Tải bản đầy đủ
Kết quả thực hiện các cam kết của Việt Nam với WTO

Kết quả thực hiện các cam kết của Việt Nam với WTO

Tải bản đầy đủ

đẳng, thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư
trong nước và nước ngoài sản xuất kinh doanh. Việt Nam đã ban
hành và cập nhật định kì rất nhiều văn bản pháp quy để thực
hiện cắt giảm thuế quan về hàng hóa theo lộ trình đã cam kết.
Theo đúng cam kết với WTO từ 11/1/2007 Việt Nam đã cắt giảm trên
1800 dòng thuế, chiếm 17% biểu thuế, mức cắt giảm bình quân 44% so với mức
hiện hành. Hầu hết các mặt hàng giảm thuế lần này đều đang có mức thuế suất
cao từ 30% trở lên và là hàng tiêu dùng nên người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi
rất nhiều từ việc cắt giảm thuế.
Năm 2008, vẫn theo lộ trình thực thi cam kết, Bộ tài chính đã ban hành
quyết định số 106/2007/QĐ-BTC ngày 20/12/2007 tiếp tục giảm khoảng 1700
dòng thuế với mức giảm từ 1%-6% trong đó có ít nhất 26 ngành hàng nằm trong
diện được cắt giảm thuế.
Biểu khung thuế được xây dựng nhằm tiếp tục thực hiện mục tiêu hạn chế
xuất khẩu những sản phẩm thô, khuyến khích sử dụng nguyên liệu để tái chế và
về cơ bản vẫn giữ nguyên khung thuế suất với hầu hết các nhóm hàng chịu
thuê.
Trong số những mặt hàng trên có những mặt hàng có tính chất tương tự
nhau, hiện hành đang cam kết mức thuế suất như nhau nhưng có mức thuế suất
cam kết WTO cao thấp khác nhau.
Để tránh gian lận thương mại, Bộ Tài Chính đã quy định mức thuế suất
bằng nhau cho các mặt hàng này, mức thuế suất được lấy theo mức cam kết thấp
nhất. Vì vậy sẽ có những mặt hàng có mức thuế suất giảm nhanh hơn mức cam
kết, tuy nhiên mức giảm hơn không lớn, chủ yếu là từ 1% - 2%. Đồng thời để
đối phó tình trạng nhập siêu Bộ Tài chính đã nâng thuế một số mặt hàng trong
phạm vi mức trần cho phép.

16

2009 chúng ta đã giảm khoảng 2000 dòng thuế của hơn 20 nhóm hàng với
mức tối đa khoảng 2%. Các mặt hàng như rượu, bia, thuốc lá, cà phê, dầu thực
vật, thịt chế biến, rau quả tươi, kim loại, hóa chất,… vẫn tiếp tục nằm trong
danh sách giảm thuế trong năm nay.
Theo bộ tài chính, bình quân các ngành có mức bảo hộ thực tế ở mức
khoảng 30% nhưng việc cắt giảm thuế theo cam kết của WTO đã giảm mức bảo
hộ chung xuống còn 15%.
Đối với thuế xuất khẩu, Việt Nam đã cắt giảm thuế xuất khẩu với mặt
hàng phế liệu kim loại đen và màu theo cam kết vào đầu 2008. Nhóm hàng phế
liệu kim loại đen (sắt thép) đã được giảm từ mức 30% - 40% xuống còn 1030%. Nhóm hàng phế liệu kim loại màu giảm từ 40 - 50% xuống còn 10 - 40%.
Việc điều chỉnh giảm này hoàn toàn phù hợp với cam kết.
Để thực hiện cam kết về thuế tiêu thụ đặc biệt với rượu và bia, Quốc Hội
đã ban hành luật thuế tiêu thụ đặc biệt mới, có hiệu lực thi hành từ đầu 2010.
Trong biểu thuế mới, rượu bia đã được thay đổi theo đúng cách phân loại và
đúng lộ trình cam kết.
Đến hết ngày 31/12/2009, rượu được chia làm 3 mức dưới 20 độ, từ 20
đến 40 độ với 3 mức thuế suất lần lượt là 20%, 30%, 65%. Tuy nhiên đầu 2010,
theo đúng nguyên tắc của wto, ta đã chia rượu thành 2 loại độ cồn dưới 20 độ và
trên 20 độ với mức thuế suất tương ứng là 25% và 45%. Đặc biệt đến 2013 thì
thuế tiêu thụ đặc biệt với rượu trên 20 độ được áp dụng mức 50%.
Luật cũng quy định mức thuế áp dụng chung cho các loại bia là 45% từ
2010 đến hết 2012. Từ 2013, thuế suất tăng lên 50% đảm bảo không vi pham
cam kết WTO. Nhìn chung, mức thuế suất nhập khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt
đều đã được điều chỉnh phù hợp với cam kết WTO.
Đến năm 2013, mức thuế suất bình quân của cả biểu thuế chỉ còn khoảng
10,32%. Như vậy, ngoài một số ít các mặt hàng nhạy cảm như ô tô có lộ trình
17

