Tải bản đầy đủ
Hình 1.3: Trúng cá sẹo lồi.

Hình 1.3: Trúng cá sẹo lồi.

Tải bản đầy đủ

8

trứng cá. Tuy nhiên khi ngừng thuốc một thời gian các tổn thương bệnh trứng
cá sẽ hết [1], [11], [16], [17].
1.1.2.7. Trứng cá trước tuổi thiếu niên
Thể này được phân thành 3 loại sau [8], [16]:
- Trứng cá sơ sinh: xuất hiện trong 4 tuần đầu sau đẻ, bé trai hay bị hơn
bé gái do nội tiết tố progesteron ở mẹ truyền sang. Tổn thương có thể tồn tại
trong vài tuần rồi tự khỏi không để lại dấu vết gì.
- Trứng cá tuổi ấu thơ: xuất hiện từ tháng thứ hai, cũng có thể là do
trứng cá sơ sinh tồn tại dai dẳng. Trứng cá loại này có thể kéo dài thành trứng
cá tuổi thiếu niên.
- Trứng cá tuổi thiếu niên: nguyên nhân từ trứng cá trẻ em tồn tại dai
dẳng. Trong đó yếu tố gia đình đóng vai trò quan trọng.
1.1.2.8. Các loại hình trứng cá khác
- Trứng cá do mỹ phẩm: thường gặp ở phụ nữ tuổi 25-30, do dùng
các mỹ phẩm không thích hợp hoặc có thói quen sử dụng quá nhiều kem
bôi mặt, dầu làm ẩm da, kem chống nắng [1], [11], [16]. Tổn thương đồng
đều, đứng sát nhau.
- Trứng cá do yếu tố cơ học: thường gặp ở những cô gái trẻ, do bệnh
nhân có yếu tố tâm lý lo lắng hay nặn bóp, cào xước tổn thương làm cho bệnh
trứng cá nặng hơn, kết quả để lại các vết sẹo thâm và sẹo teo da [16], [18], [19].
- Trứng cá nhân loạn sừng gia đình [8], [16]: là do rối loạn di truyền
trội, với đặc điểm có nhiều nhân ở mặt, thân mình, các chi, có thể có sẩn đỏ,
mụn nước, sau khi khỏi và thành sẹo sâu như hố băng, có khi xuất hiện đến
giữa tuổi 40. Mô bệnh học thấy tiêu gai và tế bào loạn sừng ở trong thành của
các lỗ chân lông.
- Trứng cá vùng nhiệt đới: loại trứng cá này có đặc điểm là tổn thương
nang lớn, đa dạng ở ngực, lưng và mông. Bệnh xuất hiện ở vùng nhiệt đới vào

9

mùa hè khi thời tiết nóng ẩm.
1.1.3. Phân loại mức độ bệnh trứng cá
Bệnh trứng cá là một bệnh khá phổ biến ở cộng đồng, cho đến nay có
khá nhiều cách phân loại mức độ bệnh trứng cá.
Hiện nay phân loại theo Karen Mc Coy 2008 được nhiều người sử
dụng. Dựa vào số lượng và đặc điểm tổn thương [12].
- Nhẹ:

+ < 20 mụn trứng cá, hoặc
+ < 15 tổn thương viêm, hoặc
+ Tổng số tổn thương < 30

- Trung bình:

+ 20 - 100 mụn trứng cá, hoặc
+ 15 - 50 tổn thương viêm, hoặc
+ 30 - 125 tổng số tổn thương

- Nặng:

+ 05 cục/bọc, hoặc
+ Tổng số tổn thương viêm > 50, hoặc
+ Tổng số tổn thương > 125

