Tải bản đầy đủ
1 LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

1 LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

Tải bản đầy đủ

2
doanh nghiệp nhanh chóng đầu tư mở rộng sản xuất, vừa góp phần đẩy nhanh tốc
độ tập trung và tích lũy vốn cho nền kinh tế.
Góp phần ổn định tiền tệ và ổn định giá cả:
Với chức năng tập trung và vận dụng những nguồn vốn nhàn rỗi trong xã
hội, tín dụng ngân hàng đã trực tiếp giảm khối lượng tiền mặt tồn đọng trong lưu
thông. Lượng tiền dôi thừa này nếu không được huy động và sử dụng kịp thời có
thể gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động lưu thông tiền tệ dẫn đến mất cân đối trong
quan hệ hàng-tiền và hệ thống giá cả bị biến động là điều không thể tránh khỏi. Do
đó trong điều kiện nều kinh tế lạm phát, tín dụng được xem như là một trong những
biện pháp làm giảm lạm phát.
Góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự xã hội:
Hoạt động tín dụng ngân hàng không những đáp ứng cho nhu cầu của các
doanh nghiệp mà còn phục vụ cho các tầng lớp dân cư. Trong nền kinh tế ngoài các
ngân hàng còn có hệ thống những tổ chức tín dụng sẵn sàng cung cấp vốn vay cho
các cá nhân để phát triển kinh tế, gia đình, mua sắm nhà cửa, tư liệu sinh hoạt. Bên
cạnh đó còn việc phát triển những loại hình như Ngân hàng chính sách xã hội, quỹ
xóa đói giảm nghèo,…Nhà nước còn thực hiện những chính sách ưu đãi nhằm mục
đích cải thiện từng bước đời sống của nhân dân, tạo công ăn việc làm, giảm tỷ lệ
thất nghiệp, qua đó góp phần ổn định trật tự xã hội.
1.1.2.3 Chức năng
Phân phối lại tài nguyên:
Như chúng ta đã biết tín dụng là sự chuyển nhượng vốn từ chủ thể này sang
chủ thể khác. Thông qua sự chuyển nhượng này tín dụng góp phần phân phối lại tài
nguyên thể hiện ở chỗ: (1) người cho vay có một số tài nguyên tạm thời chưa dùng
đến, thông qua tín dụng số tài nguyên đó được phân phối cho người đi vay,(2)
Ngược lại người đi vay cũng thông qua quan hệ tín dụng nhận được phần tài nguyên
được phân phối lại.
Giám sát bằng tiền đối với các hoạt động kinh tế xã hội:
Báo cáo thưc tập tốt nghiệp

Nguyễn Thanh Nam

3
Với tư cách là người đi vay để cho vay, các trung gian tài chính có thể và cần
phải giám sát chặt chẽ đối với các hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp, đối với hoạt động thu chi ngân sách nhà nước và hoạt động tiêu dùng trong
của dân cư. Sự giám sát này không chỉ vì lợi ích của các trung gian tài chính mà còn
vì lợi ích của doanh nghiệp, của dân cư và của toàn xã hội.
1.1.3 Các hình thức cho vay
Tín dụng ngân hàng có thể chia làm nhiều loại khác nhau tùy theo từng tiêu
thức phân loại:
1.1.3.1 Dựa vào mục đích tín dụng:
+ Cho vay sản xuất – lưu thông hàng hóa: Là loại cho vay nhằm cung cấp
cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ và cá nhân để trực tiếp tiến hành
sản xuất hàng hóa và kinh doanh.
+ Cho vay tiêu dùng: Là hình thức cho vay hộ, cá nhân để đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng như mua sắm, sửa chữa…
Ở Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ yếu là cho vay phát
triển sản xuất nông nghiệp, cho vay tiêu dùng cá nhân, cho vay nông nghiệp và sản
xuất kinh doanh dịch vụ. Trong đó cho vay nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất.
1.1.3.2 Dựa vào thời hạn tín dụng:
+ Cho vay ngắn hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn đến 12 tháng. Mục
đích của việc cho vay này thường nhằm bổ sung vốn lưu động.
+ Cho vay trung hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn từ 12 đến dưới 60
tháng. Mục đích của việc cho vay này thường nhằm tài trợ cho việc đầu tư và tài sản
cố định.
+ Cho vay dài hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn trên 60 tháng. Mục đích
của loại cho vay này nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào dự án đầu tư.