đến năm 2019, vì vậy có thể nói rằng về cơ bản hiện nay Việt Nam đã hoàn
thành lộ trình cắt giảm theo WTO.
3.1.2. Tình hình thực thi cam kết phi thuế quan
Việt Nam chỉ áp dụng hạn ngạch thuế quan với 4 mặt hàng : đường, trứng,
muối, thuốc lá. Để thực hiện cam kết, hàng năm chính phủ đều ban hành lượng
hạn ngạch thuế quan đối với hàng nhập khẩu vào Việt Nam.
Bảng 3.1: Lượng hạn ngạch thuế quan nhập khẩu năm 2009
St
t
1
2
3
4

Tên hàng
Trứng gà
Trứng vịt
Loại khác
Thuốc lá nguyên liệu
Muối
Đường tinh luyện, đường thô

Đơn vị

Số lượng



34.000

Tấn
45.000
Tấn
250.000
Tấn
61.000
Nguồn: thông tư 16/2008/TT BTC

Bên cạnh đó, Việt Nam còn cho phép áp dụng hạn ngạch thuế quan nhập
khẩu 2008, 2009 đối với 2 nhóm hàng có xuất xứ Campuchia với thuế suất nhập
khẩu ưu đãi đặc biệt 0% gồm:
Năm 2008: 150000 tấn thóc, gạo và 3000 tấn lá thuốc lá khô.
Năm 2009: 200000 tấn thóc, gạo và 3000 tấn lá thuốc lá khô.
Ngoài ra Bộ công thương cũng ban hành thông tư hướng dẫn việ nhập
khẩu theo hạn ngạch thuế quan 2009 vơi thuế suất 0% đối với 3 nhóm hàng xuất
xứ từ Lào gồm thóc và gạo, lá và cọng thuốc lá, phụ kiện mô tô.
Để thực hiện cam kết ngay từ khi gia nhập chính phủ đã cãi bỏ toàn bộ
các biện pháp hạn chế định lượng đối với hàng nhập khẩu, trong đó có việc thay
thế lệnh cấm nhập khẩu thuốc điếu và xì gà được thay bằng việc quy định đầu
mối nhập khẩu. Bộ Thương Mại đã cho phép nhập khẩu xe máy phân phối lớn
vào Việt Nam.
18

3.2. Về mở cửa thị trường dịch vụ
Trong Biểu cam kết dịch vụ của mình, Việt Nam đã đưa ra
cam kết mở cửa đối với 11 ngành dịch vụ: Dịch vụ kinh doanh;
Dịch vụ thông tin; Dịch vụ xây dựng và các dịch vụ liên quan;
Dịch vụ phân phối; Dịch vụ giáo dục; Dịch vụ môi trường; Dịch
vụ tài chính; Dịch vụ y tế và xã hội; Dịch vụ du lịch; Dịch vụ văn
hóa, giải trí và thể thao; Dịch vụ vận tải.
Việt Nam đã có những cam kết cụ thể với WTO nhằm thúc
đẩy tự do hóa lĩnh vực dịch vụ ngân hàng. Cùng với một số lĩnh
vực dịch vụ như dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ xây dựng..., dịch vụ
ngân hàng được đánh giá là một trong những lĩnh vực có cam
kết mở cửa nhanh nhất. Năm 2006, một năm trước khi Việt Nam
trở thành thành viên chính thức của WTO, chỉ có 39 chi nhánh
ngân hàng nước ngoài và ngân hàng thương mại liên doanh
hoạt động trên thị trường Việt Nam. Sau 5 năm gia nhập WTO,
tính đến hết năm 2011, đã có tới 59 ngân hàng thương mại
nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được cấp phép
hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.
Việt Nam đã thực hiện đẩy đủ và bám sát các cam kết
WTO đối với các ngành/phân ngành dịch vụ cam kết mở cửa
nhanh nhất, không cần thời ký quá độ. Cần lưu ý rằng các phân
ngành dịch vụ này tuy có cam kết mức độ mở cửa nhanh nhất
nhưng trên thực tế, ngoại trừ phân ngành dịch vụ ngân hàng,
các cam kết mở cửa với các ngành/phân ngành dịch vụ chỉ
tương đương với các quy định hiện hành. Vì vậy các cam kết mở
cửa ở mức độ cao với các ngành/phân ngành trên có thể sẽ
không gây ra những biến động lớn với thị trường dịch vụ nội địa.
19