1.2. Các yếu tố liên quan đến bệnh trứng cá
1.2.1. Tuổi: bệnh trứng cá thường gặp ở tuổi thanh thiếu niên, 90% bệnh nhân
ở lứa tuổi 13-19, sau đó bệnh giảm dần, nhưng cũng có thể bắt đầu ở tuổi 20
-30 hoặc muộn hơn thậm chí tới tuổi 50-59 [20].
1.2.2. Giới: đa số các tác giả đều thấy nữ bị trứng cá nhiều hơn nam [13],[19],
[21],[22]. Theo báo cáo Nghiên cứu khoa học của Trung tâm y tế Huyện Long
Thành, 375 em học sinh lớp 10 trường Phổ thông trung học, thì tỉ lệ nữ mắc
bệnh trứng cá là 64,53 %, nam là 35,47%. Hình thái lâm sàng ở bệnh nhân
nam nặng hơn so với bệnh nhân nữ [21].
1.2.3. Yếu tố gia đình: yếu tố gia đình có ảnh hưởng rõ rệt đến bệnh trứng cá.
Theo Phạm Văn Hiển nếu bố hoặc mẹ hoặc cả hai bị trứng cá thì 45% con trai
của họ ở tuổi đi học bị trứng cá [1].

10

1.2.4. Yếu tố thời tiết: các yếu tố khí hậu nóng ẩm, hanh khô cũng liên quan
đến bệnh trứng cá. Khi nhiệt độ môi trường lạnh da sẽ phản ứng co lại để giữ
nhiệt độ cho cơ thể. Nhiệt độ lạnh làm giảm tiết dầu của tuyến dầu nên da có
xu hướng bị khô và nứt nẻ. Điển hình nhất là những vùng chịu tác động của
mùa đông như miền Bắc và miền Trung da có xu hướng rát và nứt nẻ. Khi
nhiệt độ môi trường nóng, tuyến bã và tuyến mồ hôi tiết nhiều dầu và mồ hôi
để làm ẩm da và làm mát da, vì vậy da có xu hướng bị mụn [8], [16],[23].

11

1.2.5. Yếu tố chủng tộc: người da trắng và da vàng bị bệnh trứng cá nhiều
hơn người da đen [9], [15],[23].
1.2.6. Yếu tố nghề nghiệp: khi tiếp xúc với dầu mỡ, tiếp xúc ánh nắng
nhiều...làm tăng khả năng bị bệnh, da có tính axít tự nhiên nhẹ với độ PH
khoảng bằng 5, các chất tẩy rửa có trong dầu gội, xà phòng, nước rửa
chén… và kể cả các mỹ phẩm dưỡng ẩm chứa kiềm cũng có thể gây hại
đến cấu trúc tế bào của da, làm suy yếu hàng rào chức năng bảo vệ của lớp
da ngoài cùng, dẫn đến da bị khô, dễ nhiễm trùng và bùng phát các bệnh
ngoài da. Tiếp xúc trực tiếp với hóa chất, thuốc tẩy, thuốc nhuộm, dung
môi… rất gây hại đến làn da [11].
1.2.7. Yếu tố stress: cuộc sống hàng ngày mỗi một người đều có nhiều stress
công việc, học tập, lo lắng sẽ gây nên bệnh hoặc làm tăng nặng bệnh trứng cá.
Khi chúng ta gặp stress, tuyến thượng thận sẽ tăng tiết hocmon Androgen.
Nồng độ androgen cao hơn có thể dẫn đến mụn trứng cá nhiều hơn [16]. Điều
này có thể giải thích lý do tại sao căng thẳng dường như ảnh hưởng đến phụ
nữ nhiều hơn nam giới khi nói đến mụn trứng cá. Stress có thể do nhiều
nguyên nhân như áp lực công việc, chuyện gia đình, tình cảm, cường độ lao
động cao không được nghỉ ngơi, mất ngủ... [1], [8], [16], [23].
1.2.8. Các bệnh nội tiết: khi mắc một số bệnh nội tiết có thể bị trứng cá như
bệnh Cushing, bệnh cường giáp trạng, bệnh buồng trứng đa nang... Do tăng
sản xuất Androgen, làm cho tuyến bã tăng trưởng lớn hơn bình thường, sản
xuất quá mức lên tuyến bã gây bít lỗ nang lông và gây mụn. [8], [16].

