Tải bản đầy đủ
TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM

TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ

hàng dệt may của thị trường Mỹ tăng 4,8% so với năm ngoái, ước đạt trên 112
tỷ đô la Mỹ. Theo đại diện Vinatex, trong khi xuất khẩu dệt may của Trung
Quốc, Ấn Độ, Bangladesh sang thị trường Mỹ tăng thấp, thậm chí giảm (Trung
Quốc), nhưng xuất khẩu dệt may của Việt Nam qua thị trường này tăng cao với
gần 13% đạt hơn 11.3 tỷ đô la Mỹ.
Kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may đang đứng vị trí thứ hai trong
tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Những tháng đầu năm 2016, kim ngạch xuất
khẩu của ngành dệt may đạt 4.149 triệu USD tăng 6,3% so với cùng kì năm
2015.

3

Bảng 1: Kim ngạch xuất khẩu 10 mặt hàng lớn nhất của Việt Nam
từ 01/01/2016 đến 15/03/2016 và so sánh với cùng kì năm 2015
Tên mặt hàng hóa chủ yếu

KNXK từ 01/01

So với cùng kỳ năm 2015

đến 15/03/2016

Kim ngạch +/-

Kim ngạch

(triệu USD)

(triệu USD)

+/- (%)

Tổng trị giá

30.735

1.646

5,7

Trong đó: DN FDI

21.625

1.859

9,4

Điện thoại và linh kiện

6.427

982

18,0

Hàng dệt may
Máy vi tính, sản phẩm điện

4.149

246

6,3

3.008

117

4,1

2.287

186

8,8

1.650

233

16,4

Gỗ và sản phẩm gỗ

1.217

22

1,8

PTVT và phụ tùng

1.149

50

4,6

Hàng thủy sản

1.118

76

7,3

Cà phê

658

35

5,6

Túi xách, ví, vali, mũ, ô dù

585

53

10,0

tử và linh kiện
Giầy dép các loại
Máy móc, thiết bị, dụng cụ
phụ tùng khác

(Nguồn tổng cục thống kê)
Theo thống kê, năm 2014, đã có gần 20 dự án FDI mới đầu tư vào lĩnh
vực dệt may, trong đó phần lớn là các DN đến từ Trung Quốc, Đài Loan và
Hong Kong. Riêng đối với các DN Trung Quốc, quyết định chuyển hướng đầu
tư này được coi là một bước đi khôn ngoan, bởi điều này sẽ giúp các DN nước
này có được giấy chứng nhận hàng hóa "Made in Vietnam", từ đó được hưởng
mức thuế suất cực kỳ ưu đãi thay vì mức thuế suất 37% khi vào thị trường Mỹ
mà hàng "Made in China" hiện đang phải gánh chịu.
Điều này đồng nghĩa với việc sẽ khiến các DN trong nước gặp "nguy
hiểm" bởi các sản phẩm có thương hiệu từ Việt Nam "thật" sẽ không thể cạnh
tranh về giá so với các DN Trung Quốc khi xuất khẩu.
4

Như vậy, ngành dệt may là một trong ngành hàng xuất khẩu chủ lực của
việt nam hiện nay. Thực tế TPP tác động đến ngành này là sự tác động ảnh
hưởng 2 chiều, cả cơ hội và thách thức.

