Tải bản đầy đủ
2 Khái quát lý thuyết thất nghiệp

2 Khái quát lý thuyết thất nghiệp

Tải bản đầy đủ

Vấn đề thất nghiệp đã được nhiều nước, nhiều tổ chức, nhiều nhà khoa học bàn
luận. Song cũng còn nhiều ý kiến khác nhau nhất là về thất nghiệp. Luật Bảo hiểm
thất nghiệp cộng hoà liên bang Đức định nghĩa: “Thất nghiệp là người lao động tạm
thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn”.
Ở Pháp người ta cho rằng, thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiện làm
việc, đang đi tìm việc làm.
Thái Lan, định nghĩa về thất nghiệp khẳng định: “Thất nghiệp là không có việc
làm, muốn làm việc, có năng lực làm việc”.
Trung Quốc định nghĩa về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là người trong
tuổi lao động (dân thành thị) có khả năng lao động, chưa có việc làm, đang đi tìm
việc làm, đăng kí tại cơ quan giải quyết việc làm”.
Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số
người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm
ở mức lương thịnh hành”.
Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ tám năm 1954 tại Giơnevơ đưa ra
định nghĩa: “Thất nghiệp là người đã qua một độ tuổi xác định mà trong một ngành
hoặc một tuần xác định, thuộc những loại sau đây:
– Người lao động có thể đi làm nhưng hết hạn hợp đồng hoặc bị tạm ngừng hợp
đồng, đang không có việc làm và đang tìm việc làm.
– Người lao động có thể đi làm trong một thời gian xác định và đang tìm việc
làm có lương mà trước đó chưa hề có việc làm, hoặc vị trí hành nghề cuối cùng
trước đó không phải là người làm công ăn lương (ví dụ người sử dụng lao động
chẳng hạn) hoặc đã thôi việc.
– Người không có việc làm và có thể đi làm ngay và đã có sự chuẩn bị cuối
cùng để làm một công việc mới vào một ngày nhất định sau một thời kỳ đã được
xác định.
– Người phải nghỉ việc tạm thời hoặc không thời hạn mà không có lương.
Các định nghĩa tuy có khác nhau về mức độ, giới hạn (tuổi, thời gian mất việc)
nhưng đều thống nhất người thất nghiệp ít nhất phải có 3 đặc trưng:

Có khả năng lao động.
Đang không có việc làm
Đang đi tìm việc làm.
Ở Việt nam, thất nghiệp là vấn đề mới nảy sinh trong thời kì chuyển đổi nền
kinh tế cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường . Vì vậy, tuy chưa có
văn bản pháp qui về thất nghiệp cũng như các vấn đê có liên quan đến thất nghiệp,
nhưng có nhiều công trình nghiên cứu nhất định.
Những nghiên cứu bước đầu khẳng định thất nghiệp là những người không có
việc làm, đang đi tìm việc và sẵn sàng làm việc.
Định nghĩa thất nghiệp ở Việt nam: “ Thất nghiệp là những người trong độ tuổi
lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm, đang
đi tìm việc làm”.
Bác bỏ những gì các nhà kinh tế cổ điển đã đưa ra từ thời D.Ricardo (cung sẽ
sinh ra cầu), J.Keynes nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng qui mô chung của tập hợp
cầu. Chỉ có cầu mới kích thích tăng khối lượng sản xuất và sự phồn vinh của các
dân tộc. Thiếu hụt hiệu quả của tập hợp cầu sẽ dẫn đến kém tải cưòng độ sản xuất,
nhịp độ tăng trưỏng sản xuất thấp, xuất hiện khủng khoảng và thất nghiệp. Chức
năng quan trọng nhất của nhà nước là tác động vào lượng cầu. Mở rộng dung lượng
cầu, nhà nước sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Theo Keynes, thì ngoài đầu tư ra, khuynh hướng tiêu dùng và việc ấn định lãi
suất cũng ảnh hưởng tới tập hợp cầu. Đầu tiên có thể ảnh hưỏng bằng con đường hệ
thống thuế. Liên quan tới tính ổn định của lãi suất và vai trò của nó nói chung, thì
Keynes nêu ra lý thuyết lãi suất của mình, mà cần phải nghiên cứu riêng. Ông cho
rằng lãi suất cao - là một trong những nguồn gốc quan trọng nhất dẫn đến thất
nghiệp. Gắn với thất nghiệp, Keynes nói về ba hình thức, trong khi đó lý thuyết cố
điển đưa ra chỉ có hai, hơn nữa không thể khác được là: thất nghiệp cấu trúc và thất
nghiệp tự nguyện. Thất nghiệp cấu trúc - hình thức này là kết quả mất việc tạm thòi
khi chuyển từ một xí nghiệp sang xí nghiệp khác. Hình thức tự nguyện gắn với sự
khước từ công việc của chính ngưòi lao động vì lương thấp hoặc là vì những lý do

