Tải bản đầy đủ
Giải quyết tranh chấp số DS425

Giải quyết tranh chấp số DS425

Tải bản đầy đủ

Tham vấn
Do Liên minh châu Âu khởi kiện
Ngày 25/07/2011, Liên minh châu Âu yêu cầu tham vấn với Trung Quốc về
việc áp đặt thuế chống bán phá giá cuối cùng của Trung Quốc lên thiết bị kiểm
tra an toàn x-quang nhập khẩu từ EU, trên cơ sở Thông báo số 1(2011) của Bộ
Thương mại Trung Quốc, bao gồm cả các phụ lục của nó. Liên minh châu Âu
cho rằng biện pháp này trái với nhiều điều khoản trong Hiệp định Chống bán
phá giá liên quan tới quá trình điều tra chống bán phá giá (bao gồm thất bại
trong việc tạo điều kiện cho việc tiếp cận những thông tin cần thiết và sự giải
thích chưa đầy đủ về cơ sở ra phán quyết) cũng như là phán quyết chống bán
phá giá (sự thiếu hụt việc kiểm tra khách quan ảnh hưởng của những sản phẩm
nhập khẩu bán phá giá lên giá cả tại thị trường trong nước và sự thiết hụt phán
quyết khách quan về mối quan hệ nhân quả). Liên minh châu Âu cho rằng biện
pháp này trái với các Điều 2.4, 3.1, 3.2, 3.4, 3.5, 6.1, 6.2. 6.4, 6.5, 6.9, 12.2.2
của Hiệp định ADA, và Điều VI:1 và VI:6(a) của GATT 1994.
Ngày 08/12/2011, Liên minh châu Âu yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm. Tại
cuộc họp ngày 19/12/2011, DSB đã trì hoãn việc thành lập Ban Hội thẩm.
Giai đoạn hội thẩm
Tại cuộc họp ngày 20/01/2012, DSB thành lập Ban hội thẩm. Ấn Độ, Nhật Bản,
Na Uy, Thái Lan và Hoa Kỳ tham gia tham vấn với tư cách là các bên thứ ba.
Sau đó, Chile cũng tham gia tham vấn với tư cách bên thứ ba. Ngày 02/03/2012,
Liên minh châu Âu yêu cầu Tổng Giám đốc chỉ định thành phần Ban Hội thẩm.
Ngày 12/03/2012, Tổng Giám đốc xác định thành phần Ban Hội thẩm. Ngày
04/06/2012, Chủ tịch Ban Hội thẩm thông báo với DSB: xuất phát từ những bất
đồng về chu trình không thể tránh được liên quan tới hai thành viên của Ban
Hội thẩm, Ban Hội thẩm dự tính sẽ kết thúc công việc vào tháng 01 năm 2013.
Ngày 26/02/2013, thông báo của Ban Hội thẩm được lưu hàng cho các nước
thành viên.
Tóm tắt các điểm chính
Tranh chấp này liên quan tới việc áp đặt thuế chống bán phá giá của Trung
Quốc lên những thiết bị kiểm tra y tế (máy quét x – quang) nhập khẩu từ Liên
minh châu Âu. Liên minh châu Âu cho rằng việc áp đặt thuế chống bán phá giá
của Trung Quốc, và cuộc điều tra cơ bản được tiến hành bởi cơ quan có thẩm
quyền Trung Quốc, là trái với các điều khoản về thủ tục và các điều khoản quy
định về quyền và nghĩa vụ trong Hiệp định ADA.