Báo cáo thưc tập tốt nghiệp

Nguyễn Thanh Nam

4
Ở Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho vay ngắn hạn và
trung hạn là chủ yếu vì khách hàng chủ yếu của ngân hàng phần lớn là hộ sản xuất
kinh doanh, các phương án kinh doanh của họ có thời hạn thường dưới 1 năm như
phục vụ sản xuất nông nghiệp (làm ruộng, chăn nuôi,…).
1.1.3.3 Dựa và mức độ tín nhiệm của khách hàng:
Theo căn cứ này có 2 hình thức cho vay:
+ Cho vay không có đảm bảo: Là loại cho vay không có thế chấp, cầm cố
hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín bản thân khách hàng vay vốn
và năng lực tài chính để quyết định cho vay.
+ Cho vay có đảm bảo: Là loại cho vay có đảm bảo tiền vay như thế chấp,
cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác.
1.1.3.4 Dựa vào phương thức cho vay:
Ngân hàng thỏa thuận với khách hàng vay về phương thức cho vay:
+ Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng thực hiện thủ
tục vay vốn và ký kết hợp đồng tín dụng.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng và khách hàng xác định và
thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoản thời gian nhất định.
+ Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực
hiện các dự án phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ
đời sống.
+ Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng hoặc ngân hàng cùng cho
vay một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng. Trong đó, có một
tổ chức tín dụng hoặc một ngân hàng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ
chức tín dụng hoặc những ngân hàng khác. Việc cho vay hợp vốn thực hiện theo
quy chế đồng tài trợ của các tổ chức tín dụng do Thống đốc ngân hàng nhà nước
ban hành.
Báo cáo thưc tập tốt nghiệp

Nguyễn Thanh Nam

5
+ Cho vay trả góp: Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận số lãi vốn vay phải
trả, cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ trong nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho
vay.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng cam kết đảm bảo tài
sản sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định.
Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự
phòng, mức phí chi hạn mức tín dụng dự phòng.
+ Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Ngân
hàng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng vốn vay trong phạm vi hạn mức tín
dụng nhất định để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút
tiền tự động. Khi cho vay phát hành và sử dụng thẻ, ngân hàng và khách hàng phải
tuân theo các quy định của Chính phủ, Ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành, sử
dụng thẻ tín dụng.
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà ngân hàng hoặc tổ
chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền
có trên tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với quy định của Chính phủ và
Ngân hàng nhà nước Việt Nam về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
+ Các phương thức cho vay khác: Các phương thức cho vay khác mà pháp
luật không cấm phù hợp với quy định tại quy chế này và điều kiện hoạt động kinh
doanh của ngân hàng và đặc điểm của khách hàng vay.
1.1.3.5 Dựa vào phương thức hoàn trả nợ vay:
+ Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả nợ một lần khi
đáo hạn
+ Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ hay còn gọi là cho vay trả góp.
+ Cho vay trả nợ nhiều lần nhưng không kỳ hạn nợ cụ thể mà tùy khả năng
tài chính của người đi vay và có thể trả nợ bất kỳ lúc nào.

Báo cáo thưc tập tốt nghiệp

Nguyễn Thanh Nam

6
1.1.4 Nguyên tắc và điều kiện cho vay
1.1.4.1 Nguyên tắc cho vay
Khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo nguyên tắc sau:
+ Sử dụng vố đúng mục đích theo thỏa thuận trong hợp đồng.
+ Hoàn trả nợ gốc và lãi đúng thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng.
1.1.4.2 Điều kiện cho vay
Ngân hàng xem xét cho vay đối với khách hàng đáp ứng đủ các điều kiện
sau:
Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân Việt Nam.
+ Pháp nhân phải có năng lực pháp luật dân sự.
+ Cá nhân và chủ doanh nghiệp tư nhân phải có năng lực pháp luật và năng
lực hành vi dân sự.
+ Đại diện của hộ gia đình phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi
dân sự
+ Đại diện của tổ hợp tác phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân
sự.
+ Thành viên của công ty hợp danh phải có năng lực pháp luật và năng lực
hành vi dân sự.
Đối với khách hàng vay là pháp nhân và cá nhân nước ngoài
Phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp
luật của nước mà pháp nhân đó có quốc tịch hoặc cá nhân đó là công nhân, nếu
pháp luật nước ngoài đó được Bộ Luật Dân Sự của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ
Nghĩa Việt Nam, các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định hoặc điều ước
quốc tế mà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia quy
định.
Báo cáo thưc tập tốt nghiệp

Nguyễn Thanh Nam

7
1.1.5 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay
1.1.5.1 Hệ số thu nợ
Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng thể hiện sự an toàn của đồng vốn
khi ngân hàng cho vay. Nghĩa là trên 100 đồng vốn ngân hàng bỏ ra cho vay thì sẽ
thu lại bao nhiêu đồng. Hệ số này càng lớn thì độ an toàn càng cao và công tác thu
nợ càng khả quan.

Hệ số thu nợ=

*100%

1.1.5.2 Vòng quay vốn tín dụng
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của một ngân hàng được phản ánh thông qua
vòng quay vốn tín dụng. Vòng quay càng nhanh thì chứng tỏ ngân hàng càng sử
dụng vốn hiệu quả đáp ứng quá trình hoạt động trong tương lai. Vòng quay này
được tính trên tỷ lệ giữa doanh số thu nợ và tổng dư nợ.