cá nhân khác. Các nhà kinh tế cổ điển khảo sát sự có mặt của 2 hình thức này được
coi là toàn diện và có nghĩa là việc làm đầy đủ. Keynes xác định hình thức thứ ba là thất nghiệp bắt buộc, khi mà tập hợp cung lao động của những người lao động đã
sẵn sàng làm việc với mức lương hiện hành, sẽ tăng cầu sức lao động.
2.3Các phạm trù cơ bản trong lý thuyết việc làm
2.3.1 Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn
Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn là khuynh hướng cá nhân phân chia phần
thu nhập tăng thêm cho tiêu dùng theo tỷ lệ ngày càng giảm dần. Đây là quy luật
tâm lý của mọi cộng đồng tiêu tiền, nó là nguyên nhân của sự giảm sút tương đối
cầu tiêu dùng dẫn đến sản xuất trì trệ, khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp.
Việc làm tăng thì thu nhập thực tế tăng, do đó tiêu dùng tăng (tâm lý chung)
nhưng tốc độ tăng tiêu dùng chậm vì khuynh hướng tiết kiệm một phần thu nhập
tăng thêm. Do đó cầu giảm tương đối (so với sản xuất), cản trở việc mở rộng đầu tư
của nhà tư bản. Nhà kinh doanh sẽ thua lỗ nếu sử dụng toàn bộ lao động tăng thêm
để thỏa mãn số cầu tiêu dùng tăng (“Khuynh hướng tiêu dùng giới hạn”).
Theo Keynes, khuynh hướng tiêu dùng giới hạn là một tương quan hàm số
giữa thu nhập và chi tiêu cho tiêu dùng rút ra từ thu nhập đó (C):
C = X (R)
- Có 3 nhân tố ảnh hưởng đến khuynh hướng này là:
Thứ nhất, thu nhập (R): thu nhập tăng thì tiêu dùng tăng và ngược lại.
Thứ hai, các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến thu nhập (thay đổi tiền công
danh nghĩa, cho một lao động, lãi suất, thuế khóa,...).
Thứ ba, những nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến khuynh hướng tiêu dùng. Có
thể chia làm 2 nhóm như sau:
Nhóm làm tăng tiết kiệm (lập khoản dự phòng rủi ro, để dành cho tuổi già,
cho việc học tập của con cái và bản thân, xây dựng tài sản,... thậm chí thỏa mãn tính
hà tiện đơn thuần) có thể khái quát thành sự thận trọng, nhìn xa, tính toán, tham
vọng, tự lập, kinh doanh, kiêu hãnh và hà tiện,.. điều này làm giảm tiêu dùng.

Nhóm thứ hai làm giảm tiết kiệm, tăng tiêu dùng (thích hưởng thụ, thiển cận,
hào phóng, phô trương, xa hoa,...).
- Bốn loại động lực là: tiết kiệm kinh doanh (bảo đảm nguồn tài chính để
thực hiện cuộc đầu tư mới mà không mắc nợ); Tiền mặt (bảo đảm nguồn tiền mặt để
đối phó với những bất trắc xảy ra; Cải tiến (bảo đảm tăng thu nhập nhờ hiệu suất)
và động lực thận trọng về tài chính (bảo đảm quỹ dự trữ tài chính).
- Biểu thị khuynh hướng tiêu dùng giới hạn (KHTDGH):
KHTDGH = dC / dR
Trong đó: C là chi tiêu cho tiêu dùng rút ra từ thu nhập;
dC là gia tăng tiêu dùng;
R là Thu nhập;
dR là gia tăng thu nhập.
2.3.2 Lý thuyết mô hình số nhân
Số nhân đầu tư là mối quan hệ giữa gia tăng thu nhập (dR) với gia tăng đầu
tư (dI). Nó xác định sự gia tăng đầu tư sẽ làm gia tăng thu nhập lên bao nhiêu lần (là
hệ số bằng số nói lên mức độ tăng của sản lượng do kết quả của mỗi đơn vị đầu tư).
Cụ thể ta có:
C là chi tiêu cho tiêu dùng rút ra từ thu nhập và dC là gia tăng tiêu dùng
R là Thu nhập và dR là gia tăng thu nhập
I là đầu tư và dI là gia tăng đầu tư
S là tiết kiệm và dS là gia tăng tiết kiệm.
Khi đó ta sẽ có công thức sau:
Q=R=C+I
Từ đó công thức tính sự gia tăng sản lượng do đầu tư thêm là:
dQ = d R = K. (dC + dI)
K=dQ/(dC+dI)
(Q là sản lượng và dQ là sự gia tăng sản lượng, K là số nhân)
Mỗi sự gia tăng đầu tư kéo theo sự gia tăng cầu về tư liệu sản xuất và sức lao
động, kích thích sản xuất phát triển, tăng thu nhập (tăng sản lượng) và đến lượt nó