5

CHƯƠNG 2
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA TPP ẢNH HƯỞNG
ĐẾN NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
2.1. Khái quát về hiệp định TPP và quá trình đàm phán của Việt Nam.
2.1.1. Khái quát về hiệp định TPP
Hiệp định TPP (tên tiếng Anh là Trans-Pacific Strategic Economic
Partnership Agreement) là Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương,
là một hiệp định, thỏa thuận thương mại tự do giữa 12 quốc gia với mục đích hội
nhập nền kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. 12 thành viên của TPP
bao gồm: Úc, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Canada, Peru,
Singapore, Vietnam, Mỹ và Nhật Bản. Do lúc đầu chỉ có 4 nước tham gia nên
còn được gọi là P4. Hiệp định này khởi nguồn là Hiệp định Đối tác kinh tế chặt
chẽ hơn do nguyên thủ 3 nước Chilê, New Zealand và Singapore (P3) phát động
đàm phán nhân dịp Hội nghị Cấp cao APEC 2002 tổ chức tại Mexico. Tháng 4
năm 2005, Brunei xin gia nhập với tư cách thành viên sáng lập trước khi vòng
đàm phán cuối cùng kết thúc, biến P3 thành P4.
Đây là Hiệp định mang tính "mở". Tuy không phải là chương trình hợp
tác trong khuôn khổ APEC (Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình
Dương) nhưng các thành viên APEC đều có thể gia nhập nếu quan tâm. Singapo
đã nhiều lần thể hiện mong muốn mở rộng TPP và sử dụng TPP như một công
cụ để hiện thực hóa ý tưởng về Khu vực Mậu dịch Tự do Châu Á-Thái Bình
Dương của APEC (FTAAP).
Tháng 9 năm 2008, Mỹ tuyên bố tham gia TPP. Tiếp theo đó, tháng 11
năm 2008, Úc và Peru cũng tuyên bố tham gia TPP. Tại buổi họp báo công bố
việc tham gia của Úc và Peru, đại diện các bên khẳng định sẽ đàm phán để thiết
lập một khuôn khổ mới cho TPP. Kể từ đó, các vòng đàm phán TPP được lên
lịch và diễn ra cho đến nay.
Từ năm 2006, qua nhiều kênh, Singapore đã rất tích cực mời Việt Nam tham gia
TPP - P4. Trước những cân nhắc cả về khía cạnh kinh tế và chính trị, Việt Nam
chưa nhận lời mời này của Singapore.
6

Tuy nhiên, với việc Mỹ quyết định tham gia TPP, và trước khi tuyên bố
tham gia TPP, Mỹ đã mời Việt Nam cùng tham gia Hiệp định này, Việt Nam đã
cân nhắc lại việc tham gia hay không tham gia TPP.
Đầu năm 2009, Việt Nam quyết định tham gia Hiệp định TPP với tư cách
thành viên liên kết. Tháng 11 năm 2010, sau khi tham gia 3 phiên đàm phán TPP
với tư cách này, Việt Nam đã chính thức tham gia đàm phán TPP. Trước đó,
tháng 10 năm 2010, Malaysia cũng chính thức tham gia vào TPP, nâng tổng số
nước tham gia đàm phán lên thành 9 nước.
2.2.2. Quá trình đàm phán của Việt Nam
Hiệp định TPP hiện nay được kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương
mại toàn diện, có chất lượng cao và là khuôn mẫu cho các Hiệp định thế kỷ 21.
Phạm vi của Hiệp định sẽ bao gồm hầu hết các lĩnh vực có liên quan tới thương
mại, trong đó có nhiều lĩnh vực mới như môi trường, lao động, các vấn đề xuyên
suốt liên quan đến thương mại như chuỗi cung ứng, doanh nghiệp vừa và nhỏ
v.v…
Cho tới nay, Hiệp định TPP đã trải qua 7 vòng đàm phán, lần lượt được tổ
chức tại các quốc gia thành viên là Úc (vào tháng 3 năm 2010), Hoa Kỳ (tháng 6
năm 2010), Brunei (tháng 10 năm 2010), New Zeland (tháng 12 năm 2010),
Chile (tháng 2 năm 2011), Singapore (tháng 3 năm 2011) và Việt Nam (tháng 6
năm 2011).
Về nội dung đàm phán, hiện hơn 20 nhóm đàm phán đã bước vào giai
đoạn thảo luận thực chất trên cơ sở các đề xuất và văn bản thể hiện quan điểm
của mỗi quốc gia thành viên trong từng lĩnh vực cụ thể thuộc phạm vi của Hiệp
định. Một số nhóm đã đạt được những tiến bộ nhất định trong việc thu hẹp
khoảng cách về quan điểm trong các lĩnh vực như mở cửa thị trường đối với
hàng công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đầu tư,v.v...
Ngoài các nội dung đàm phán mang tính truyền thống trong các FTA trên,
các quốc gia thành viên còn tập trung thảo luận nhiều đề xuất và biện pháp để
thúc đẩy hợp tác trong các vấn đề liên quan tới hoạch định chính sách, tạo thuận
lợi cho doanh nghiệp, phát triển chuỗi cung cấp và sản xuất giữa các nước thành
7

