Tải bản đầy đủ
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM KHI THAM GIA TPP

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM KHI THAM GIA TPP

Tải bản đầy đủ

Nguồn: vinanet.com.vn
- Ngành dệt may Việt Nam có thế mạnh trong việc sản xuất các sản phẩm
dệt kim. Đây là chủng loại mà người tiêu dùng Mỹ, EU rất ưa chuộng
- Ngành may mặc được đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại với những máy
cắt, máy ép, là hơi…giảm bớt các công đoạn thủ công.
- Một số thương hiệu được khẳng định trên thị trường trong và ngoài
nước: May 10, May Việt Tiến, Dệt Kim Đồng Xuân, Gấm Thái Tuấn, áo sơ mi
An Phước… Những thương hiệu này không chỉ đứng vững trong thị trường
trong nước mà còn giúp ngành dệt may Việt Nam tạo dựng tên tuổi trên thị
trường nước ngoài
3.2. Điểm yếu
- Nguyên vật liệu ngành vẫn còn phải nhập khẩu và ngành dệt có tốc độ
tăng trưởng chậm hơn ngành may nên ngành may không có sự chủ động trong
sản xuất kinh doanh. Tình trạng này còn làm ảnh hưởng tới các đơn đặt hàng về
thời gian, chất lượng và hiệu quả kinh tế tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm ngành
may còn thấp và hiệu quả kinh tế chưa cao.
11

- Giá lao động rẻ nhưng chất lượng lao động không cao, đặc biệt lao động
có trình độ chuyên môn thấp chiếm 60% nên nâng suất lao động thấp, so với các
nước trong khu vực thì năng suất lao động của ngành dệt may nước ta chỉ bằng
2/3. Lương thấp gây ra tình trạng di chuyển lao động trong cùng ngành hoặc ra
khỏi ngành làm cho việc đào tạo chuyên môn gặp nhiều khó khăn.
- Xuất khẩu hàng may mặc và gia công là chủ yếu chứ không thực hiện
xuất khẩu trực tiếp.
- Tuy ngành dệt may có sự đầu tư lớn nhưng chưa đồng bộ. Có những loại
máy móc thiết bị đã quá lạc hậu nhưng còn tận dụng nên năng suất không cao.
- Chưa xây dựng được thương hiệu riêng cho ngành dệt may của ngành
dệt may của Việt Nam nên chưa có hệ thống các kênh phân phối rộng khắp, kể
cả thị trường nội địa và nước ngoài mà chỉ có các cửa hàng của công ty tự lập để
tiêu thụ sản phẩm. Do vậy việc tiêu thụ còn yếu.
- Khả năng tự thiết kế còn yếu, phần lớn là làm theo mẫu mã đặt hàng của
phía nước ngoài để xuất khẩu
- Chưa tập trung nghiên cứu và đầu tư nhu cầu thị trường nên nhiều đoạn
khúc thị trường còn bỏ trống tạo điều kiện cho nhiều sản phẩm ngoại thâm nhập
sâu vào thị trường trong nước như các sản phẩm: chăn, ga, gối..hầu hết là sản
phẩm của Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Xingapo.
- Chi phí cho nhân công rẻ nhưng chi phí bình quân / 1 đơn vị sản phẩm
vẫn cao. Do đó giá của chúng ta vẫn cao hơn so với Ấn Độ, Trung Quốc,
Indonesia khoảng 30% -40%. Đồng thời hệ thống tiêu chuẩn chất lượng chưa
được chuẩn hóa trong ngành nên mỗi công ty trong ngành có định mức về tiêu
chuẩn khác nhau mà không thống nhất trong toàn ngành.
3.3. Cơ hội

12

- Khi tham gia TPP, nhiều hàng rào thuế quan sẽ được miễn giảm hoặc
xóa bỏ, từ đó tạo cơ hội cho ngành dệt may tăng cường xuất khẩu ra các nước
thành viên TPP.
Trong khối đàm phán TPP có 2 thị trường quan trọng là Hoa Kì và Nhật
Bản. Thị trường Hoa Kì hiện chiếm 43% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may của
Việt Nam, Nhật Bản chiếm 11% và các nước TPP khác chiếm 4%. Như vậy,
khối các nước TPP đang chiếm gần 60% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may cảu
Việt Nam. Riêng năm 2012 đã có gần 11 tỷ USD xuất khẩu dệt may của Việt
Nam vào các nước TPP. Vì vậy, khôi các nước TPP là thị trường quan trọng
nhất của ngành dệt may Việt Nam trong hiện tại và tương lai.
Khi gia nhập TPP, mức thuế suất xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam
vào thị trường Mỹ sẽ giảm xuống chỉ còn một nửa, thậm chí bằng 0% thay vì
mức 17% như hiện nay. Điều này sẽ thúc đẩy tăng kim ngạch xuất khẩu đồng
thời nhu cầu về nguyên liệu (bông, sợi) cũng sẽ tăng tương ứng.