12

1.2.9. Thuốc: một số loại thuốc có thể làm tăng bệnh trứng cá, đó là corticoid,
isoniazid, thuốc có nhóm halogen (iod, brom), androgen (testosteron),
lithium, hydantoni… Bên cạnh đó, các thuốc bôi điều trị mụn trứng cá như
benzoyl peroxide, retinoid, sulfur, acid salicylic, kháng sinh tại chỗ,
isotretinoin và các chất tẩy tế bào chết, kem trộn… đều làm ảnh hưởng đến
bệnh trứng cá. [1], [11], [13], [16], [23].
1.2.10. Một số nguyên nhân tại chỗ: vệ sinh da mặt, chà sát, nặn không đúng
phương pháp và lạm dụng mỹ phẩm làm ảnh hưởng đến bệnh trứng cá.
1.3. Chế độ ăn: Một số thức ăn có thể làm gia tăng bệnh trứng cá như sữa,
đường, cafe...
1.3.1. Sữa: là nguyên nhân hàng đầu gây nên mụn trứng cá và làm trầm trọng
mụn. Các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ mụn trứng cá cao hơn ở những người
uống nhiều sữa [23],[24],[25],[26]. Có ít nhất ba nghiên cứu quy mô lớn
báo cáo trên Tạp chí Da liễu Mỹ tìm thấy một liên kết giữa sữa uống và
mụn trứng cá[ 24],[25],[26].
Hai nghiên cứu trên 10.000 bé trai và bé gái 9-15 tuổi, đã cho thấy có
một liên quan trực tiếp giữa số lượng sữa tiêu thụ và mức độ nặng của mụn
trứng cá [24], [25].
Một nghiên cứu ở Đại học Harvard khảo sát 47.335 phụ nữ phát hiện ra
rằng những người uống nhiều sữa hơn như thanh thiếu niên có tỷ lệ bị mụn
trứng cá cao hơn [26]. Các y tá trưởng thành trong nghiên cứu này đã được
yêu cầu nhớ lại bao nhiêu sữa họ uống khi còn niên thiếu. Nghiên cứu cho
thấy rằng những người uống nhiều hơn 2 lần sữa mỗi ngày có 20% khả
năng bị mụn hơn so với những người uống ít hơn 1 bữa mỗi tuần , những
người uống nhiều hơn ba lần của bất kỳ loại sữa nào mỗi ngày là 22 % có
mụn trứng cá nặng hơn so với những người chỉ uống một hoặc một vài lần

13

ăn mỗi tuần [26].
Các nghiên cứu trên bệnh nhân mụn trứng cá đã thể hiện tương quan
giữa IGF-1 và mụn trứng cá [25],[26]. Sữa có chứa yếu tố tăng trưởng giống
Insulin (IGF-1), IGF-1 là một hormone giúp cơ thể xây dựng các mô cần
thiết. Tăng mức độ IGF-1 kết quả là tăng sản lượng dầu của da. Vì quá sản
xuất dầu trên da là một nguyên nhân gây mụn trứng cá và một số nhà khoa
học đưa ra giả thuyết rằng sữa và thành phần IGF-1 của nó, có thể dẫn đến
tăng sản lượng dầu da và dẫn đến mụn [25],[26]. IGF-1 cũng kích thích cơ thể
sản xuất các tế bào. Mụn trứng cá đôi khi bắt đầu bằng quá sản của các tế bào
da bên trong các lỗ chân lông gây ra các lỗ chân lông để trở nên tắc nghẽn. Vì
vậy sữa có thể dẫn tới tình trạng sản xuất của các tế bào da bên trong lỗ chân
lông gây nên lỗ chân lông bị tắc và trở thành giai đoạn đầu của thương tổn
mụn trứng cá. Sữa cũng chứa hormone nam (androgen) tiền thân. Để sản xuất
ra sản lượng sữa tối đa, bò được phối giống gần như ngay lập tức sau khi sinh.
Mặc dù những con bê được sớm lấy đi, con bò tiếp tục sản xuất sữa, trong
khi đang mang thai một con bê mới. Kết quả là, những con bò được đồng thời
sản xuất kích thích tố có nghĩa là để giúp bê của mình phát triển và kích thích
tố được yêu cầu để hỗ trợ mang thai. Các hormone có trong sữa của một con
bò mang thai có thể có nội tiết tố androgen, nó góp phần vào mức độ nghiêm
trọng của mụn bùng phát. Những tiền chất cần enzyme để chuyển đổi chúng
thành các kích thích tố nam thực tế trong cơ thể, và những enzyme có sẵn
trong các lỗ chân lông của da. Tương tự như IGF-1, kích thích tố nam đã
được cho là có liên quan đến tăng sản lượng dầu da và tăng sản xuất tế bào
da [25], [26].
1.3.2. Đường và các thực phẩm chứa nhiều đường
Đường không tốt cho phản ứng viêm và các nghiên cứu gần đây cũng
cho thấy rằng đường và một chế độ ăn nhiều đường gây ra mụn trứng cá