viên, nâng cao sự tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào quá trình lưu
thông hàng hóa giữa các quốc gia thành viên TPP, cũng như thúc đẩy sự phát
triển chung của các quốc gia thành viên.
Với mục tiêu duy trì tính “mở” của Hiệp định TPP, tức là có cơ chế kết nạp
thêm thành viên mới trong tương lai và các bên có thể tiếp tục đàm phán những
vấn đề phát sinh sau khi Hiệp định có hiệu lực, các nhóm đàm phán cũng đang nỗ
lực đưa ra nhiều đề xuất và biện pháp liên quan để bảo đảm Hiệp định sẽ mang lại
lợi ích nhiều nhất cho tất cả những nước đang và sẽ tham gia Hiệp định.
Nét mới trong đàm phán Hiệp định TPP so với các FTA truyền thống
trước đây là sự tham gia của các đối tượng liên quan như doanh nghiệp, hiệp
hội, tổ chức xã hội. Tại mỗi phiên đàm phán, các đối tượng trên luôn được tạo
cơ hội để trao đổi thông tin cũng như bày tỏ quan điểm và nguyện vọng đối với
các nội dung đàm phán của Hiệp định thông qua các buổi hội thảo và diễn đàn
dành cho các đối tượng liên quan được tổ chức bên lề các phiên đàm phán.
2.2. Các quy định của TPP đối với ngành dệt may Việt Nam
Cũng giống như với mọi hiệp định thương mại tự do (FTA) khác, chương
Dệt may cũng có những quy định về phòng vệ thương mại để một nước thành
viên bảo vệ lợi ích quốc gia khi ngành dệt may của họ bị đe dọa nghiêm trọng
bởi hàng nhập khẩu từ một nước thành viên khác. Trong những trường hợp như
vậy thì nước thành viên bị thiệt hại có quyền khôi phục hoặc áp thuế suất nhập
khẩu cao hơn để ngăn chặn hàng nhập khẩu. Hiển nhiên là điều khoản này có lợi
nhất cho những nước thành viên nhập khẩu ròng lớn các sản phẩm dệt may, chủ
yếu là các nước phát triển như Mỹ và Nhật, đồng thời là một mối đe dọa tiềm
tàng cho những nước thành viên xuất khẩu ròng chủ chốt như Việt Nam.
• Quy tắc xuất xứ
TPP có những yêu cầu rất chặt chẽ về nguồn gốc xuất xứ sản phẩm - điều
mà các nhà xuất khẩu dệt may Việt Nam vẫn chưa dành sự quan tâm thích đáng.
TPP đưa ra các quy định để bảo vệ các nhà sản xuất dệt may của Mỹ bằng cách
áp thêm quy định về nguồn gốc. Đại diện Ngân hàng Thế giới (WB) lo ngại, Việt
Nam là nhà xuất khẩu lớn thứ 3 vào thị trường Mỹ nhưng hiện đang phụ thuộc
quá nhiều vào nguồn nguyên liệu đầu vào nhập khẩu. Có tới 60 - 90% sản phẩm
dệt ở Việt Nam đến từ các thị trường khác, chủ yếu từ Trung Quốc và Đài Loan.
8

