Tải bản đầy đủ
PHẦN 1. giới thiệu về công ty laba đà lạt

PHẦN 1. giới thiệu về công ty laba đà lạt

Tải bản đầy đủ

1.3. Sản phẩm
Chuối Laba thuộc nhóm chuối Cavendish AAA, hiện có hai dòng chính: Dòng
thân trắng và dòng thân tím, cây chuối cao từ 3-3,5 m, mỗi buồng có khoảng từ 10-12
nải, trọng lượng trung bình từ 40-50kg
- Giống tiêu cao (thường gọi là giống chuối già hương vì khi chín có hương
thơm hấp dẫn): Cây cao từ 3,5-5m, buồng hình trụ, quả thẳng và to, đuôi hơi
lõm, ăn ngọt và thơm. Năng suất rất cao nhưng khó thu hoạch; cây dễ bị bệnh
héo rủ, dễ bị đổ ngã khi gặp gió bão.
- Giống tiêu vừa (thường gọi là chuối già Laba): Cây cao 2,8-3m, buồng hình
trụ, trung bình có từ 10-12 nải/buồng, trái hơi cong, ăn ngọt, thơm ít.
- Giống tiêu thấp (thường gọi là chuối lùn Laba): Cây cao 2-2,5m, buồng hình
nón cụt, 12- 14 nải/buồng, trọng lượng bình quân 35 kg/buồng, nhiều buồng
đạt tới 50kg nếu được chăm sóc tốt.
Chuối trồng được quanh năm, tốt nhất nên trồng khi đất đủ ẩm hoặc vào đầu mùa
mưa, cây sinh trưởng tốt cho tỉ lệ sống cao hoặc xác định thời điểm trổ buồng, thu
hoạch mà chọn thời gian trồng thích hợp với điều kiện chủ động được nước tưới, trồng
tốt nhất từ tháng 5 đến tháng 10. 01 cây chuối đạt năng suất cao cho thấy: Lượng kali
cao gấp 3,6, >3,75 lần đạm, CaO cao nhưng hầu hết trên 75% tập trung vào thân và lá
chuối. Chuối Laba có vị ngon, dẻo và thơm đặc biệt khi được trồng trong điều kiện tự
nhiên của các tỉnh phía Nam như Lâm Đồng, Tây Ninh..
1.4. Thị trường kinh doanh
Thị trường mà công ty Laba Đà Lạt đang thực hiện hoạt động kinh doanh là thị
trường trong nước và quốc tế. Sản phẩm chuối của công ty Laba Đà Lạt đã và đang
được xuất khẩu sang một số thị trường quốc tế như Trung Quốc, Nhật Bản, Đông Âu,
…Do điều kiện thời gian nên bài viết sẽ chỉ tập trung vào một thị trường mà công ty
Laba Đà Lạt đang hướng tới đó là thị trường Anh.
Ngày nay, với sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới thị trường đối với các loại trái
cây xuất khẩu của Việt Nam và cụ thể là chuối đang ngày càng được mở rộng. Trong
đó Anh là một thị trường được coi là rất tiềm năng với lượng tiêu thụ chuối lớn.
Năm 2010, thị trường Anh tiêu thụ khoảng 954 nghìn tấn chuối. Anh là nước tiêu
dùng lớn thứ hai Châu Âu, chiếm 19% tổng lượng tiêu dùng của Châu Âu (dựa trên số
liệu thống kê năm 2009), đứng sau Đức (21%) và trước Italia (13%). Từ năm 2005 đến
năm 2009, tổng lượng tiêu dùng tăng 1,7%/năm. Trong khi đó, lượng tiêu dùng của
EU tăng 2%. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, lượng

8

tiêu dùng của Anh giảm vào năm 2008 (giảm 2,2%) và năm 2009 (giảm 2,8%). Tuy
nhiên, năm 2010, lượng tiêu dùng chuối của nước này phục hồi (tăng 7,4%).
Năm 2009, tiêu dùng chuối theo đầu người tại Anh là 14 kg/người. Đây là mức
khá cao so với các nước Tây Âu (Hà Lan 3,9 kg, Pháp 4,7 kg, Đức 11,8 kg) và cao hơn
mức trung bình của Châu Âu (9,4 kg).