14

[22], [27].
Theo nghiên cứu của Nguyễn Qúy Thái, trường Đại học Y Dược Thái
Nguyên, cho thấy rằng trứng cá ở những bệnh nhân thường xuyên ăn đồ ngọt
chiếm 72 % [22].
Một nghiên cứu trên 29 người đàn ông khỏe mạnh được uống 1 hoặc 2
lon soda mỗi ngày trong 3 tuần, bình thuờng không uống nhiều soda. Sau 3
tuần kiểm tra protein phản ứng C của họ (CRP là một trong những chỉ số phản
ánh tốt nhất của viêm).
• 1 lon mỗi ngày, mức độ viêm nhiễm đã tăng 87%.
• 2 lon mỗi ngày, tăng 105%.
• Đây là những con số khá bất ngờ với những người không uống và cả
với những người uống 1-2 lon mỗi ngày .
- Những thức ăn được coi là có chỉ số glycemic (GI: chỉ số đường
huyết sau ăn) cao hay thấp?
+ Cao: 70-100
+ Trung bình: 56-69
+ Thấp < 55.
• Một số loại ngũ cốc: pumpernickel cốc nguyên hạt có chỉ số GI là 46
(thấp); ngũ cốc nguyên hạt Kaiser cuộn có chỉ số GI 73 (cao). Đậu và các
loại đậu: Đậu xanh: 33 (Thấp), Đậu lăng: 29 (Thấp)
• Các loại hạt, rau hầu hết là các chất phi tinh bột
• Khoai lang có chỉ số GI của 54 (thấp). Một củ khoai tây trắng nướng
có GI 85 (cao).
+ Hầu hết các loại trái cây: Táo hay lê: 36 (Thấp), Peaches: 28 (Thấp)
Do đó những loại thực phẩm cần tránh là ngũ cốc đóng hộp, bánh quy,
bánh mì trắng, gạo trắng, khoai tây trắng [28], [29].

15

Tiến sĩ Robyn N. Smith, từ Đại học RMIT ở Melbourne, Australia, đánh
giá các triệu chứng mụn trứng cá ở 43 bệnh nhân nam, từ 15 đến 25 tuổi, được
phân ngẫu nhiên vào một chế độ ăn uống tải glycemic thấp hoặc một chế độ ăn
uống bình thường. Các chế độ ăn uống can thiệp bao gồm 25 % lượng từ
protein và 45 % từ carbohydrate glycemic index thấp. Sau 3 tháng, các chế độ
ăn uống glycemic thấp có liên quan với việc giảm đáng kể mụn so với chế độ
ăn uống bình thường [30].
Các nghiên cứu cho thấy rõ ràng rằng các loại thực phẩm GI thấp làm
giảm mụn trứng cá và các hormone liên kết với nó, do vậy chỉ đơn giản là
chuyển đổi từ thức ăn có GI cao sang thực phẩm GI thấp có thể giảm mụn
trứng cá bằng 30-50%.
Vậy sử dụng quá nhiều đường, hàm lượng đường dư thừa sẽ làm tăng
cường hoạt động của tuyến bã nhờn dưới da và dễ gây nên mụn. Nếu sử dụng
thực phẩm quá nhiều đường, có thể làm da mặt trở nên nhăn nheo, nhiều tàn
nhang. Đường có tác động tới chất collagen trong cơ thể làm da chuyển màu
nâu, xuất hiện các đốm lão hóa, đồng thời các sợi collagen bị kết dính khiến
da nhăn và mất tính đàn hồi. Chocolate, kẹo hay những đồ uống chứa nhiều
đường đều không tốt cho da. Bởi vậy, thay đổi thói quen dùng nhiều đồ ngọt
có thể là cách phòng ngừa và ăn quá nhiều đường sẽ làm cho lượng đường
trong máu tăng lên, gây ra tình trạng viêm trong các tĩnh mạch của cơ thể. Nó
còn gây ra tình trạng viêm da, nổi mẩn và ngứa. Các chứng viêm có thể dẫn
đến vỡ mao mạch, mất độ đàn hồi da, và gây tổn thương tới các tế bào da. Tất
cả các biểu hiện đó đều khiến quá trình lão hóa xảy ra nhanh chóng. Vì vậy,
cần tránh ăn quá nhiều bánh kẹo ngọt và các loại thực phẩm chứa nhiều
đường nếu không sẽ là nguyên nhân gây ra một loạt vấn đề về da và trứng cá.

