Tải bản đầy đủ
Phần mềm kế toán

Phần mềm kế toán

Tải bản đầy đủ

Nhân viên phòng kế toán xuất hóa đơn căn cứ trên hợp đồng và cước phí của gói dịch
vụ, chỉ cần có sự phê duyệt của kế toán trưởng là chưa đủ. Cần phải có sự kiểm tra lại hoặc
đối chiếu với một bộ phận khác ví dụ phòng bán hàng đảm bảo hóa đơn xuất đúng.
(Nguồn: Giấy tờ làm việc của KTV)

Biểu 2.5: Mẫu TOC về dịch vụ cuộc gọi từ Quốc tế về Việt Nam
E
Test of controls
Khách hàng: XYZ
Kết thúc năm: 31/12/2015
Nội dung: Dịch vụ cuộc gọi từ Quốc tế về Việt Nam

Thực hiện:
Giám sát:

Mục tiêu: Kiểm tra và xác nhận các chốt kiểm soát được thực hiện.
TOC Steps
1. Hợp đồng kinh tế
2. Kiểm tra hạn mức tín dụng
3. Dịch vụ được sử dụng trong tháng
4. Xuất hóa đơn
5. Ghi nhận doanh thu
6. Nhận tiền từ khách hàng
Chọn mẫu để thực hiện
TOC Steps
STT
Tên KH Ngày kí hợp đồng 1
2
3
4
5
1
ASS
5/4/2015
v
v
x
v
v
2
OLL
7/7/2015
v
v
x
v
v
3
DLP
30/11/2015
v
v
x
v
v
….








6
v
v
v


Notes

Kết luận:
Phòng bán hàng chịu trách nhiệm ký hợp đồng, tính toán doanh thu cho từng khách
hàng với từng gói dịch vụ. Phòng kế toán chỉ có nhiệm vụ xuất hóa đơn và không có sự kiểm
tra lại xem doanh thu được tính đã chính xác chưa. Có thể xảy ra sai phạm do lạm dụng
quyền hạn của bộ phận này khi không có một bộ phận độc lập khác kiểm tra lại.
72

(Nguồn: Giấy tờ làm việc của KTV)
Việc ghi nhận doanh thu vào ngày cuối tháng được tiến hành bởi kế toán bán hàng do
đó ghi nhận doanh thu có thể xảy ra sai sót khi khối lượng công việc nhiều hoặc tình trạng
làm thất lạc chứng từ của kế toán. Sự phân bổ công việc chưa hợp lý.
Hầu hết các thủ tục kiểm soát liên quan tới chu trình doanh thu được tiến hành thủ
công vì vậy khả năng xảy ra sai sót là cao. Công ty cũng không có văn bản hướng dẫn quy
định rõ ràng về sự phân tách trách nhiệm, quy trình phê chuẩn khi cung cấp dịch vụ cho
những thành viên tham gia vào chu trình này.
Phần mềm kế toán mà công ty sử dụng là bài toán bưu điện, phần mềm này có khả
năng sửa chữa dữ liệu dễ dàng mà không cần một sự phê chuẩn hay kiểm soát nào.
Như vậy qua tìm hiểu của KTV thì hệ thống KSNB của khách hàng XYZ không đạt
hiệu quả và KTV không tiến hành thử nghiệm kiểm soát mà thực hiện ngay các thử nghiệm
cơ bản đối với doanh thu.
2.3.5 Đánh giá lại rủi ro kiểm soát
Từ việc tìm hiểu quy trình luân chuyển chứng từ thông qua kỹ thuật kiểm tra từ đầu tới
cuối và thu thập hiểu biết về kiểm soát nội bộ liên quan tới chu trình doanh thu, KTV nhận
thấy hệ thống KSNB đối với khoản mục doanh thu là không thể tin cậy được. Do đó, kết
luận của KTV đối với KSNB khoản mục doanh thu như sau:
Rủi ro tiềm tàng: Cao
Rủi ro kiểm soát: Tối đa (Không tin tưởng được vào hệ thống KSNB)
Rủi ro kết hợp: Cao
Thử nghiệm kiểm soát không được thực hiện và KTV sẽ tiến hành 100% thử nghiệm
cơ bản đối với doanh thu.
2.4 So sánh quy trình đánh giá rủi ro kiểm soát tại khách hàng ABC và XYZ
Tại khách hàng ABC và XYZ được thực hiện cùng một quy trình đánh giá hẹ thống
KSNB gồm bốn bước với việc đánh giá rủi ro kiểm soát tiếp cận theo chu trình, nghiệp vụ
quan trọng. Quy trình đánh giá hệ thống KSNB được khái quát như sau:
73