Ngoài ra còn có 1 số tranh chấp cáo buộc :
Cáo buộc của Liên minh châu Âu liên quan tới phân tích của MOFCOM về ảnh
hưởng giá cả
Liên minh châu Âu cho rằng kết quả tìm hiểu của MOFCOM về việc ảnh hưởng
giá cả không cấu thành sự thẩm tra khách quan được dựa trên chứng cứ xác
thực, trái với nghĩa vụ được quy định theo các Điều 3.1 và 3.2 Hiệp định ADA.
Nét cơ bản trong cáo buộc của Liên minh châu Âu, đó là phương pháp đánh giá
ảnh hưởng giá cả của MOFCOM không chính xác bởi nó liên quan tới việc so
sánh giá cả, dựa trên…, trong những trường hợp mà MOFCOM không cân nhắc
“những khác biệt đáng kể” giữa các sản phẩm được dùng để so sánh, đặc biệt là
giữa loại máy quét “tiêu tốn nhiều năng lượng” và những loại máy quét “tiêu
tốn ít năng lượng”. Theo Liên minh châu Âu, ảnh hưởng sai lệch của phương
pháp được tiến hành bởi MOFCOM nêu trên trở nên nghiêm trọng hơn khi mà
thực tế là trong suốt POI, không có bất kỳ nhà xuất khẩu máy quét tiêu tốn
nhiều năng lượng nào từ Liên minh châu Âu tới Trung Quốc.
Ban Hội thẩm tôn trọng cáo buộc của Liên minh châu Âu đối với ván đề phân
tích ảnh hưởng giá cả do MOFCOM tiến hành, với cơ sở là MOFCOM không
thể đảm bảo là những giá cả nó đang so sánh với tư cách là một phần của phân
tích ảnh hưởng giá cả là thực sự đáng kể. Đặc biệt, Ban Hội thẩm kết luận là
những phân tích của MOFCOM về giá cả bị đàn áp và giảm thiểu là trái với
Điều 3.1 và 3.2 bởi nó không được dựa trên một sự xem xét khách quan các
chứng cứ xác thực.
Cáo buộc của Liên minh châu Âu liên quan tới kết quả tìm hiểu của MOFCOM
về tình trạng của ngành công nghiệp trong nước.
Liên minh châu Âu cho rằng kết quả tìm hiểu của MOFCOM về thiệt hại không
dựa trên chứng cứ xác thực, rằng việc ước tính thiệt hại của MOFCOM không
bao hàm sự đánh giá tất cả các yếu tố kinh tế phù hợp, và rằng phân tích thiệt
hại của MOFCOM bỏ qua tình trạng tích cực của ngành công nghiệp nội địa.
Liên minh châu Âu cho rằng MOFCOM thay vì thế, xây dựng kết luận về thiệt
hại thực tế dựa trên số lượng giới hạn các nhân tố tiêu cực, bỏ qua sự phát triển
và tương tác một cách tổng quan giữa các yếu tố thuận lọi và bất lợi. Liên minh
châu Âu kết luận là, Trung Quốc vi phạm Điều 3.1 và 3.4 Hiệp định ADA.
Ban Hội thẩm bác bỏ cáo buộc của Liên minh châu Âu cho rằng MOFCOM
không dựa trên các chứng cứ xác thực để đưa ra phán quyết, với cơ sở là Liên
minh châu Âu không đưa ra được chứng cứ thích hợp để chứng minh. Tuy

nhiên, Ban Hội thẩm kết luận là Trung Quốc vi phạm điều 3.1 và Điều 3.4 bởi
vì MOFCOM đã không xem xét các yếu tố kinh tế thích hợp, đặc biệt là, “độ
lớn của biên độ phá giá”. Thêm vào đó, Ban Hội thẩm cũng thấy là việc xem xét
của MOFCOM về tình trạng ngành công nghiệp thiếu tính khách quan, và
không hợp lý, thích hợp. Cuối cùng, trên cơ sở đối chiếu việc tìm hiểu của Ban
Hội thẩm đối với các Điều 3.1 và 3.2 trong Hiệp định ADA, Ban Hội thẩm thực
thi phán quyết liên quan tới việc liệu hành vi của MOFCOM có trái với Điều
3.4 do không cân nhắc những khác biệt giữa loại máy quét tiêu tốn ít năng
lượng và loại máy quét tiêu tốn nhiều năng lượng.
Cáo buộc của Liên minh châu Âu liên quan tới phân tích của MOFCOM về
quan hệ nhân quả
Liên minh châu Âu cho rằng MOFCOM quy tình trạng thiệt hại của ngành công
nghiệp nội địa cho các đối tượng nhập khẩu đựa trên cơ sở là những phân tích
ảnh hưởng và phân tích ảnh hưởng giá cả không chính xác. Ngoài ra, Liên minh
châu Âu cho rằng phân tích không quy ra của MOFCOM là trái với Điều 3.1 và
3.5 Hiệp định ADA bởi MOFCOM đã coi nhẹ nguyên nhân thực tế của bất kỳ
tình trạng bất lợi nào của ngành công nghiệp nội địa.
Ban Hội thẩm kết luận là việc làm của MOFCOM trái với Điều 3.1 và 3.5 do đã
không cân nhắc sự khác nhau giữa các sản phẩm dưới giác độ phân tích ảnh
hưởng giá cả và do đã không đưa ra lời giải thích phù hợp và hợp lí liên quan
tới việc giá cả của các mặt hàng bán phá giá đã ảnh hưởng như thế nào tới sự
đàn áp giá cả đối với ngành công nghiệp nội địa, đặc biệt là trong năm 2008.
Ban Hội thẩm thực thi phán quyết liên quan tới phân tích của MOFCOM về ảnh
hưởng của các đối tượng nhập khẩu. Cuối cùng, Ban Hội thẩm kết luận là
MOFCOM đã không xem xét các “nhân tố thực tế”cũng như các chứng cứ liên
quan tới các nhân tố khác mà nó đã xem xét rõ ràng trong phân tích không quy
vào.
Cáo buộc của Liên minh châu Âu liên quan tới những tóm tắt công khai
Liên minh châu Âu không thừa nhận hai khóa cạnh của việc xử lý những tóm tắt
công khai của MOFCOM. Thứ nhất, Liên minh châu Âu tìm thấy một số lượng
các ví dụ mà trong đó MOFCOM bị cáo buộc là đã chấp nhận những tóm tắt
công khai cung cấp bởi Nuctech vốn không phù hợp để cho phép một cách hiểu
hợp lí nội dung của những thông tin được đệ trình bí mật, trái với hai câu đầu
tiên của Điều 6.5.1 Hiệp định ADA. Thứ hai, Liên minh châu Âu cho rằng
MOFCOM cho phép Cục An ninh Công không phải đề trình bất kỳ một tóm tắt
công khai nào về thông tin bí mật, dù cho điều kiện áp dụng cơ chế “các trường
hợp ngoại lệ” được quy định tại dòng thứ ba và thứ tư Điều 6.5.1 không được