16

1.3.3. Chocolate: được cho là nguyên nhân làm tăng nặng mụn trứng cá [22],
[31],[32],[27].
Một nghiên cứu của trường Đại học Miami đã được công bố trên số ra
tháng 5 năm 2014 của Tạp chí Of Clinical Và thẩm mỹ da liễu. Nghiên cứu cho
thấy chocolate tăng mụn trứng cá bằng 169% [31]. Nghiên cứu được thiết kế để
trả lời những gì sẽ xảy ra sau khi tiêu thụ chocolate. Có 14 nam, tuổi từ 18 đến
35, và mỗi người tham gia sẽ được uống 1 viên thuốc trong 1 lần, tổng lại mọi
người tham gia sẽ được uống 6 viên nang. Các viên nang đã được lấp đầy hoặc
với cacao nguyên chất hoặc gelatin. Vì vậy, mỗi người sẽ nhận được 6 gelatin
viên nang hoặc 5 gelatin và 1 ca cao, và tất cả các cách cho đến 6 viên nang ca
cao. Kết quả là đo số lượng các mụn viêm. Ngày 0 là ngày những người tham
gia tiêu thụ các viên nang. Những ngày sau tiêu thụ chocolate số lượng mụn
viêm tăng vọt. So với ngày 0 số lượng mụn không viêm tăng 140% và 160%
trong các ngày 4 và 7 tương ứng. Đối với mụn viêm các con số này thậm chí
còn tăng cao hơn: 433% và 233%. Mặc dù hầu hết những người tham gia chỉ
có mụn nhẹ và không quá nhiều mụn viêm ban đầu.
Một nghiên cứu nhỏ của Hà Lan năm 2013 tìm thấy có liên quan giữa
chocolate và da dẫn đến mụn trứng cá. Trong nghiên cứu, các nhà khoa học
thu thập mẫu máu từ 7 người khỏe mạnh trước và sau khi họ ăn 1,7 lạng
chocolate, mỗi ngày, trong bốn ngày. Sau đó, các nhà nghiên cứu đã phát hiện
ra trong tế bào máu có một loại vi khuẩn là Propionibacterium, nguyên nhân
chính của việc khiến mụn trứng cá phát triển bên trong lỗ chân lông bị kín và
trở nên viêm nhiễm, và vi khuẩn Staphylococcus khiến cho mụn trứng cá trở
nên trầm trọng hơn [32]. Sau khi ăn chocolate, các tế bào máu của người tham
gia sản xuất nhiều interleukin-1b, đó là một dấu hiệu của tình trạng viêm, khi
tiếp xúc với Propionibacterium acnes. Ăn chocolate làm tăng sản xuất
interleukin 10, sau khi tiếp xúc với vi khuẩn Staphylococcus aureus.