Việt Nam cũng đã thực hiện đầy đủ và bám sát cam kết
WTO đối với các ngành/phân ngành dịch vụ cam kết mở cửa
nhanh nhưng cần thời kỳ quá độ. Việt Nam đã thực hiện tốt các
cam kết liên quan đến MFN, minh bạch hóa. Tuy nhiên, Việt
Nam cần rà soát thêm các quy định và văn bản pháp lý liên
quan đến Mode 4 và Mode 3, đặc biệt là các quy định về văn
phòng đại diện, chi nhánh để có những sửa đổi cho phù hợp với
các cam kết WTO.
Ví dụ về phân phối- logistics
Theo cam kết, VN thực hiện tự do hóa dịch vụ logistics
trong WTO và hội nhập ASEAN về logistics theo lộ trình 4 bước
đến năm 2014 bao gồm: (1) Tự do hóa thương mại, dỡ bỏ rào
cản thuế quan; (2) Tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong lĩnh vực
logistics; (3) Nâng cao năng lực quản lý logistics; (4) Phát triển
nguồn nhân lực.
Theo đúng lộ trình cam kết của VN khi gia nhập WTO, từ
ngày 11/01/2014, các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài được
phép thành lập doanh nghiệp 100% vốn để cung ứng các dịch
vụ kho bãi và dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa. Vào năm 2014 đã có
trên 60 hãng tàu biển, 51 hãng hàng không quốc tế nổi tiếng đang khai thác các
tuyến vận tải kết nối VN với toàn thế giới.
3.3. Về đầu tư
Việt Nam tuân thủ đầy đủ các quy định của Hiệp định về
các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS) ngay
sau khi gia nhập, theo đó, ta sẽ bãi bỏ các biện pháp ưu đãi
nhằm khuyến khích đầu tư nước ngoài như mức thuế nhập khẩu

20

ưu đãi và các quy định về tỷ lệ nội địa hóa, tỷ lệ xuất khẩu bắt
buộc v.v. .
3.4. Về một số hiệp định khác
3.3.1. Hiệp định Sở hữu trí tuệ
Việt Nam thực hiện đầy đủ các quy định của Hiệp định Sở
hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS) ngay từ khi ngày
gia nhập.
Sau khi Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành, một loạt các
văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ 2005
về cơ bản đã được ban hành trong các năm 2006, 2007 và Quý
đầu năm 2008, kể cả ở cấp Chính phủ và cấp Bộ.
Ngoài yêu cầu về mặt luật pháp, TRIPS còn đặt ra yêu cầu
về mặt thực tiễn thi hành pháp luật.