Biểu đồ 1.1. Các nguồn nhập khẩu chuối tươi vào Anh năm 2013
Nguồn: FAOSTAT (2014)

Thị trường Anh hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn chuối nhập khẩu.
Năm 2011, khối lượng nhập khẩu chuối của nước này là 942 nghìn tân. Anh là
nước nhập khẩu lớn thứ ba tại Châu Âu, chiếm 14% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả
khu vực. Từ năm 2005 đến năm 2010, kim ngạch nhập khẩu chuối tăng trung bình
3,2%/năm, kim ngạch nhập khẩu chuối từ các nước đang phát triển tăng 4,7%/năm.
Thông thường kim ngạch nhập khẩu có sự tăng giảm tương tự với sự tăng giảm của
mức tiêu dùng, năm 2008 giảm 2,6%, năm 2009 giảm 1,0% và phục hồi vào năm 2010
(tăng 3,9%).
Anh chiếm khoảng 20% tổng khối lượng nhập khẩu chuối từ các nước đang phát
triển của toàn khu vực EU, đứng vị trí thứ hai. Tổng cộng, khối lượng nhập khẩu chuối
từ các nước đang phát triển chiếm 93% tổng khối lượng chuối nhập khẩu của Anh.
Chuối là loại hoa quả phổ biến thứ 4 trên thị trường Anh (sau táo, cam và quả
kiwi) (Theo nguồn tin Sainsbury plc).
Người tiêu dùng tại Anh thường mua loại chuối Cavendish. Họ thường có xu
hướng chọn loại chuối quả to và có chất lượng cao (loại cao cấp hoặc loại I). Người
tiêu dùng Châu Âu (chủ yếu là Tây Âu) cũng thích thử các hương vị mới, vì thế, các
9

nước này có nhu cầu nhập khẩu các loại chuối mới. Đây chính là lý do xuất hiện thị
trường chuối ngoại nhập.
Thị trường Anh đã trở thành thị trường lớn nhất tại EU đối với sản phẩm chuối
hữu cơ và là thị trường lớn thứ hai trên thế giới (sau Hoa Kỳ). Chuối hữu cơ chiếm tới
8% thị trường chuối tại Anh vào cuối năm 2007 và thị phần của thị trường ngách này
vẫn liên tục tăng lên. Theo các số liệu thống kê, thị phần của sản phẩm chuối thương
mại công bằng (fair trade banana) cũng chiếm mức tương tự thị phần của sản phẩm
chuối truyền thống, nếu xét về mặt giá trị.
Theo tạp chí Reuter ngày 02/03/2015, Anh đang tạm thời vượt mặt Pháp và trở
thành cường quốc kinh tế lớn thứ 5 trên thế giới. Sức mạnh tăng trưởng của kinh tế
Anh được đánh giá là một bước tăng trưởng ngoạn mục, đã hoàn toàn thoát khỏi
khủng hoảng từ những năm trước đó, chính phủ Anh đang có những biện pháp kích
thích tăng trưởng nước này. Bên cạnh đó việc sụt giảm của đồng Euro so với đồng
Bảng Anh trong thời gian gần đây khiến cho Anh trở thành một thị trường hấp dẫn với
các doanh nghiệp quốc tế. Hiện nay con số nhập khẩu về lương thực, thực phẩm của
Anh đã lên tới gần 50%, trong đó, mặt hàng có giá trị dinh dưỡng cao như chuối chiếm
gần 3,8% có thể cho ta thấy sức hấp dẫn khi chọn thị trường này để xuất khẩu sản
phẩm chuối Laba Lâm Đồng.

10

PHẦN 2.

PHÂN TÍCH RÀO CẢN THƯƠNG MẠI CỦA ANH

Anh hiện là trung tâm tài chính hàng đầu thế giới và là nền kinh tế lớn thứ 5 thế
giới, thứ 2 châu Âu (sau Đức). Hiện nay, Anh là một trong những thị trường xuất khẩu
lớn nhất của Việt Nam trong EU. Tuy nhiên, rất ít doanh nghiệp của Việt Nam nắm
bắt được các quy định về hàng nhập khẩu của Anh nên đã gặp không ít khó khăn khi
xuất khẩu sang thị trường này.
Nhìn chung nước Anh không có nhiều rào cản thương mại. Nằm trong Liên minh
châu Âu (EU) nên các rào cản thương mại của Anh chủ yếu được áp dụng theo các chỉ
thị và luật lệ của EU. Tuy nhiên, Anh cũng vẫn có những quy định riêng áp dụng cho
các mặt hàng có nguồn gốc xuất xứ ngoài EU. Trong quá khứ, chính sách thương mại
của EU tập trung vào bảo hộ nền sản xuất của EU thì hiện nay, những chính sách
thương mại đó lại nhằm bảo vệ cho môi trường và người tiêu dung nhiều hơn. Vì vậy
xu hướng chung là: giảm thuế và tăng các biện pháp phi thuế quan.
2.1. Hàng rào thuế quan
Nước Anh có biểu thuế chung áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước
không phải là thành viên của EU và mức thuế là 17,5% áp dụng cho tất cả các giao
dịch kinh doanh có bao gồm các mặt hàng nhập khẩu. Thuế nhập khẩu của Anh được
tính dựa trên phần trăm của trị giá hàng hóa ngoại trừ một số mặt hàng đặc biệt phải
chịu mức thuế chi tiết (ví dụ bao nhiêu euro trên 1 kg hàng hóa).
Mức thuế suất nông sản nhập khẩu vào Anh thay đổi tùy theo từng mặt hàng cụ
thể. Anh áp dụng mức thuế quan theo mức thuế của EU:
Timp = CCIF *T
Trong đó:

CCIF: tiền hàng, cức phí, bảo hiểm.
T: thuế suất tuỳ vào loại hàng và xuất xứ.