Bước 1: Thu thập hiểu biết về khách hàng, ngành nghề kinh doanh của khách hàng.
Thu thập những thông tin liên quan tới khách hàng và ngành nghề kinh doanh như lĩnh
vực kinh doanh, quy mô, sản phẩm, đối thủ cạnh tranh… đây là cơ sở để KTV đánh giá rủi
ro tiềm tàng của khách hàng, đồng thời cung cấp thêm thông tin cho KTV trong quá trình
đánh giá rủi ro kiểm soát.
Bước 2: Thu thập hiểu biết về hệ thống KSNB của khách hàng.
Thu thập hiểu biết về các yếu tố của HTKSNB, khách hàng có thể có tất cả các yếu tố
của hệ thống KSNB nhưng cũng có khách hàng không có đầy đủ tất cả các yếu tố, do đó
trong quá trình đánh giá KTV sẽ kết hợp với việc xem xét bản chất, quy mô của khách hàng
để có thể kết luận hệ thống KSNB đạt hiệu quả hay không đạt hiệu quả trong việc ngăn
chặn, phát hiện và sửa chữa kịp thời các sai phạm trọng yếu.
Bước 3: Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát.
KTV dựa trên những hiểu biết thu thập được về hệ thống KSNB đánh giá xem hệ thống
có thể tin tưởng được hay không, CR được đánh giá ở hai mức cơ bản: Có thể dựa vào hoặc
không thể dựa vào hệ thống kiểm soát.
Bước 4: Thực hiện thử nghiệm kiểm soát.
Bước 5: Đánh giá lại rủi ro kiểm soát.
Tiến hành đánh giá rủi ro kiểm soát sau khi tiến hành thử nghiệm cơ bản, nếu kết quả
sau tiến hành thử nghiệm cơ bản khác so với đánh giá ban đầu của KTV về rủi ro kiểm soát
thì KTV sẽ có điều chỉnh.
Các giấy tờ làm việc sử dụng cho quy trình đánh giá hệ thống KSNB được thiết kế sẵn,
KTV tiến hành các bước công việc theo hướng dẫn chung. Tuy nhiên, trong quá trình thực
hiện được thực hiện một cách linh hoạt tùy thuộc vào quy mô, tính chất, mức độ phức tạp và
những phán đoán của KTV thông qua thu thập hiểu biết về khách hàng và hệ thống KSNB.
Tại khách hàng ABC các bước công việc được tiến hành đầy đủ từ thu thập hiểu biết về
khách hàng, hệ thống KSNB, đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát, thực hiện kỹ thuật kiểm
tra từ đầu tới cuối, tiến hành thử nghiệm kiểm soát và đánh giá lại rủi ro kiểm soát do hệ
thống KSNB của khách hàng ABC theo đánh giá ban đầu của KTV là đạt hiệu quả. Với việc

74

sử dụng thử nghiệm kiểm soát và rủi ro kết hợp được đánh giá ở mức thấp đối với tất cả các
mục tiêu kiểm soát đối với khoản mục doanh thu.
Tại khách hàng XYZ sau khi tìm hiểu về các yếu tố cấu thành của hệ thống KSNB,
KTV nhận thấy khó có thể tin tưởng vào hệ thống KSNB của XYZ, do đó đối với những chu
trình nghiệp vụ quan trọng KTV tiến hành thu thập hiểu biết về chu trình để có thể có đánh
giá lại về hệ thống KSNB đối với chu trình có đạt hiệu quả không, các thủ tục kiểm soát có
được thiết kế và vận hành hữu hiệu giúp ngăn chặn, phát hiện và sửa chữa kịp thời các sai
phạm trọng yếu trên BCTC hay không. Sau đó, rủi ro kiểm soát được đánh giá lại và hệ
thống KSNB được đánh giá là không tin tưởng được, do đó chiến lược kiểm toán được thực
hiện bằng cách sử dụng trực tiếp các thử nghiệm cơ bản mà không tiến hành các thử nghiệm
kiểm soát.