17

Interleukin 10 bị làm giảm khả năng phòng vệ của cơ thể chống lại các vi sinh
vật, do đó dễ bị nhiễm vi khuẩn và làm nặng lên tình trạng viêm trong bệnh
trứng cá. Điều này cho thấy rằng chocolate có thể làm tăng tình trạng viêm
và tạo điều kiện thuận lợi cho các bệnh nhiễm khuẩn, làm cho mụn trứng cá
nặng hơn.
1.3.4. Cafe, chất cồn, chất kích thích
Mặc dù chưa có những nghiên cứu được công bố rộng rãi nhưng một số
báo cáo khoa học cũng như qua thực tế đều cho thấy cafe, chocolate, trà là
những món có trong thực đơn ăn uống của nhiều người, nhưng chất caffein
trong các thực phẩm, đồ uống này nếu hấp thụ quá 300mg/ngày sẽ làm da bạn
khô, xạm, nổi mụn và sớm bị lão hóa.
Tannin là một chất được tìm thấy trong cả café và trà, Tanin khiến cho
da trở nên thô, dễ bị tổn thương và nhanh lão hóa theo thời gian.
Tiêu thụ nhiều rượu, đồ uống chứa cồn rất có hại cho làn da. Chất cồn
sẽ phá hủy các vitamin A, B, C trong cơ thể, khiến cho da bị khô, các dưỡng
chất cung cấp cho da gây nên mụn trứng cá.
1.3.5. Gia vị cay nóng, mặn
Những thức ăn cay có tính hút ẩm và làm giảm độ ẩm trên da, làm da
trở nên thô ráp. Ăn quá nhiều đồ cay sẽ gây kích thích lên da, làm da nóng và
dễ nổi mụn.Vì vậy những người da khô nên hạn chế thức ăn mặn, cay và nóng
Muối chứa nhiều iốt, mức độ cao của iốt trong chế độ ăn uống có thể
gây ra mụn trứng cá, kích ứng niêm mạc của lỗ chân lông trên khuôn mặt và
làm tăng tốc độ hình thành của mụn ở những người bị mụn. Iodine được tìm
thấy trong muối ăn, sản phẩm sữa và hải sản.
1.3.6. Thực phẩm giàu chất béo
- Những thực phẩm chứa nhiều dầu mỡ không chỉ gây ra những bệnh
về tim mạch, gây béo phì mà còn ảnh hưởng nhiều đến việc trị mụn trứng cá

18

[33]. Vì vậy, để phòng bệnh trứng cá được hiệu quả hơn nên kiêng ăn những
thức ăn chứa nhiều dầu mỡ. Điển hình là các loại thức ăn chiên, rán, nướng
cũng chứa lượng chất béo khá cao và không tốt cho da. Chúng làm cho da
xấu đi và xỉn màu.
- Đồ ăn nhanh: Những loại thức ăn nhanh bao gồm bánh pizza, bánh
hamburger, khoai tây chiên, bim bim, nước ngọt… làm tăng bệnh trứng cá, ít
có giá trị về dinh dưỡng như các loại thực phẩm dinh dưỡng như trứng, cá,
sữa… Mặc dù những món ăn này thường rất ngon miệng nhưng không nên
dùng thường xuyên do chứa rất ít hoặc không chứa chất xơ và chất dinh
dưỡng, hay bất cứ vitamin nào khác. Ngoài ra chúng còn chứa rất nhiều
đường và chất béo có thể gây những tác hại cho sức khỏe và bệnh trứng cá.
Nó làm tăng đường huyết dễ gây bệnh tiểu đường do làm tăng lượng đường
trong máu nhanh và ảnh hưởng đến sự bài tiết Insulin. Ngoài ra chúng còn
làm gia tăng nguy cơ tim mạch, béo phì, căng thẳng tâm lý.
1.3.7. Một số thực phẩm tốt cho bệnh trứng cá
- Dầu cá: Hãy ăn thật nhiều cá. Các acid béo như: omega-3, omega-6
và omega-9 là những acid thiết yếu, có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát
nồng độ androgen, ngăn ngừa sự dư thừa bã nhờn ở lỗ chân lông và tuyến
nang lông, giúp giảm thiểu nguyên nhân gây ra mụn. Omega-3 có nhiều nhất
trong cá hồi, cá tuyết hay cá ngừ. Sở dinh dưỡng con người và khoa học thực
phẩm, Đại học bách khoa bang California, Pomona, California, USA cho rằng
mụn trứng cá là một bệnh hiếm gặp trong các xã hội với mức tiêu thụ cao hơn
của omega-3 (n-3) so với omega-6 (n-6) axit béo, bổ sung với n-3 có thể làm
giảm sản xuất tế bào viêm cytokine và do đó làm giảm mụn trứng cá mức độ
nghiêm trọng [34], [35].
- Vitamin: Một số loại vitamin như Vitamin B là một vi chất chống ôxy
hóa, có thể cải thiện sự lưu thông trong máu, giúp da được thông thoáng.