Vòng quay vốn tín dụng=

*100%

1.1.5.3 Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Đây là chỉ tiêu đo lường chất lượng tín dụng của ngân hàng và cũng là chỉ
tiêu mà các ngân hàng ử dụng để so sánh chất lượng tín dụng của nhau để tìm biện
pháp nâng cao chất lượng tín dụng, tăng khả năng cạnh tranh. Đồng thời hệ số còn
phản ánh tình trạng nợ quá hạn ở ngân hàng tốt hay xấu, công tác quan tâm đến tín
dụng như thế nào.
Tỷ lệ quá hạn trên tổng dư nợ=

Báo cáo thưc tập tốt nghiệp

*100%

Nguyễn Thanh Nam

8
1.2 HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG
1.2.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng (CVTD) là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu
chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân, hộ gia đình và tổ chức. Đây là
nguồn tài chính quan trọng để giúp các chủ thể tiêu dùng có thể trang trải các nhu
cầu trong cuộc sống như: nhà ở, phương tiện đi lại, đồ dùng gia đình, chi tiêu cho
nhu cầu giáo dục, y tế và các nhu cầu cần thiết khác.
1.2.2 Sự cần thiết của cho vay tiêu dùng
Hoạt động tín dụng vẫn là nguồn thu chủ yếu của các Ngân hàng. Cho vay
tiêu dùng cũng là một phần của hoạt động tín dụng, song nó ngày càng khẳng định
vị thế của mình. Đây cũng là một điều kiện nhằm tăng sức cạnh tranh của các Ngân
hàng với nhau trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như hiện nay trong quá trình hội
nhập quốc tế. Xuất phải từ những đặc điểm, sự cần thiết của CVTD ta có thể thấy
cho vay tiêu dùng đóng vai trò quan trọng.
1.2.2.1 Đối với Ngân hàng thương mại
Cho vay tiêu dùng giúp các NHTM mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó
làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi cho Ngân hàng.
Cho vay tiêu dùng tạo điều kiện cho Ngân hàng đa dạng hóa hoạt động kinh
doanh, từ đó giúp Ngân hàng nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro.
1.2.2.2 Đối với người tiêu dùng
Tạo điều kiện cho người tiêu dùng đáp ứng những nhu cầu cần thiết kịp
thời, đáp ứng được nhu cầu đời sống cho người dân.
1.2.2.3 Đối với nền kinh tế
Từ khi cho vay tiêu dùng được đáp ứng thì hiện tượng vay nóng được đẩy
lùi. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động này mà chính sách kích cầu kinh tế được tăng
Báo cáo thưc tập tốt nghiệp

Nguyễn Thanh Nam

9
cao, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh việc cho vay tiêu
dùng góp phần tích cực đến nền kinh tế thì cũng gặp một số rủi ro sau:
+ Rủi ro người đi vay thất nghiệp.
+ Rủi ro người đi vay vi phạm pháp luật hình sự.
+ Rủi ro người đi vay chết, mất tích, tai nạn.
Tất cả những rủi ro trên đều không đảm bảo việc trả nợ của người đi vay, vì
vậy Ngân hàng luôn có những biện pháp thích hợp và linh động để đảm bảo việc
hạn chế rủi ro tốt nhất.
1.2.3 Đặc điểm cho vay tiêu dùng
Quy mô từng hợp đồng cho vay thường nhỏ, dẫn đến chi phí cho vay cao, vì
vậy lãi suất CVTD thường cao hơn so với lãi suất của các loại cho vay trong lĩnh
vực thương mại và công nghiệp.
Nhu cầu vay tiêu dừng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế,
hầu như ít co giãn với lãi suất và thông thường khách hàng quan tâm tới số tiền phải
thanh toán định kỳ hơn là lãi suất phải trả.
Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai vấn đề cốt lõi có quan hệ rất mật
thiết tới nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng.
Chất lượng thông tin tài chính của khách hàng thường không cao và nguồn
trả nợ cũng vậy, nó phụ thuộc vào trình độ làm việc, kinh nghiệm của người đó đối
với công việc, vì những khách hàng này không có pháp nhân nên việc quản lý khó
hơn, cho nên việc này chủ yếu dựa vào đạo đức của khách hàng. Tư cách cá nhân
của khách hàng là một điều quan trọng, song cũng rất khó để xác định.
CVTD thường có tài sản đảm bảo, khách hàng không sử dụng tiền để hoạt
động kinh doanh nên cũng khó kiểm soát các nguồn trả nợ của khách hàng. Vì vậy,
Ngân hàng thường buộc khách hàng phải có tài sản bảo đảm.

Báo cáo thưc tập tốt nghiệp

Nguyễn Thanh Nam