75

CHƯƠNG III: NHẬN XÉT VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIÊN QUY TRÌNH
ĐÁNH GIÁ HÊ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO
TÀI CHÍNH DO CÔNG TY TNHH EY THỰC HIÊN
3.1 Nhận xét về thực trạng vận dụng quy trình đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ
trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH EY thực hiện
3.1.1 Những ưu điểm trong thực tế
Hệ thống KSNB được thiết kế và vận hành nhằm giúp mọi đơn vị đạt được mục tiêu
của mình. Do đó, quy trình đánh giá hệ thống KSNB đóng một vai trò quan trọng trong kiểm
toán BCTC. Thông qua đánh giá hệ thống KSNB, KTV có thể xác định được hệ thống đó có
khả năng ngăn chặn, phát hiện và sửa chữa kịp thời các sai phạm trọng yếu hay không, là cơ
sở để đánh giá rủi ro kiểm soát là cơ sở để KTV tiến hành xác định phạm vi thử nghiệm cơ
bản cũng như đánh giá rủi ro kiểm toán. Công việc này có ảnh hưởng khá lớn tới mối quan
hệ giữa hiệu quả và chi phí của một cuộc kiểm toán.
Ngày nay, hệ thống KSNB trong công ty càng giữ vai trò quan trọng, ví dụ điển hình
sau sự sụp đổ của Enron, ở Mỹ đạo luật Sarbanes-Oxley Act về kiểm soát nội bộ năm 2002
đã ra đời với mục tiêu cơ bản là ngăn chặn những gian lận. Pháp chế này có ảnh hưởng rất
nhiều tới những tổ chức dịch vụ và công ty kế toán trong vấn đề quản lý công ty cũng như
lập BCTC và kiểm toán. Vì vậy, khi đánh giá rủi ro kiểm toán, KTV cần tập trung phân tích
kỹ hơn hệ thống KSNB để có thể đánh giá rủi ro kiểm soát xác đáng. Theo xu hướng đó, quy
trình đánh giá hệ thống KSNB của EY đã dần đáp ứng yêu cầu của thời đại mới. Đó là việc
đánh giá rủi ro ở nhiều cấp độ khác nhau, xác định cấp độ rủi ro đối với: loại nghiệp vụ, số
dư tài khoản, việc khai báo và những vấn đề liên quan khác từ đó đánh giá rủi ro tiềm tàng
và rủi ro kiểm soát. Xác định cấp độ sai phạm chủ yếu liên quan tới tính chất và mức độ
phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế. Trong quá trình đánh giá rủi ro kiểm toán, EY đặc biệt
76