21

Ngoài việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, các thành viên
WTO phải bảo đảm thực tiễn thi hành pháp luật của mình cũng
đáp ứng các yêu cầu tối thiểu hay tuân thủ các nghĩa vụ bắt
buộc theo TRIPS. Với điều kiện hoạt động hiện nay của các cơ quan, đội ngũ
cán bộ thực thi, Việt Nam chưa thể bảo đảm đạt tiêu chuẩn “hiệu quả” như yêu
cầu của TRIPS.
Tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả tác phẩm gốc khi bị
xâm hại có quyền yêu cầu tổ chức cá nhân có hành vi xâm
phạm chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai
và bồi thường thiệt hại; yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền xử lý hành vi xâm phạm hoặc khởi kiện ra toà án có thẩm
quyền hoặc thông qua trọng tài để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình. Người xâm phạm có thể bị phạt đến 200 triệu
đồng hoặc bị phạt tù đến 3 năm.
Nhãn hiệu được bảo hộ theo Bộ Luật Dân sự 2005 và Luật
SHTT năm 2005. Tất cả các đăng ký nhãn hiệu đều được công
bố trên Công báo Sở hữu công nghiệp. Việt Nam đã xác nhận
rằng trong quá trình soạn thảo Luật SHTT, Việt Nam đã tham
khảo các quy định của Khuyến nghị chung liên quan đến các
quy định về bảo hộ nhãn hiệu nổi tiếng do Hội đồng Liên hiệp
Pari và Đại hội đồng của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO) thông
qua vào tháng 9/1999. Hệ thống bảo hộ nhãn hiệu của Việt
Nam hoàn toàn phù hợp với Hiệp định TRIPS và khoản 1 Điều 6
bis Công ước Pari.
3.3.2. Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng
Gia nhập WTO, Việt Nam đã kiên trì thuyết phục các thành
viên WTO cho Việt Nam hưởng ngoại lệ của Hiệp định về Trợ cấp
và Biện pháp đối kháng (SCM) nhưng do đàm phán gia nhập là
22

đàm phán một chiều, cuối cùng Việt Nam đã cam kết và thực
hiện ngay lập tức khi gia nhập WTO như sau:
1. Bãi bỏ trợ cấp thay thế nhập khẩu (thuế ưu đãi theo tỷ lệ nội
địa hoá) và các loại trợ cấp xuất khẩu dưới hình thức cấp
phát trực tiếp từ ngân sách nhà nước.
2. Bãi bỏ trợ cấp thưởng theo mức vượt kim ngạch xuất khẩu.
Mức thưởng cho các mặt hàng không nhiều, chỉ từ 300 đồng
tới 1.000 đồng/1USD tiền vượt kim ngạch xuất khẩu. Hiện
nay khi nước ta đã gia nhập WTO và tham gia Hiệp định về
trợ cấp và các biện pháp đối kháng SCM thì việc trợ cấp này
là trái quy định của WTO, và chúng ta đang tiến hành loại bỏ.
3. Với trợ cấp xuất khẩu “gián tiếp” (chủ yếu dưới dạng ưu đãi
đầu tư dành cho sản xuất hàng xuất khẩu), sẽ không cấp
thêm kể từ khi gia nhập WTO. Tuy nhiên, với các dự án đầu tư
trong và ngoài nước đã được hưởng ưu đãi loại này từ trước
ngày gia nhập WTO, ta được một thời gian quá độ là năm
năm để bãi bỏ hoàn toàn.
4. Với ngành dệt - may, tất cả các loại trợ cấp bị cấm theo Hiệp
định SCM, dù là trực tiếp hay gián tiếp, đều được bãi bỏ ngay
từ khi Việt Nam gia nhập WTO.
5. Theo Hiệp định SCM, tín dụng xuất khẩu của Quỹ hỗ trợ phát
triển là một hình thức trợ cấp xuất khẩu bị cấm. Để giải quyết
việc này, này 19/5/2006, Quỹ hỗ trợ phát triển đã được tổ
chức lại và chính thức trở thành Ngân hàng Phát triển Việt
Nam với 1 hội sở chính và 61 chi nhánh tại các địa phương.
Cũng theo tinh thần đó, Chính phủ đã loại Quyết định số
55/2001/QĐ-TTg về việc hỗ trợ tăng tốc cho ngành dệt may.