đáp ứng. Liên minh châu Âu cũng theo đuổi cáo buộc phụ thuộc theo quy định
tại các Điều 6.2 và 6.4 Hiệp định ADA.
Đối với hầu hết các vấn đề, Ban Hội thẩm tổn trọng các cáo buộc của Liên minh
châu Âu cho rằng những tóm tắt công khai cung cấp bởi Nuctech là không phù
hợp, trái với câu đầu tiên của Điều 6.5.1. Ban Hội thảm cũng tán đồng ý kiến
của Liên minh châu Âu cho rằng MOFCOM đã dẫn chiếu không chính xác
trường hợp ngoại lệ quy định tại Điều 6.5.1 do không yêu cầu Nuctech cung cấp
bản tuyên bố lí do tại sao những thông tin bí mật xác đáng không thể được tổng
kết. Ban Hội thẩm thực thi phán quyết đối với các cáo buộc phụ thuộc của Liên
minh châu Âu theo các Điều 6.2 và 6.4 Hiệp định ADA.
Cáo buộc của Liên minh châu Âu liên quan tới việc tiết lộ các thông tin cần
thiết
Liên minh châu Âu cho rằng MOFCOM đã không cung cấp những thông tin cần
thiết cho các bên liên quan, trái với Điều 6.9 Hiệp định ADA. Liên minh châu
Âu cũng theo đuổi các cáo buộc phụ thuộc theo quy định tại Điều 6.2 và Điều
6.4.
Đối với hầu hết các cáo buộc, Ban Hội thẩm tôn trọng ý kiến của Liên minh
châu Âu theo Điều 6.9. Làm như vậy, Ban Hội thẩm được hướng dẫn bởi những
phát hiện của cơ quan phúc thẩm Trung Quốc – GOES, đã được lưu hành trong
quá trình tố tụng của Ban Hội thẩm. Ban Hội thẩm thực thi phán quyết liên quan
tới một khía cạnh của cáo buộc theo Điều 6.9, và liên quan tới cáo buộc phụ
thuộc theo các Điều 6.2 và 6.4 Hiệp định ADA.
Cáo buộc của Liên minh châu Âu liên quan tới nội dung thông báo chung
MOFCOM ban hành
Liên minh châu Âu cho rằng Trung Quốc vi phạm Điều 12.2.2 Hiệp định ADA
bởi những thiếu xót cáo buộc trong nội dung thông báo chung của MOFCOM
về phán quyết khẳng định nhằm đặt ra nghĩa vụ thuế chống bán phá giá cuối
cùng. Liên minh châu Âu có hai dạng cáo buộc theo Điều 12.2.2. Thứ nhất, theo
câu đầu tiên của Điều 12.2.2, Liên minh châu Âu cho rằng MOFCOM đã không
kèm trong thông báo chung những thông tin phù hợp về thực tế và pháp luật để
dẫn tới việc áp dụng các biện pháp cuối cùng. Thứ hai, theo như câu thứ hau của
Điều 12.2.2, Liên minh châu Âu cho rằng MOFCOM đã không kèm trong thông
báo chung.lí do cho việc bác bỏ những tranh luận xác đáng của Smiths trong
suốt giai đoạn điều tra.