chú ý tới ISA số 315, hướng dẫn KTV đánh giá rủi ro của những khoản mục trọng yếu thông
qua tìm hiểu về đơn vị được kiểm toán và môi trường kinh doanh của nó. EY tiến hành đánh
giá hệ thống KSNB đối với từng chu trình kế toán quan trọng được xác định sau khi có đánh
giá ban đầu về rủi ro kiểm soát. Những chu trình này có liên quan mật thiết tới các khoản
mục trọng yếu trên BCTC. Thông qua việc đánh giá hệ thống KSNB mà khối lượng các thử
nghiệm cơ bản được xác định một cách phù hợp. Quy trình này được thực hiện với sự phối
hợp đan xen các kỹ thuật kiểm toán như phỏng vấn, quan sát, kiểm tra tài liệu… bởi các
KTV có năng lực chuyên môn và kinh nghiệm một cách linh hoạt tạo hiệu quả cao, tiết kiệm
thời gian và chi phí.
Với một quy trình đánh giá hệ thống KSNB của Công ty TNHH EY Việt Nam được
thiết kế và thực hiện khá chặt chẽ, trên cơ sở những hướng dẫn có sẵn với sự hỗ trợ của phần
mềm kiểm toán GAM-X - được áp dụng cho EY toàn cầu. Chương trình kiểm toán đưa ra
những hướng dẫn chung cho tất cả các nhân viên EY một phương pháp kiểm toán thống nhất
và áp dụng cho mọi cuộc kiểm toán. Nhờ có GAM-X, công việc của KTV được tiến hành
một cách thuận lợi và hiệu quả hơn. Bên cạnh sự hỗ trợ của GAM-X, các KTV của EY còn
căn cứ trên điều kiện cụ thể của từng khách hàng mà thiết kế các thử nghiệm cho phù hợp, từ
đó cuộc kiểm toán luôn đảm bảo đạt được kết quả như mong đợi. Cụ thể ở từng giai đoạn
của quy trình đánh giá hệ thống KSNB do các KTV của Công ty TNHH EY Việt Nam thực
hiện có những ưu điểm như sau:
Giai đoạn thu thập hiểu biết về khách hàng
Sự am hiểu tường tận về khách hàng được kiểm toán là một trong những thế mạnh của
EY góp phần tăng tính cạnh tranh của Công ty so với các công ty kiểm toán khác. Việc thu
thập hiểu biết về khách hàng của Công ty được thực hiện dựa trên hướng dẫn của EY toàn
cầu, không chỉ đơn thuần tìm hiểu như thông tin về tư cách pháp nhân, lĩnh vực kinh doanh,
quy mô… mà còn áp dụng các mô hình trong quản trị và marketing giúp KTV có được
những hiểu biết sâu sắc về hoạt động kinh doanh của khách hàng. Việc phân tích được thực
hiện thông qua hai mô hình là mô hình năm thế lực thị trường của Michael Porter và mô
hình PEST, nhờ đó EY có được một bức tranh tổng thể về khách hàng.

77

Thông qua giai đoạn thu thập hiểu biết về khách hàng, giúp cho KTV có cái nhìn tổng
quan về ngành nghề kinh doanh, môi trường cạnh tranh, sản phẩm, chiến lược, mục tiêu của
doanh nghiệp, những thông tin liên quan tới việc hình thành và phát triển của khách hàng
mình… Từ đó, KTV sẽ có hiểu biết nhất định về các rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải,
áp lực đối với hoạt động của doanh nghiệp có khả năng làm nảy sinh gian lận. Hơn thế nữa.
việc tiến hành cuộc kiểm toán của KTV cũng diễn ra thuận lợi, dễ dàng hơn, khi có hiểu biết
về ngành nghề kinh doanh của khách hàng việc đánh giá hệ thống KSNB cũng sẽ diễn ra có
trọng tâm và đạt hiệu quả như mong muốn. Cũng như việc đánh giá rủi ro tiềm tàng, rủi ro
kiểm soát chính xác hơn và chiến lược kiểm toán được áp dụng được xác định một cách phù
hợp.
Giai đoạn thu thập hiểu biết về hệ thống KSNB
Các thông tin về hệ thống KSNB của khách hàng được các KTV thu thập và mô tả khá
chi tiết và cụ thể cho cả 5 yếu tố của hệ thống KSNB là môi trường kiểm soát, quy trình
đánh giá rủi ro, hệ thống thông tin, các hoạt động kiểm soát và giám sát. Từ đó, việc đánh
giá ban đầu của KTV về rủi ro kiểm soát được tiến hành một cách thuận lợi và xác đáng.
Giai đoạn đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát
EY tiến hành đánh giá rủi ro dựa trên các cơ sở dẫn liệu có khả năng bị sai phạm. Rủi
ro kiểm soát được đánh giá ở hai mức là hiệu quả và phi hiệu quả dựa trên những hiểu biết
của KTV về hệ thống KSNB của khách hàng. Sau khi đánh giá về rủi ro kiểm soát ban đầu
được thực hiện. Trên cơ sở rủi ro kiểm soát ban đầu này, KTV sẽ xác định được chiến lược
kiểm toán là dựa vào hệ thống KSNB hay dựa vào các thử nghiệm cơ bản, những thủ tục
kiểm toán thích hợp sẽ được KTV đưa ra.
Giai đoạn thực hiện thử nghiệm kiểm soát
Thử nghiệm kiểm soát được thực hiện khi KTV xác định rủi ro kiểm soát của khách
hàng ở mức độ thấp hơn mức tối đa, việc tiến hành thử nghiệm kiểm soát sẽ giúp kiểm toán
viên khẳng định lại về tính hiệu quả của hệ thống KSNB của khách hàng. Thử nghiệm kiểm
soát được thiết kế theo hướng kiểm tra những thủ tục kiểm soát được khách hàng áp dụng
một cách linh hoạt. Trong trường hợp hệ thống KSNB của khách hàng được đánh giá là