Nguồn: doanhnhansaigon.vn
- Tạo việc làm cho người lao động, nâng cao NSLĐ: Khi VN tham gia
TPP, cơ hội mở ra thị trường LĐ là rất lớn. Với ngành dệt - may VN nói riêng,
nó không chỉ tạo ra số việc làm nhiều lên cho NLĐ mà còn đòi hỏi chất lượng
LĐ trong ngành cũng phải được nâng cao hơn. Bởi khi đó, những tiêu chuẩn về
13

LĐ, về môi trường làm việc đòi hỏi ở mức độ cao hơn. Không những phải đảm
bảo về tác phong công nghiệp theo yêu cầu của các chủ sử dụng LĐ, đặc biệt là
các chủ DN đến từ các đầu tư nước ngoài, mà NLĐ còn phải đáp ứng được các
quy định do TPP đưa ra cũng như các thông lệ quốc tế phải tuân thủ. NLĐ phải
nâng cao ý thức LĐ, kỷ luật LĐ, nâng cao tay nghề, tự tạo cho mình cơ hội tốt
hơn trong việc lựa chọn việc làm, thậm chí là ngành nghề, vì tất yếu sẽ có sự
dịch chuyển LĐ do có sự cạnh tranh về đãi ngộ, tiền lương và điều kiện LĐ.
- Có chỗ đứng trên thị trường truyền thống, mở ra nhiều cơ hội ở các thị
trường mới mà còn tránh bị lệ thuộc vào thị trường lớn, đặc biệt là Trung Quốc
- Tạo cơ hội tiếp cận vốn, thiết bị, công nghệ sản xuất, kinh nghiệm quản
lý tiên tiến, lao động có kỹ năng từ các quốc gia phát triển
Tham gia TPP chắc chắn thúc đẩy đầu tư của các nước vào Việt Nam.
Tính đến nay, đầu tư trực tiếp của các nước TPP vào Việt Nam đạt hơn 100 tỷ
USD vốn đăng ký của những dự án còn hiệu lực, chiếm gần 40% tổng lượng vốn
FDI của Việt Nam. Dòng vốn từ nhiều nước thành viên TPP có trình độ phát
triển cao có thể mang lại những lợi ích lan toả đáng kể về công nghệ và kỹ năng
quản lý, hay các lĩnh vực dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn. Mức tăng đầu tư sẽ
giúp thúc đẩy sự hình thành vốn cố định và tạo cơ hội cho Việt Nam khai thác
các lợi thế tiềm năng về nông nghiệp. Các công ty dệt may nội địa và nước
ngoài sẽ đẩy mạnh đầu tư tại Việt Nam để tận dụng cơ hội hưởng thuế xuất khẩu
thấp vào TPP. Như vậy, ngành dệt may Việt Nam không chỉ nhận ưu đãi từ thị
trường Hoa Kỳ, mà còn đạt giá trị gia tăng lớn hơn trong chuỗi cung ứng. Gia
nhập TPP sẽ mở ra cơ hội thu hút đầu tư, hợp tác với các nước nhằm hiện đại
hoá sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tham gia sâu hơn vào chuỗi sản
xuất toàn cầu.
3.4. Thách thức
- Ngành dệt may Việt Nam sẽ phải đối mặt với các hàng rào phi thuế khi
xuất khẩu sang thị trường quốc tế. Các thị trường lớn vận dụng khá nhiều các
14

