng mua những khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã
bán chịu hàng hoá hay dịch vụ cho người tiêu dùng.
1.2.5 Quy trình cho vay tiêu dùng chung
Quy trình cho vay tiêu dùng được bắt đầu khi cán bộ tín dụng (CBTD) thực
hiện nhận hồ sơ của khách hàng và kết thúc khi kế toán viên tất toán, thanh lý hợp
đồng.
Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ và thông tin cần thiết của khách hàng. CBTD
phải tiến hành thẩm định, tiến hành trình duyệt và phê duyệt, thông báo việc phê
duyệt và không phê duyệt cho khách hàng trong thời hạn sớm nhất nhưng không
được quá 05 ngày. Trường hợp phức tạp có thể theo sự thỏa thuận của khách hàng.
Quy trình cho vay gồm các bước sau:
Bước 1. Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng về lập hồ sơ vay vốn.
Bước 2. Thẩm định các điều kiện vay vốn.
Bước 3. Xác định phương thức cho vay.
Báo cáo thưc tập tốt nghiệp

Nguyễn Thanh Nam

11
Bước 4. Xem xét khả năng nguồn vốn, điều kiện vay vốn và lãi suất cho vay
của Ngân hàng.
Bước 5. Lập tờ trình thẩm định cho vay.
Bước 6. Tái thẩm định cho vay.
Bước 7. Trình duyệt khoản vay.
Bước 8. Ký kết hợp đồng tín dụng/sổ vay vốn, hợp đồng bảo đảm tiền vay,
giao nhận giấy tờ và tài sản đảm bảo.
Bước 9. Giải ngân.
Bước 10. Kiểm tra, giám sát khoản vay.
Bước 11. Thu nợ lãi, gốc và xử lý những phát sinh.
Bước 12. Thanh lý hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay.
Bước 13. Giải chấp tài sản đảm bảo.
Bước 14. Lưu giữ hồ sơ tín dụng và hồ sơ đảm bảo tiền vay.
Bước 15. Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn.

Báo cáo thưc tập tốt nghiệp

Nguyễn Thanh Nam

12

CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ
PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN – CHI NHÁNH
PHAN ĐÌNH PHÙNG.
2.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM.
2.1.1 Quá trình hình thành và cơ cấu tổ chức
Năm 1988, Ngân Hàng Phát Triển Nông Nghiệp được hình thành theo
nghị định số 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ Trưởng (nay là Chính
Phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh, trong đó ngân hàng có Ngân
Hàng Phát Triển Nông Thôn Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông
thôn.
Ngân hàng Phát Triển Nông Nghiệp hình thành trên cơ sở tiếp nhận từ
NHNN: tất cả các chi nhánh NHNN huyện, phòng Tín dụng Nông nghiệp, quỹ tiết
kiệm, tại các chi nhánh tỉnh, thành phố. Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp TW
được hình thành trên cơ sở tiếp nhận Vụ Tín dụng nông nghiệp NHNN và một số
cán bộ của Vụ tín dụng Thương nghiệp, Ngân hàng Đầu tư và Xây Dưng, Vụ kế
toán và một số đơn vị.
Ngày 14/11/1990 Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính
phủ) ký quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thay
thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam. Ngân hàng Nông Nghiệp là Ngân
hàng Thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn,
là một pháp nhân hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt
động của mình trước pháp luật.
Ngày 01/03/1991 Thống đốc NHNN có quyết định số 18/NH-QĐ thành
lập Văn phòng đại diện Ngân hàng Nông nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh và
ngày 24/06/1994 Thống đốc có văn bản số 439/CV-TCCB chấp nhận cho Ngân
Báo cáo thưc tập tốt nghiệp

Nguyễn Thanh Nam

13
hàng Nông nghiệp được thành lập văn phòng miền Trung tại Thành phố Quy Nhơn,
tỉnh Bình Định.
Ngày 22/12/1992 Thống đốc NHNN có quyết định số 603/NH-QĐ về việc
lập Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp các tỉnh thành phố trực thuộc Ngân hàng
Nông nghiệp gồm có 3 Sở giao dịch (Sở giao dịch I tại Hà Nội, Sở giao dịch II tại
Văn phòng đại diện khu vực miền Nam và Sở giao dịch III tại Văn phòng miền
Trung) và 43 chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp tỉnh, thành phố. Chi nhánh Ngân
hàng Nông nghiệp quận, huyện, thị xã có 475 chi nhánh.
Ngày 30/07/1994 tại Quyết định số 160/QĐ-NHNN Thống đốc NHNN
chấp nhận mô hình đổi mới hệ thống quản lý của Ngân hàng Nông Nghiệp Việt
Nam, trên cở sở đó Tổng giám đốc Ngân hàng Nông Nghiệp Việt Nam cụ thể hóa
bằng văn bản số 927/TCCB/Ngân hàng Nông Nghiệp ngày 16/08/1994 xác định
Ngân hành Nông Nghiệp Việt Nam có 2 cấp: Cấp tham mưu và Cấp trực kinh
doanh. Đây thực sự là bước ngoặt về tở chức bộ máy Ngân hàng Nông Nghiệp Việt
Nam và cũng là nền tảng cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông Nghiệp và
Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) sau này.
Trên cơ sở những kết quả tốt đẹp của Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo, Ngân
hàng Nông nghiệp tiếp tục đề xuất kiến nghị thành lập Ngân hàng phục vụ người
nghèo được Chính phủ, Ngân hàng Nhà Nước ủng hộ, dư luận rất hoan nghênh.
Ngày 31/08/1995 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/TTg thành lập
Ngân hàng phục vụ người nghèo.
Ngày 15/11/1996 được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Thống đốc NHNN
Việt Nam ký quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông Nghiệp Việt
Nam thành Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Ngân hàng
No & PTNT Việt Nam), hoạt động theo mô hình Tổng công ty 90, là doanh nghiệp
Nhà nước hạng đặc biêt, hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và chịu sự quản
lý trực tiếp của NHNN Việt Nam. Với tên gọi mới, ngoài chức năng của một ngân
hàng thương mại, Ngân hàng No & PTNT Việt Nam được xác lập thêm nhiệm vụ
nông thôn thông qua việc mở rộng đầu tư vốn trung và dài hạn để xây dựng cơ sở
vật chất kỹ thuật cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy hải sản góp phần thực hiện
thành công sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước.
Báo cáo thưc tập tốt nghiệp

Nguyễn Thanh Nam