78

không hiệu quả thì KTV sẽ tiến hành ngay các thử nghiệm cơ bản mà không thực hiện thử
nghiệm kiểm soát vì vậy sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí của cuộc kiểm toán.
Đánh giá lại rủi ro kiểm soát
Rủi ro kiểm soát được đánh giá lại cho từng chu trình, nghiệp vụ sau khi thực hiện thử
nghiệm kiểm soát chính là sự khẳng định lại về rủi ro kiểm soát ban đầu được KTV xác định
là xác đáng hay không.
Phần mềm kiểm toán GAM-X
Với sự hỗ trợ của GAM-X, các bước công việc của KTV được hướng dẫn sẵn, do đó
việc thực hiện sẽ dễ dàng và thuận tiện hơn, hỗ trợ KTV rất nhiều trong công việc. Hơn nữa,
trên GAM-X các workspace được tạo ra cho từng cuộc kiểm toán (tức môi trường làm việc
chung cho nhóm kiểm toán) là nơi các thành viên trong nhóm thảo luận, cập nhật, lưu trữ,
trao đổi các vấn đề liên quan tới cuộc kiểm toán và lưu các giấy tờ làm việc (bản mềm) của
mình. Nhờ có các workspace mà các chủ nhiệm kiểm toán hay các trưởng nhóm có thể theo
sát công việc của các thành viên và có những hướng dẫn, chỉ đạo kịp thời, cập nhật thường
xuyên.
3.1.2 Những tồn tại
Giai đoạn thu thập hiểu biết về khách hàng và hệ thống KSNB
Trong giai đoạn này, giấy tờ làm việc của Công ty ở dạng tường thuật tuy chi tiết
nhưng khá dài và thiên nhiều về lý thuyết, do đó gây khó khăn cho người đọc khi muốn nắm
bắt nhanh các thông tin về hệ s KSNB của khách hàng. Việc sử dụng dạng tường thuật để
mô tả về hệ thống KSNB của khách hàng có những hạn chế như khó theo dõi, khó cập nhật,
dài dòng đặc biệt khi hệ thống KSNB của khách hàng phức tạp thì KTV sẽ khó có thể phát
hiện những điểm cần chú ý hay những thiếu sót của hệ thống KSNB.
Ngoài ra, KTV sử dụng chủ yếu kỹ thuật phỏng vấn và quan sát khi thu thập hiểu biết
về hệ thống KSNB sẽ dẫn tới trường hợp đánh giá về hệ thống KSNB không chính xác khi
khách hàng cố tình trả lời hay thực hiện những hành vi có lợi cho mình nhằm những mục
đích nhất định hoặc có thể chính KTV cũng không thu được hiểu biết thấu đáo về hệ thống
KSNB của khách hàng do tính chất phức tạp của hệ thống.