rào cản về kỹ thuật, vệ sinh, an toàn, môi trường, trách nhiệm xã hội, chống trợ
giá nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam còn có quy
mô nhỏ và vừa, không đủ tiềm lực để theo đuổi các vụ kiện chống bán phá giá,
dẫn đến thua thiệt trong các tranh chấp thương mại. Các rào cản thương mại trên
đã được vận dụng ngày càng linh hoạt và tinh vi hơn, đặc biệt là trong bối cảnh
khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.
- Các DN cũng sẽ phải đối mặt với nguy cơ từ việc mở cửa thị trường
trong nước cho các nước thành viên TPP vào Việt Nam.Nhiều doanh nghiệp
nước ngoài dịch chuyển nhà máy từ nhiều quốc gia khác trong khu vực châu Á
sang Việt Nam gây ra áp lực cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước. Điều
này đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất nội địa phải nâng cao chất lượng sản
phẩm để cạnh tranh với các đối thủ khác
- Môi trường cạnh tranh quốc tế gay gắt. Tuy nhiên, năng lực quản lý yếu
kém, thiếu hụt lao động, năng suất lao động thấp, thiếu vốn đầu tư và công nghệ
… cũng là một trong những yếu tố kìm hãm việc tăng năng lực sản suất cũng
như xuất khẩu của doanh nghiệp VN trong khuôn khổ TPP.
- Gặp khó khăn trong việc đáp ứng quy định về nguyên liệu của TPP do
công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, nguyên phụ liệu chủ yếu là nhập khẩu, tỷ lệ
gia công cao.
Hiện nay, cả nước có khoảng 2.000 doanh nghiệp dệt may, nhưng để hội
nhập TPP, trực tiếp thiết kế mẫu, sản xuất luôn sản phẩm, bán thẳng cho đối tác
nước ngoài thì dường như rất ít doanh nghiệp có thể làm được. Bởi lâu nay
ngành dệt may chủ yếu là làm gia công và bị phụ thuộc từ nguồn nguyên liệu
đến thiết kế từ đối tác. Còn khi đã vào TPP, muốn thành công, các doanh nghiệp
phải đẩy mạnh làm FOB, tức là chủ động nguồn nguyên liệu sản xuất và bán
thành phẩm, hạn chế gia công. Tuy nhiên, khó nhất hiện nay là Việt Nam chưa
có khả năng cung cấp đủ nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất hàng xuất
khẩu và nội địa.
15

Lâu nay do thiếu nguyên liệu nên các doanh nghiệp phải nhập khẩu hoặc
mua trôi nổi trên thị trường mới đủ phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu
dùng trong nước. Khi vào TPP, các sản phẩm dệt may của Việt Nam phải có tỷ
lệ nhất định từ nguyên liệu sợi, nhuộm của Việt Nam hoặc từ các nước tham gia
hiệp định. Nếu không đảm bảo thì phải nhập khẩu từ các nước khác, kể cả nước
không nằm trong hiệp định, giá thành sẽ rất cao. Như vậy sản phẩm sẽ bị đánh
thuế cao chứ không đc hưởng mức thuế 0% nữa. Đây là điểm khó khăn mà
doanh nghiệp Việt Nam đang gặp phải.
- Không chỉ gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu mà các khâu liên quan
đến khâu dệt, nhuộm vải cũng đang gặp khó khăn khi mà khả năng về vốn, quỹ
đất phục vụ cho việc xây dựng đầu tư nhà máy đảm bảo về chất lượng sản phẩm
và môi trường đang vượt ngoài sức của nhiều doanh nghiệp.
- Thủ tục hành chính hải quan …, theo yêu cầu TPP, còn rườm rà và lớn
hơn cả phần thuế được cắt giảm trong TPP.
Mô hình SWOT được tổng kết trong bảng dưới đây:
Strengths: Điểm mạnh

Weaknesses: Điểm yếu

- Giá công nhân của ngành may mặc - Nguyên vật liệu ngành vẫn còn phải
của Việt Nam rẻ nhất so với các nước nhập khẩu, do đó chi phí bình quân/ 1
trong khu vực và thế giới  giá thành đơn vị sản phẩm vẫn cao.
sản phẩm mang tính cạnh tranh.

- Chất lượng lao động không cao.

- Người lao động cần cù chăm chỉ và - Xuất khẩu hàng may mặc và gia công
khéo léo sản phẩm đẹp.

là chủ yếu chứ không thực hiện xuất

- Ngành may mặc Việt Nam có tốc độ khẩu trực tiếp.
tăng trưởng cao.

- Sự đầu tư chưa đồng bộ.

- Có thế mạnh trong việc sản xuất các - Kênh phân phối và tiêu thụ còn hạn
sản phẩm dệt kim.

chế.