Khi tham gia TPP, Việt Nam bắt buộc phải chủ động nguồn nguyên liệu
đầu vào ở trong nước để tăng giá trị gia tăng. Về mặt kỹ thuật, các nhà sản xuất
dệt may Việt Nam cũng không thể nhập nguyên liệu từ Trung Quốc mãi nếu
muốn hưởng lợi từ mức thuế ưu đãi theo quy định của TPP. Chỉ tính nửa đầu
năm 2015, xuất khẩu dệt may sang thị trường các nước tham gia Hiệp định Đối
tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã chiếm gần 70% trong tổng giá trị xuất
khẩu toàn ngành, khi gia nhập TPP, thị phần này còn tăng gấp đôi.
Những điểm mới của chương Dệt may là có thêm quy định về “Danh sách
nguồn cung thiếu hụt” tạo ra sự linh hoạt cần thiết trong việc đáp ứng quy tắc
xuất xứ đồng thời vẫn thúc đẩy chuỗi sản xuất và cung ứng nội khối, và những
quy định về phòng chống gian lận thương mại dựa trên những bài học rút ra từ
các FTA khác, tạo điều kiện cho hải quan các nước ngăn chặn hữu hiệu các hành
động trục lợi phi pháp trong ngành dệt may
• Quy định về thuế
Khi gia nhập TPP, mức thuế suất xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam
vào thị trường Mỹ sẽ giảm xuống chỉ còn một nửa, thậm chí bằng 0% thay vì
mức 17% như hiện nay. Tuy nhiên, một sản phẩm dệt may muốn được hưởng ưu
đãi thuế quan theo TPP thì tất cả các nguyên liệu, bắt đầu từ sợi trở đi phải được
sản xuất tại các nước TPP. Điều này sẽ thúc đẩy tăng kim ngạch xuất khẩu đồng
thời nhu cầu về nguyên liệu (bông, sợi) cũng sẽ tăng tương ứng.
Ngoài ra, Chương Dệt may cũng nhấn mạnh đến chuyện phối hợp hải
quan giữa các nước thành viên và các nước thành viên được thực thi những hành
động thích ứng để phòng chống gian lận trong thương mại dệt may như buôn
lậu, trốn thuế, hay gian lận về xuất xứ... nhằm hưởng lợi bất chính từ ưu đãi thuế
quan TPP. Ngoài việc trao quyền cho hải quan của nước nhập khẩu làm việc với
hải quan các nước thành viên đối tác, những hành động thích ứng có thể là yêu
cầu nước thành viên đối tác cung cấp thông tin khi hải quan nước nhập khẩu có
bằng chứng gian lận thương mại, và yêu cầu này phải được đáp ứng bởi nước
đối tác, hoặc cũng có thể là cử nhân viên hải quan đến tận cơ sở của nhà xuất
khẩu hoặc nhà sản xuất tại nước thành viên xuất khẩu để kiểm tra xem có đúng
là hàng hóa đó là hàng hóa TPP để hưởng thuế suất ưu đãi hay không...
9

CHƯƠNG 3
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CỦA NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM KHI
THAM GIA TPP
3.1. Điểm mạnh
- Giá công nhân của ngành may mặc của Việt Nam rẻ nhất so với các
nước trong khu vực và thế giới. Tiền lương công nhân trong ngành hiện nay chỉ
cao gấp 2 lần tiền lương tối thiểu. Giá nhân công rẻ-> chi phí thấp-> giá thành
sản phẩm rẻ-> tạo lợi thế cạnh tranh trong sản phẩm may mặc.
- Người lao động cần cù chăm chỉ và khéo léo nên có những sản phẩm
yêu cầu tay nghề thủ công rất độc đáo đặc sắc và có sự khác biệt, từ đó tạo lợi
thế cạnh tranh cũng như vậy giúp Việt Nam có những thuận lợi lớn trong xuất
khẩu và trong việc tạo dựng các làng nghề để phát triển ngành.
- Ngành may mặc Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao, số lượng các công
ty liên tục tăng qua các năm và quy mô của công ty ngành càng lớn cả về mọi
nguồn lực. Giá trị xuất khẩu 260 triệu USD/tháng và tăng ở các thị trường chính
là Mỹ, EU, Nhật.

Nguồn: Tổng cục thống kê
10

Nguồn: vinanet.com.vn
- Ngành dệt may Việt Nam có thế mạnh trong việc sản xuất các sản phẩm
dệt kim. Đây là chủng loại mà người tiêu dùng Mỹ, EU rất ưa chuộng
- Ngành may mặc được đầu tư máy móc, thiết bị hiện đại với những máy
cắt, máy ép, là hơi…giảm bớt các công đoạn thủ công.
- Một số thương hiệu được khẳng định trên thị trường trong và ngoài
nước: May 10, May Việt Tiến, Dệt Kim Đồng Xuân, Gấm Thái Tuấn, áo sơ mi
An Phước… Những thương hiệu này không chỉ đứng vững trong thị trường
trong nước mà còn giúp ngành dệt may Việt Nam tạo dựng tên tuổi trên thị
trường nước ngoài
3.2. Điểm yếu
- Nguyên vật liệu ngành vẫn còn phải nhập khẩu và ngành dệt có tốc độ
tăng trưởng chậm hơn ngành may nên ngành may không có sự chủ động trong
sản xuất kinh doanh. Tình trạng này còn làm ảnh hưởng tới các đơn đặt hàng về
thời gian, chất lượng và hiệu quả kinh tế tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm ngành
may còn thấp và hiệu quả kinh tế chưa cao.
11