79

Việc sử dụng chủ yếu bảng tường thuật, hầu như không sử dụng lưu đồ và sử dụng rất
ít bảng câu hỏi trong thực tế làm việc đôi khi khiến KTV không bao quát được hết các nội
dung liên quan, vì vậy có trường hợp KTV phải hỏi khách hàng nhiều lần cùng một nội dung
gây tâm lý khó chịu và thái độ bất hợp tác cho khách hàng.
Giai đoạn đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát
Ở giai đoạn này, KTV mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá hệ thống KSNB đạt hiệu quả
hay không hiệu quả và đưa ra kết luận ban đầu về rủi ro kiểm soát mới chỉ dừng lại ở mức
tối đa hay dưới mức tối đa. Như vậy việc đánh giá ban đầu chưa được lượng hóa, cũng chưa
được đánh giá ở một mức độ cụ thể nào đó ví dụ thấp, trung bình hay cao.
Giai đoạn thực hiện các thử nghiệm kiểm soát
Các thử nghiệm kiểm soát thường được thực hiện theo hướng dẫn chung, KTV thường
chọn 25 mẫu để tiến hành kiểm tra. Việc chọn mẫu như vậy không phù hợp với quy mô, tính
chất và độ phức tạp của từng khách hàng, ví dụ với khách hàng quy mô lớn, phức tạp việc
chọn 25 mẫu có thể là ít còn với khách hàng quy mô nhỏ, tính chất không phức tạp thì lại là
nhiều. Việc áp dụng máy móc trong quá trình chọn mẫu có thể khiến KTV tốn thời gian mà
không thực sự hiệu quả.
Giai đoạn đánh giá lại rủi ro kiểm soát
Đánh giá rủi ro kiểm soát ở EY còn mang tính chủ quan, dựa trên kinh nghiệm và xét
đoán nghề nghiệp của KTV mà chưa được lượng hóa. Do đó, khi đánh giá rủi ro kiểm soát
để đảm bảo tính thận trọng nghề nghiệp, trưởng nhóm kiểm toán thường đánh giá ở mức cao
hoặc trung bình. Vì vậy KTV sẽ phải thực hiện nhiều thử nghiệm hơn mức cần thiết trong
một vài trường hợp, thời gian và chi phí của cuộc kiểm toán do đó tăng. Ngoài ra, các KTV
trong quá trình đánh giá rủi ro kiểm toán việc sử dụng thủ tục phân tích còn hạn chế trong
khi việc sử dụng thủ tục phân tích đóng một vai trò quan trọng và hỗ trợ đắc lực cho KTV
trong quá trình đánh giá rủi ro, đặc biệt việc sử dụng thủ tục phân tích đối với các thông tin
phi tài chính nên được tăng cường thực hiện.
Phần mềm kiểm toán GAM-X
Việc sử dụng GAM-X còn tồn tại nhiều hạn chế như:

80

Việc truy cập vào phần mềm là khó, thậm chí không thể truy cập khi ở ngoài trụ sở
Công ty gây khó khăn cho KTV khi làm việc do không vào được workspace.
Việc sửa lỗi, lưu, cập nhật dữ liệu trên workspace khá khó khăn do dung lượng của một
workspace khá lớn dẫn tới tình trạng máy chậm, hay thậm chí treo máy, mất rất nhiều thời
gian.
Không có sự phân quyền cho các thành viên khi tham gia vào workspace vì vậy họ có
thể tùy ý sửa, xóa, thay đổi dữ liệu… một cách vô tình hoặc cố ý, dữ liệu khi đã mất thì
không thể lấy lại được nữa khi dữ liệu chưa được lưu vào hệ thống, thậm chí khi đã được lưu
thì nhóm kiểm toán vẫn phải mất thời gian xử lý lại.
Các phần hành kiểm toán có liên quan tới nhau do đó sai sót của một thành viên sẽ có
thể gây ra sai sót của các thành viên khác. Do đó, các KTV phải kiểm tra kỹ trước khi đưa
dữ liệu lên GAM-X.
3.2 Các giải pháp hoàn thiện quy trình đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trong
kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty TNHH EY thực hiện
Thứ nhất: Kết hợp sử dụng lưu đồ, bảng câu hỏi và bảng tường thuật
Việc sử dụng bảng câu hỏi có nhiều tác dụng tích cực bởi lẽ bảng sẽ có những câu hỏi
sẵn được thiết kế từ trước, giúp công việc của KTV được thuận lợi, tiết kiệm thời gian hơn
đặc biệt đối với những khách hàng có tính chất tương tự nhau. Tuy nhiên khi sử dụng bảng
câu hỏi, có nhiều câu hỏi có thể phù hợp với đối tượng khách hàng này song lại không phù
hợp với khách hàng khác vì thế KTV phải xem xét nên sử dụng những câu hỏi nào để mang
lại tính tổng quát cao nhất. Do đó, Công ty có thể tiến hành xây dựng bảng câu hỏi đánh giá
hệ thống KSNB cho từng nhóm đối tượng khách hàng theo ngành nghề, quy mô, vị trí địa
lý…
Việc đánh giá hệ thống KSNB yêu cầu thông tin phải tổng hợp, vì vậy KTV cần sử
dụng toàn bộ những thông tin đã thu thập được trên giấy tờ làm việc để đánh giá. Việc sử
dụng bảng tường thuật là giúp cho việc mô tả được chi tiết, dễ dàng tuy nhiên dài dòng, tốn
thời gian theo dõi, thiếu tính khái quát cao. Vì vậy Công ty nên tăng cường sử dụng lưu đồ
bên cạnh việc sử dụng tường thuật để mô tả lại những hiểu biết về hệ thống KSNB của
khách hàng. Kiểm toán viên có thể sử dụng những ký hiệu chuẩn để mô tả công việc theo
81