Ban Hội thẩm tán động với những cáo buộc của Liên minh châu Âu căn cứ theo
câu thứ nhất và câu thứ hai của Điều 12.2.2 này, nhưng bác bỏ những khía cạnh
khác của cáo buộc sau đó.
Nguyên đơn:

Thái Lan

Bị đơn:

Hoa Kỳ

Các bên thứ ba:

Braxin; Chi lê; Trung Quốc; EU; Ấn Độ; Hàn Quốc;
Nhật Bản; Mexico; Việt Nam

Các hiệp định liên quan Hiệp định ADA (Điều VI của GATT 1994): Điều 1,
(được đưa ra trong yêu cầu 3.1, 3.2, 3.3, 3.4, 3.5, 5.8, 7.1, 7.2, 7.4,7.5, 2, 9.1, 9.2,
tham vấn)
9.3, 2.1, 18.1, 2.4, 2.4.2
GATT 1994: Điều X:3(a), VI:2, I:1, II, II:1, III,VI,
XI:1, XIII:1, XX
Ngày nhận được yêu cầu 24/04/2006
tham vấn
Ngày lưu hành Báo cáo của 29/01/2008
Ban Hội thẩm
Ngày lưu hành Báo cáo của 16/07/2008
Cơ quan Phúc thẩm
Tại cuộc họp ngày 24/04/2013, DSB chấp nhận báo cáo của Ban Hội thẩm.

4.Giải quyết tranh chấp số DS343
Hoa Kỳ - Các biện pháp chống bán phá giá đối với tôm nhập khẩu từ Thái
Lan
Bản tóm tắt dưới đây được cập nhật đến ngày 24/02/2010
Tham vấn
Ngày 24/04/2006, Thái Lan yêu cầu tham vấn với Hoa Kỳ liên quan đến các
biện pháp chống bán phá giá mà Hoa Kỳ áp dụng đối với tôm nước ấm đông

lạnh (frozen warmwater shrimp) nhập khẩu từ Thái Lan. Cụ thể, Thái Lan cho
rằng:
việc Hoa Kỳ áp dụng phương pháp Zeroing (quy về 0 các biên độ phá giá
âm) trong các kết luận sơ bộ, kết luận cuối cùng và sửa đổi kết luận cuối cùng
dẫn đến các kết quả biên độ phá giá mà sau đó là thuế chống bán phá giá cao
một cách giả tạo đối với tôm nước ấm đông lạnh của Thái Lan là vi phạm các
Điều:
Điều 1, 2.1, 2.4, 2.4.2, 3.1, 3.2, 3.3, 3.4, 3.5, 5.8, 9.2 và 9.3 của Hiệp
định ADA, và
• Điều II, III, VI:1 và VI:2 của GATT 1994
Việc Hoa Kỳ áp dụng yêu cầu kỹ quỹ liên tục đối với tôm nước ấm đông
lạnh của Thái Lan có thể vi phạm các Điều I:1, II, III, XI:1 và XIII:1 của GATT
1994 và không phù hợp với Điều XX(d) của GATT 1994.


Ấn Độ (ngày 01/05/2006), Nhật Bản (ngày 02/05/2010), Braxin (ngày
05/05/2006) và Trung Quốc (ngày 08/05/2006) yêu cầu tham gia vào cuộc tham
vấn với tư cách các bên thứ ba và đều được Hoa Kỳ chấp thuận.
Giai đoạn Hội thẩm
Ngày 15/09/2006, Thái Lan yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm giải quyết tranh
chấp vụ việc này. Tại cuộc họp ngày 28/09/2006, DSB trì hoãn việc thành lập
Ban Hội thẩm. Tuy nhiên Ban Hội thẩm đã được thành lập sau đó tại cuộc họp
của DSB ngày 26/10/2006.
Braxin, Chi lê, Trung Quốc, EC, Ấn Độ, Nhật bản, Hàn Quốc, Mexico và sau
đó là Việt Nam yêu cầu tham gia vào vụ kiện với tư cách các bên thứ ba.
Ngày 19/01/2007, do hai bên không thể thống nhất được về thành phần của Ban
Hội thẩm, Thái Lan đã yêu cầu Tổng Giám đốc WTO chỉ định thành viên cho
Ban Hội thẩm. Ngày 26/01/2007, thành phần của Ban Hội thẩm đã được xác
định.
Ngày 27/07/2007, Chủ tịch Ban Hội thẩm thông báo với DSB rằng họ không thể
hoàn thành công việc trong vòng 6 tháng kể từ khi thành lập theo như quy định
do bản chất và phạm vi của vụ việc.
Đến ngày 29/02/2008, Ban Hội thẩm hoàn thành Báo cáo và gửi tới tất cả các
thành viên WTO. Trong đó, Ban Hội thẩm:
ủng hộ các khiếu nại của Thái Lan rằng việc Hoa Kỳ áp dụng yêu cầu kỹ
quỹ liên tục (EBR) đối với tôm nước ấm đông lạnh của Thái Lan là vi phạm
Điều 18.1 của Hiệp định ADA và Ghi chú của nó;