Tải bản đầy đủ
4 Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến việc làm và đời sống người lao động

4 Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế đến việc làm và đời sống người lao động

Tải bản đầy đủ

làng nghề sản xuất, gia công hàng xuất khẩu giảm do cầu trên thị trường thế giới
giảm, giá giảm.
Khủng hoảng kinh tế thế giới, cầu giảm dẫn đến FDI và đầu tư ở các làng nghề, một
số doanh nghiệp tư nhân giảm, điều này tác động tiêu cực đến cầu về lao động.
Thứ ba là về tiêu dùng: Cầu về lao động giảm, lao động trong nước bị mất
việc làm, thiếu việc làm dẫn đến mất hoặc bị giảm nguồn thu nhập. Lao động Việt
Nam ở nước ngoài phải về nước; kiều hối gửi về có xu hướng giảm dẫn đến giảm
xu hướng tiêu dùng trong nước.
Xu hướng giảm nguồn thu dẫn đến giảm tiêu dùng, tác động đến đầu tư dẫn
đến giảm cầu lao động.
Như vậy, có thể thấy, khủng hoảng và suy thoái kinh tế thếgiới đã ảnh hưởng
toàn diện đến cầu về lao động, nhất là trong điều kiện kinh tế Việt Nam thời gian
qua hướng theo mô hình tăng trưởng dựa trên gia tăng qui mô vốn đầu tư và sử
dụng nhiều lao động làm gia công xuất khẩu nhằm tận dụng lợi thế lao động giá rẻ.
Phần lớn hàng gia công được xuất khẩu sang các thị trường lớn như Mỹ, Tây Âu và
Nhật Bản. Vì vậy, khi kinh tế thế giới nói chung và kinh tế các nước này nói riêng
rơi vào khủng hoảng, nền kinh tế Việt Nam bị chao đảo và ảnh hưởng tiêu cực đến
thị trường lao động, việc làm và thu nhập của người lao động trong doanh nghiệp,
trong làng nghề và ở khu vực nông thôn nói chung.
Đối với lao động trong doanh nghiệp: Do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế
toàn cầu, năm 2008 có 24,8% và năm 2009 có 38,2% số doanh nghiệp bị giảm
doanh thu. Trong bối cảnh này, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải thu hẹp
sản xuất, nhiều người lao động bị mất việc hoặc thiếu việc làm. Năm 2008, có
22,3% số doanh nghiệp phải giảm qui mô lao động, con số này năm 2009 là 24,8%.
Đồng thời, cũng có nhiều doanh nghiệp vẫn duy trì và phát triển sản xuất, có
nhu cầu thu hút lao động vào làm việc. Năm 2008, có 29,8% số doanh nghiệp tăng
qui mô lao động, năm 2009 con số này là 28,4%. Tuy nhiên, số doanh nghiệp tăng
qui mô lao động có xu hướng giảm dần trong bối cảnh khủng hoảng. Trong số
doanh nghiệp tăng qui mô lao động, năm 2008 có 12,9% doanh nghiệp tăng qui mô

lao động trên 20%, năm 2009 tỷ lệ này giảm xuống còn 5,5%. Do mất việc làm và
khan hiếm lao động xảy ra cùng lúc, trong số lao động bị mất việc làm thì 80% tìm
lại được việc làm nên qui mô gia tăng người thất nghiệp ở Việt Nam không thực sự
lớn.

3. Kết luận
Qua việc phân tích nội dung cơ bản của lý thuyết chung về lao động, việc
làm và thất nghiệp của Keynes, cho thấy: Với sự tăng thêm của việc làm sẽ tăng thu
nhập, do đó tăng tiêu dùng. Song do khuynh hướng tiêu dùng giới hạn nên tiêu dùng
sẽ tăng chậm hơn tăng thu nhập, phần còn lại dành cho tiết kiệm, và trở trêu thay
tiết kiệm lại có xu hướng tăng nhanh. Điều này trái ngược với quan điểm của kinh
tế học cổ điển nhưng lại được thực tế chứng minh một cách hùng hồn đó là quan
điểm đúng đắn, chính điều này đã làm tiêu dùng giảm tương đối dần đến giảm cầu,
hệ quả không mong muốn là ảnh hưởng đến giảm sản xuất và giảm việc làm.
Để cải thiện tình hình của nền kinh tế đang suy giảm như vậy thì cần tăng
cầu có hiệu quả, nhưng điều này đồng nghĩa với việc phải tăng chi phí đầu tư, tăng
tiêu dùng sản xuất. Song do hiệu quả giới hạn của tư bản giảm sút (với lãi suất
tương đối ổn định) nên giới hạn đầu tư chật hẹp không kích thích được doanh nhân
đầu tư.
Do đó để khắc phục tình trạng tiêu dùng giảm sút, hạn chế đầu tư của nền
kinh tế thì Keynes đã mạnh mẽ đề xuất: nhà nước phải có một chương trình đầu tư
quy mô lớn để thu hút số tư bản nhàn rỗi và lao động thất nghiệp. Số người này khi
có thu nhập sẽ tham gia vào thị trường sản phẩm làm cầu hàng hóa tăng do đó hiệu

quả giới hạn của tư bản tăng. Khi đó doanh nhân sẽ tăng đầu tư và sản xuất tăng
(theo mô hình số nhân). Khủng hoảng và thất nghiệp sẽ được ngăn chặn.
Nước Anh là nơi học thuyết Keynes xuất hiện, nhưng nước áp dụng thành
công đầu tiên trớ trêu lại là Mỹ, sự hồi phục kinh tế thần kỳ của Mỹ nhờ áp dụng
học thuyết Keynes trước và sau chiến tranh thế giới thứ 2 đã làm học thuyết này có
sức ảnh hưởng mạnh mẽ trên toàn thế giới từ đó. Hơn 80 năm qua, nền kinh tế thế
giới hiện đại đã phức tạp hơn nhiều và kinh tế các quốc gia cũng phụ thuộc nhau
nhiều hơn, học thuyết Keynes đã được những nhà kinh tế học hiện đại kế thừa và
tiếp tục phát triển phù hợp với các điều kiện của nền kinh tế hiện đại nhưng các giá
trị cốt lõi vẫn không thay đổi đã cho thấy tính đúng đắn và một tầm nhìn tuyệt vời
của Keynes.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. John Maynard Keynes (1994), Lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền
tệ, NXB Giáo dục, Hà Nội.
2. Đinh Văn Thông (2009), Học thuyết Keynes và những vấn đề kích cầu nhằm
chống suy giảm kinh tế ở nước ta, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN.
3. Phan Huy Đường (2011), Lý thuyết tăng trưởng kinh tế của Keynes và vài suy
nghĩ về tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
4. Phạm Đức Chính (2005), Lý thuyết về thị trường lao động, việc làm và thất
nghiệp trong các hpojc thuyết kinh tế.
5. Đinh Văn Thông (2011), Vai trò nhà nước trong học thuyết kinh tế của John
Maynard Keynes.