từng chức năng một cách đơn giản, rõ ràng cho từng loại nghiệp vụ, trình tự luân chuyển của
từng chứng từ, cũng như các thủ tục kiểm soát.
Công ty nên có hướng dẫn cụ thể và xây dựng hệ thống các ký hiệu trong xây dựng lưu
đồ để KTV có thể áp dụng một cách dễ dàng và thuận tiện cho các cuộc kiểm toán, nhờ đó
thời gian và chi phí của cuộc kiểm toán cũng sẽ được tiết kiệm. Lưu đồ nên được trình bày
theo hướng tổng quát từ trái sang phải, từ trên xuống dưới, và trình bày theo các cột để mô tả
những công việc diễn ra ở từng bộ phận chức năng, từng nhân viên.
Nhờ biểu hiện bằng hình vẽ nên lưu đồ giúp hình dung rõ ràng về toàn bộ hệ thống
KSNB, cũng như về mối quan hệ giữa các bộ phận, giữa chứng từ và sổ sách. Ngoài ra nó
còn là công cụ phân tích vì giúp kiểm toán viên dễ nhận diện những thiếu sót của từng thủ
tục.
Việc lựa chọn loại công cụ để mô tả là tuỳ theo từng đặc thù của công ty kiểm toán, tuy
nhiên nhiều nên sử dụng phối hợp bảng câu hỏi và lưu đồ, vì chúng sẽ bổ sung cho nhau để
cung cấp tối ưu hình ảnh của hệ thống KSNB. Bảng tường thuật chi tiết nhưng dài dòng và
thiếu tính khái quát, do vậy sử dụng thêm lưu đồ sẽ cải thiện được nhược điểm này, lưu đồ
đơn giản và có tính tổng quát cao hơn, sự kết hợp này sẽ mang đến cái nhìn tổng quát và
toàn diện nhất về hệ thống KSNB của khách hàng. Ngoài ra, nếu khách hàng đã có sẵn
những bảng tường thuật, hay các lưu đồ thì kiểm toán viên nên tận dụng và sử dụng thêm
các bảng câu hỏi.
Sau khi mô tả KSNB bằng các công cụ nêu trên, kiểm toán viên thường sử dụng phép
thử walk-throught để kiểm tra lại xem đã mô tả đúng hiện trạng của từng chu trình nghiệp vụ
hay chưa.
Thứ hai: Phân bổ thời gian và nguồn lực hợp ly cho mỗi cuộc kiểm toán
Trong mùa bận của kiểm toán, nhân sự kiểm toán thường thiếu dẫn tới áp lực đối với
các KTV là khá cao đặc biệt là áp lực về thời gian, do đó đôi khi công việc được tiến hành
không triệt để. Việc đánh giá hệ thống KSNB cho năm hiện hành có thể chỉ dựa trên cơ sở
những cuộc kiểm toán năm trước mà KTV không tiến hành cập nhật thông tin một cách đầy
đủ khiến việc đánh giá có thể xảy ra sai sót gây tốn kém về mặt thời gian trong trường hợp

82