- Được đầu tư máy móc, thiết bị hiện - Khả năng tiếp thị hạn chế, đặc biệt
đại.

trong đột phá thị trường mới.
16

- Một số thương hiệu được khẳng - Khả năng tự thiết kế còn yếu.
định trên thị trường trong và ngoài - Chưa đầu tư nghiên cứu nhu cầu thị
nước.

trường. Chủng loại sản phẩm chưa đa

Opportunities: Cơ hội

dạng.
Threats: Thách thức

- Tăng cường xuất khẩu ra các nước - Phải đối mặt với các hàng rào phi
thành viên TPP

thuế khi xuất khẩu sang thị trường

- Tạo việc làm cho người lao động, quốc tế.
nâng cao NSLĐ.

- Nguy cơ từ việc mở cửa thị trường

- Mở ra nhiều cơ hội ở các thị trường trong nước cho các nước thành viên
mới.

TPP vào Việt Nam.

- Tạo cơ hội tiếp cận vốn, thiết bị, - Môi trường cạnh tranh quốc tế gay
công nghệ sản xuất, kinh nghiệm quản gắt.
lý tiên tiến, lao động có kỹ năng từ - Gặp khó khăn trong việc đáp ứng quy
các quốc gia phát triển.

định về nguyên liệu của TPP.
- Vốn, quỹ đất phục vụ cho việc xây
dựng đầu tư nhà máy đảm bảo về chất
lượng sản phẩm và môi trường đang
vượt ngoài sức của nhiều doanh
nghiệp.
- Thủ tục hành chính hải quan,…
rườm rà.

17

CHƯƠNG 4
GIẢI PHÁP CHO NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM KHI THAM GIA TPP
4.1. Giải pháp từ Nhà nước
- Nhà nước cần hỗ trợ hơn nữa đối với ngành sản xuất trồng cây công
nghiệp như bông, đay, gai,… nhằm đáp ứng nhu cầu tốt hơn nhu cầu nguyên
phụ liệu ngành dệt may trong nước
- Giảm thuế nhập khẩu các nguyên phụ liệu dệt may để giảm bớt gánh
nặng cho các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may nước ta. Bên cạnh đó, Nhà nước
cũng cần đẩy nhanh quá trình mở rộng, phát triển Hải quan điện từ nhằm giảm
bớt các thủ tục rườm rà khi doanh nghiệp đi khai báo hàng dệt may xuất khẩu,
nguyên phụ liệu nhập khẩu.
- Tăng cường hơn nữa các hoạt động liên quan tới vấn đề giáo dục đào
tạo nhân lực cho ngành dệt may. Hiên nay, phần lớn các công nhân dệt may
nước ta vẫn còn kém về tay nghề, năng suất lao động chưa cao. Phần lớn lao
động ngànhdệt may mới tuyểndụng đều trình độ mới chỉ hết cấp 3 và chưa có
kinh nghiệm sử dụng máy may công nghiệp.
- Nhà nước cần quan tâm tới việc hỗ trợ doanh nghiệp về vốn để có thể
đầu tư, nâng cấp, thay mới các máy móc, trang thiết bị phục vụ ngành dệt may.
Bởi lẽ, máy móc thiết bị ở nhiều doanh nghiệp dệt may nước ta vẫn còn lạc hậu
hơn rất nhiều so với các nước khác trong khu vực. Để tăng năng suất, nâng cao
chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh thì doanh nghiệp dệt may cần
phải có một lượng tiền lớn để có thể đầu tư, mua sắm máy móc thiết bị Số vốn
này khó có thể huy động được tức thời nếu như Nhà nước không hỗ trợ về chính
sách tín dụng với doanh nghiệp.
- Phát triển hơn nữa Hiệp hội doanh nghiệp dệt may Việt Nam để có thể
cung cấp cho doanh nghiệp những thông tin cần thiết về thị trường xuất khẩu.
thông qua việc nắm rõ các đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội doanh nghiệp có
thể lựa chọn khách hàng mục tiêu, và đưa ra các chiến lược thâm nhập thị
trường thích hợp.
- Nhà nước cũng cần đưa ra nhiều biện pháp khuyến khích đầu tư trong
nước và nước ngoài vào dệt may hơn nữa. Đó có thể là những ưu đãi về tiền
thuế sử dụng đất vào việc mở nhà máy xuất khẩu hàng hóa dệt may, đối xử
côngbằng giữa doanh nghiệp dệt may trong nước và doanh nghiệp dệt may có
18