23

3.3.3. Hiệp định về chống bán phá giá
Việt Nam vẫn chưa có quy định hướng dẫn cụ thể về
việc xác định và cách thức áp dụng thuế chống bán phá giá,
trợ cấp và tự vệ theo quy định của WTO. Năm 2004 Việt Nam
đã có pháp lệnh về Chống bán phá giá.
Hiện tại trong WTO chỉ có Việt Nam và Trung Quốc phải
chấp nhận một số cam kết liên quan đến địa vị nền kinh tế
phi thị trường. Trung Quốc không những phải chấp nhận
điều khoản về các biện pháp đối kháng và chống bán phá
giá mà còn bị áp dụng cơ chế tự vệ và giám sát đặc biệt,
nhưng Việt Nam chỉ phải chấp nhận các biện pháp đối kháng
và chống bán phá giá.
Đoạn 254 trong Báo cáo về việc gia nhập WTO của Ban
Công tác nêu rõ: “Một số thành viên ghi nhận Việt Nam đã
liên tục đẩy mạnh quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trường. Những thành viên này cũng ghi nhận rằng sẽ gặp
những khó khăn đặc thù (special difficulties) trong việc xác
định chi phí và giá cả hàng hóa xuất xứ từ Việt Nam trong
các cuộc điều tra chống bán phá giá hay áp dụng các biện
pháp đối kháng. Những thành viên này cho rằng trong trường
hợp đó nước nhập khẩu có thể nhận định rằng việc sử dụng
chi phí và giá cả tại Việt Nam có thể sẽ không hợp lý”.
Nếu một số thành viên đã nhận định như vậy thì Việt
Nam sẽ phải chấp nhận quy chế đối với nền kinh tế phi thị
trường khi áp dụng Hiệp định Chống bán phá giá, Hiệp định
về Trợ cấp và Các biện pháp đối kháng tương tự như Trung
Quốc đã cam kết trong Nghị định thư gia nhập của mình.
Tuy nhiên, Việt Nam thuận lợi hơn Trung Quốc vì các quy
24

định đối với nền kinh tế phi thị trường cho Trung Quốc sẽ
kéo dài trong 15 năm (đối với Việt Nam là 12 năm). Thời hạn
12 năm sẽ được rút ngắn hơn nếu Việt Nam có thể xây dựng
nền kinh tế thị trường theo những tiêu chí của nước nhập
khẩu và việc áp dụng các điều khoản đặc biệt nói trên cũng
sẽ được chấm dứt. Chúng ta đều thấy Việt Nam đã chịu
nhiều thiệt hại khi bị áp dụng các quy định đối với nền kinh
tế phi thị trường do kim ngạch xuất khẩu sản phẩm cá da
trơn, xe đạp và da giày đã giảm đáng kể do những sản
phẩm này lần lượt bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá.
Việt Nam có thể giảm thiểu thiệt hại từ các biện pháp trừng
phạt này nếu được đưa ra khỏi danh sách các nước có nền
kinh tế phi thị trường trong thời gian sớm nhất.

25

4. Đề xuất một số giải pháp để Việt Nam gia nhập WTO
có hiệu quả
4.3. Về phía Nhà nước
Thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bằng nhiều biện pháp,
chính sách tổng hợp. Tập trung sức phát triển cơ sở hạ tầng
giao thông, năng lượng. Sự yếu kém về cơ sở hạ tầng đã và sẽ
hạn chế thu hút đầu tư làm tăng chi phí sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Cạnh tranh giữa các nước về cơ sở hạ tầng
sẽ là sự cạnh tranh dài hạn, nhất là trong điều kiện các hình
thức ưu đãi trái với quy định của Tổ chức thương mại thế giới sẽ
bị loại bỏ. Vì vậy, phải đặc biệt coi trọng sự phát triển cơ sở hạ
tầng.
Xây dựng, hoàn thiện luật pháp phù hợp với bối cảnh xã
hội và nâng cao hiệu quả, công tác quản trị Nhà nước. Thực thi
tốt những vấn đề hay gặp phải ở Việt Nam về các hiệp định sở
hữu trí tuệ, chống bán phá giá…
Hiện nay, các quy định về các tội xâm phạm quyền sở hữu
trí tuệ vẫn còn các điểm yếu, dẫn đến hiệu quả thực thi còn hạn
chế và chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
một cách đầy đủ. Đây là một trong những bất lợi của Việt Nam
trong tiến trình hội nhập thương mại quốc tế. Tăng cường công
tác giáo dục, tích cực tham gia đấu tranh chống xâm phạm sở
hữu trí tuệ, đưa nội dung giáo dục vào nhà trường, tổ chức các
cuộc thi tìm hiểu pháp luật về sở hữu trí tuệ trong các doanh
nghiệp, cơ quan. Từ đó xây dựng ý thức, trách nhiệm của người
dân trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm.

26