EU trợ cấp sản xuất nông nghiệp trong khối, đồng thời đánh thuế cao và áp
dụng hạn ngạch đối với một số nông sản nhập khẩu như gạo, đường, chuối, sắn lát….
Mặt hàng nông sản chịu mức thuế cao hoặc thuế đặc biệt từ 0%-408.7%. Hiện nay
mức thuế quan trung bình đánh và hàng nông sản là 18%.
Ngoài ra thuế quan còn được áp dụng trong các biện pháp thương mại tạm thời
như:
 Thuế nhằm bảo hộ các sản phẩm: trong chính sách nông nghiệp chung (CAP)
được ban hành và thực thi để bảo hộ sản xuất thực phẩm nội địa. Mặt hàng
nông sản cũng là đối tượng điều chỉnh đặc biệt các sản phẩm nông nghiệp ôn
đới. Nếu giá nhập khẩu dưới giá khởi điểm tối thiểu, một mức thuế bổ sung sẽ
11

được đánh thêm vào thuế hải quan. Mức thuế và giá khởi điểm sẽ phụ thuộc
vào lý do này.
 Thuế chống bán phá giá (Anti-dumping): là loại thuế đánh vào hàng nhập
khẩu nhằm chống lại việc hàng hóa bị bán phá giá ở châu Âu (tức là bán với
giá thấp hơn so với giá trị thông thường của hàng hóa đó). Mỗi một mức thuế
chống bán phá giá có thể áp dụng cho một số mặt hàng có nguồn gốc xuất xứ
tại một số nước nhất định hoặc được xuất khẩu bởi một số nhà xuất khẩu nhất
định. Có 2 hình thức đánh thuế chống bán phá giá: hoặc là tạm thời (đánh thuế
6 tháng đầu và sau đó gia hạn thêm 3 tháng tiếp theo) hoặc là đánh thuế cuối
cùng (đánh thuế 5 năm 1 lần).
 Thuế nông sản và hải sản: Liên minh châu Âu tham gia vòng đàm phán
Uruguay nhằm thủ bỏ mức thuế nhập khẩu nông sản trước kia của mình và
thay bằng các công cụ thuế được chấp nhận rộng rãi hơn. Thuế nông sản gồm
nhiều phần khác nhau, thuế theo mùa và dựa trên giá thời điểm nhập khẩu.
Các cơ quan thuế quan thuộc Liên minh châu Âu quản lý nhập khẩu và thu
thuế trên các mặt hàng này.
Bên cạnh đó, Anh còn áp dụng hệ thống thuế ưu đãi phổ cập GSP (Generalised System
of Preferences) cho phép hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển được giảm
thuế hoặc chịu mức thuế suất bằng 0%.
2.2. Hàng rào phi thuế quan
2.2.1. Trợ cấp nông nghiệp
Hiện EU là khu vực trợ cấp xuất khẩu nông sản lớn nhất. Từ năm 2004 trợ cấp
sản xuất trong EU lên tới 133,4 triệu USD tương đương với khoảng 33% doanh thu
nông sản. Tại Anh có Farmcare Limited nhận số tiền trợ cấp là 3.788.023 euro.
EU luôn bị gây sức ép trong việc cắt giảm trợ cấp nông nghiệp, đáp lại EU cho
biết sẽ dỡ bỏ tất cả những trợ cấp đối với nông sản nếu các đối tượng thương mại khác
cũng có hành động tương tự. Trước những nhượng bộ của các nước đang phát triển,
EU nhất trí sẽ xoá bỏ trợ cấp cho nông nghiệp vào năm 2013. Từ đó các nước đang
phát triển có được cơ hội nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp vào EU nói chung và
Anh nói riêng dễ dàng hơn.
2.2.2. Hạn ngạch thuế quan
EU hiện có khoảng 90% hạn ngạch thuế quan bảo hộ, chiếm khoảng 38% sản
lượng nông nghiệp. Đối với hàng nông sản EU sử dụng rào cản kỹ thuật và các biện
pháp kiểm dịch là chủ yếu.

12