vốn đầu tư nước ngoài, tăng lượng kiều hối được phép chuyển ra nước ngoài đối
với các doanh nghiệp FDI, giảm bớt thủ tục hành chính khi thành lập doanh
nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu hàng dệt may, vào phát triển hơn hệ thống cơ
sở hạ tầng trong nước.
4.2. Giải pháp đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may
- Các doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ thị trường xuất khẩu
- Cần phải nắm chắc thông tin thị trường xuất khẩu một cách thường
xuyên, tranh thủ nguồn tin từ các tổ chức xúc tiến thương mại.
- Các doanh nghiệp cần phải đa dạng hóa sản phẩm, khai thác điểm mạnh,
tính độc đáo của sản phẩm của mình. Do sở thích của người tiêu dùng là rất khác
nhau, lại liên tục thay đổi,vì vậy việc đa dạng hóa các chủng loại sản phẩm và
thường xuyên cải tiến mẫu mã là hết sức cẩn thiết để đảm bảo sự tồn tại trên thị
trường nơi có quá nhiều luồng hàng hóa khác nhau.
- Tổ chức các lớp đào tạo để nâng cao trình độ người lao động
- Có chiến lược đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu trong nước có chất lượng
cao để giảm chi phí sản xuất sản phẩm dệt may nhằm nâng cao tính cạnh tranh
về giá trên thị trường
- Đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của
doanh nghiệp và các sản phẩm dệt may Việt Nam.
- Mở rộng và tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp, các thành phần
kinh tế để nâng cao khả năng thích ứng với môi trường cạnh tranh quốc tế.
- Các doanh nghiệp nên xây dựng hệ thống chi nhận, lưu trữ hồ sơ sản
xuất, xuất nhập khẩu đầy đủ, khoa học, hiện đại nhằm tạo cơ sở sẵn sàng cho
việc ứng phó với khả năng phải tham gia các vụ kiện tranh thương mại.
- Chủ động áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng thép tiêu chuẩn quốc
tế và đáp ứng yêu cầu bảo vệ sức khỏe môi trường.
- Tích cực sử dụng vải sản xuất trong nước để tăng tỷ lệ nội địa của sản
phẩm xuất khẩu, đủ điều kiện được cấp C/O để hưởng chế độ ưu đãi thuế quan
phổ cập (GSP)
- Xây dựng trang Web của từng doanh nghiệp để thúc đẩy xúc tiến thương
mại sang các thị trường xuất khẩu.

19

KẾT LUẬN
Nghiên cứu mặt hàng dệt may Việt Nam trong thời kỳ hội nhập em thấy
còn nhiều vấn đề bất cập đòi hỏi các nhà quản lý và các doanh nghiệp của ta cần
phải rút kinh nghiệm để đảm bảo tính ổn định của thị trường. Những vấn đề hiện
nay là: Vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh
hàng dệt may. Vấn đề tham gia vào các kênh tiêu thụ hàng dệt may tại thị trường
thế giới. Trước những khó khăn thách thức như vậy thì làm thế nào cho hàng dệt
may Việt Nam có thể cạnh tranh với các nước trong khu vực là vấn đề bức xúc
của các doanh nghiệp Việt Nam. Do vậy, để làm được việc này cần có sự phối
hợp đồng bộ và nhịp nhàng giữa các Bộ, ngành có liên quan với các doanh
nghiệp. Vì thế, đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sẽ là bước đi quan
trọng của ngành dệt may Việt Nam trong tiến trình phát triển và hội nhập với thế
giới, đưa Việt Nam trở thành cường quốc xuất khẩu hàng dệt may, góp phần
thực hiện thành công cuộc “ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của đất nước.

20

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.

Giáo trình Kinh tế quốc tế - Tác giả: GS.TS. Đỗ Đức Bình, TS.

Ngô Thị Tuyết Mai – NXB Đại học kinh tế quốc dân.
2.
Số liệu từ Tổng cục thống kê:
https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=629&ItemID=14256
3.
http://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/hiep-dinh-TPP//11866/bantieng-viet-hiep-dinh-tpp-chuong-4-det-may
4.
http://www.doanhnhansaigon.vn/thoi-su-trong-nuoc/tpp-tac-dongra-sao-den-nganh-det-may-viet-nam/1092198/
5.
http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/tpp-voi-lao-dong-nganh-det-may-vietnam-do-la-co-hoi-chu-khong-phai-qua-ngot-20151016140942397.chn
6.
http://www.phongphucorp.com/news/det-may-huong-loi-nhieunhat-tu-tpp.html

21